VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
TẬP II
CHƯƠNG XVIII
ÐẠO PHẬT TRONG ÐỜI NHO HỌC ÐỘC TÔN
Cuối thế kỷ XIV, chúng ta đã đặt vấn đề tại sao Phật Giáo bắt đầu suy đồi
vào giữa thế khỷ thứ mười bốn. Suy đồi ở đây không có nghĩa là sự giảm
thiểu số lượng tự viện và tăng sĩ. Số lượng tự viện và tăng sĩ trong thời
đại mà ta gọi là suy đồi vẫn tiếp tục lớn lên. Suy đồi đây cũng không có
nghĩa là mất ảnh hưởng trong quần chúng. Cuối đời Trần và trong suốt đời
Lê nữa, những chiếc rễ đạo Phật vẫn càng ngày càng ăn sâu thêm trong nếp
sống tình cảm và tín ngưỡng của giới đại chúng bình dân. Suy đồi ở đây có
nghĩa là đánh mất vai trò lãnh đạo trí thức, văn hóa và chính trị. Thực
vậy, trong suốt một thời gian hơn hai trăm năm, từ khi nhà Trần bắt đầu
suy đồi, đạo Phật không còn chỉ đạo được đường hướng văn hóa và chính trị
nữa. Giới trí thức hướng về đạo Nho như phương châm cứu nước và dựng nước.
Những vị cao tăng ẩn dật không liên hệ gì tới giới chính trị và văn hóa,
nhưng một phần vì họ không có sáng tác để lại và một phần vì lửa binh
thiêu đốt sử liệu cho nên ta không được biết nhiều tới họ. Về thế kỷ thứ
mười lăm, ta chỉ nghe nói tới một tác giả Phật Giáo: đó là Lương Thế Vinh,
người viết cuốn Thiền Môn Khoa Giáo và đề tựa cho sách Nam Tông
Tự Pháp Ðồ. Về thế kỷ thứ mười sáu, ta chỉ nghe nói đến thiền sư Chân
Nghiêm, người san khắc Thánh Ðăng Lục. Sau đây ta thử đi tìm những
nguyên nhân đưa đến sự suy đồi của Phật Giáo về những phương diện kể trên.
Trước hết, có lẽ ta phải nói nguyên nhân thứ nhất của sự suy đồi là sự
thịnh đạt. Thực vậy, Phật Giáo trong đời Pháp Loa đã đi tới mức thịnh
đạt có thể nói là cao nhất trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Một phong
trào khi dã lên chỗ cao nhất thì bắt đầu đi xuống. Trong sự thịnh đạt đã
ẩn chứa sự tàn lụi. Khi đạo Phật được vua chúa quý trọng thì các nhà quyền
quý và trăm họ đều hướng vào. Chùa chiền càng nhiều thì nếp sống thanh quy
càng khó có thể bảo đảm được. Tăng chúng càn đông thì càng có nhiều phần
tử bất hảo làm hại thanh danh tăng đoàn, sự kính trọng càng nhiều thì niềm
kiêu hãnh càng thêm cao. Sự cúng dường càng hậu thì sự ỷ lại càng tăng.
Suy đồi là do ở chỗ đó. chúng ta thử xét về số lượng tăng chúng. Trong
thời thịnh đạt của Phật Giáo Trúc Lâm, được xuất gia làm một phần tử trong
tăng đoàn là một vinh hạnh không nhỏ. Tăng sĩ có độ điệp của Giáo Hội, đi
đâu cũng được; nơi cư trú cho đến việc học Phật và tu Phật của người tăng
sĩ đều được nhiều tổ chức lo lắng chu toàn. Cũng vì số tăng sĩ đông quá
nên đệ nhị tổ Pháp Loa phải thực hành việc kiểm tra tự viện và là sổ tăng
tịch. Tam Tổ Thực Lục cho biết là số người xin xuất gia đông quá,
khiến cho Pháp Loa phải giới hạn việc tổ chức giới đàn; ba năm mới tổ chức
một lần và phải loại ra hàng ngàn thí sinh. Tuy vậy, hàng ngàn người mỗi
năm vẫn được xuất gia ở các chùa miền quê, tại những giới đàn nhỏ do Phật
Giáo địa phương tổ chức. Họ không có độ điệp, nhưng họ vẫn có thể cư trú
và tu hành ở các chùa quê. Giáo hội Trúc Lâm thấy người xuất gia quá đông
mà thiếu học cho nên mới in sách Giáo Khoa PhậtHọc, Giới Bản Tứ Phần
Luật và tổ chức các lớp học kinh và luật tại nhiều chùa lớn của Giáo
Hội.
Ðến cuối thế kỷ thứ mười bốn, Giáo Hội bắt đầu không còn kiểm soát được
tăng sĩ nữa. Năm 1396, vau Thuận Tông xuống chiếu thải bớt tăng sĩ dưới
năm mươi tuổi. Ta không biết rõ đây là một hành động của Thuận Tông nhằm
ngăn chặn sự lạm dụng đạo Phật hay là một quyết định của Hồ Quý Ly muốn
làm giảm tiềm lực của đạo Phật. Trước đó mấy năm, vào năm 1389, có một
cuộc bạo động do một vị tăng sĩ pháp hiệu là Thiên Nhiên, tên tục là Phạm
Sư Ôn cầm đầu chống lại chính quyền lúc bấy giờ đã nằm trọn trong tay Hồ
Quý Ly. (có thể đây là một phong trào muốn dành lại quyền bính thực thụ
cho vua Trần và chấm dứt sự hộng hành của Quý Ly. Phạm Sư Ôn đã sử dụng
được tiềm lực của Phật Giáo và quân đội, ông đã từng chiếm được thủ đô
Thăng Long. Hành động của Phạm Sư Ôn xảy ra một năm sau khi mưu kế loại
trừ Hồ Quý Ly trong triều đình bị tiết lộ và rất đông các quan trong triều
bị giết hại).
Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng năm 1429, tất cả các tăng sĩ Phật
Giáo và đạo sĩ Lão giáo đều phải đến trình diện ngày 20 tháng 10 để kiểm
xét khảo thí. Ai thi đậu thì cho làm tăng sĩ và đạo sĩ, còn ai thi hỏng
thì bắt hoàn tục. Ðây là hành động đầu tiên của chính quyền Nho giáo để
kiểm soát Phật Giáo và Lão giáo. Hành động này đã có thể loại ra một số
người lợi dụng hai đạo Phật Lão. Nhưng sự thi cử này đã được tổ chức theo
lối khảo hạch từ chương của Nho giáo, nước người hay chữ thì được công
nhận là tu hành chân chính, còn những người khác, dù mộ đạo và tâm thành
đến mấy mà không diễn tả được đức tin và kiến thức của mình bằng văn
chương thì cho là không phải tu hành chân chính. Ðiều này, khi áp dụng với
đạo Phật, nhất là Phật Giáo thiền, là một sự ép uổng.
Chúng ta hãy xét thêm về việc xây cất tự viện. Trong đời Trần, các vua làm
chùa, các quan làm chùa, dân chúng cũng thi nhau làm chùa. Còn việc đúc
tượng nữa: riêng Pháp Loa đã cho đúc tới 1.300 tượng Phật bằng đồng lớn
nhỏ. Vua Anh Tông, nhân ngày lên là Thái thượng hoàng, cho đúc tượng A Di
Ðà, Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta. Chùa Báo Ân có rất
nhiều ruộng. Năm 1308, vua Anh Tông lấy 100 mẫu ruộng của gia đình Trần
cúng vào chùa Báo Ân. Năm 1312, vua lại lấy thêm 500 mẫu ruộng của Niệm
Như Trang để cúng cho chùa. Chùa Siêu Loại cũng có nhiều ruộng. Năm 1313,
Bảo Từ hoàng thái hậu cúng vào chùa 300 mẫu ruộng nhà... Nhiều ruộng nhất
là chùa Quỳnh Lâm: chùa này có tới trên 1.000 mẫu ruộng và nuôi đến một
ngàn người để canh tác. Các chùa Báo Ân, Siêu Loại và Quỳnh Lâm là những
cơ sở lớn của Phật Giáo Trúc Lâm; cố nhiên bất động sản của những chùa ấy
là để nuôi tăng sĩ và làm Phật sự. Tuy vậy sự ủng hộ quá mức đó đã rất có
hại cho Giáo Hội. Các nho thần trong triều đình thấy sự ủng hộ quá mức đó
không khỏi không tức bực, nhất là khi thấy nước têï đoan bắt đầu xuất hiện
trong hàng tăng sĩ vì lý do tăng sĩ quá đông không kiểm soát hết được. Ý
của các nho thần như Lê Bá Quát là thay vì làm thêm chùa, đúc thêm tượng
thì nên để tiền xây văn miếu và nhà học.
Trong thời gian chiến tranh, bắt đầu từ hồi chiến tranh với Chiêm Thành,
công việc kiểm soát tự viện và tăng sĩ hoàn toàn không còn có hiệu lực
nữa. Chiến tranh, loạn lạc và sự đói kém đã khiến cho hàng ngàn người cạo
đầu vào chùa, hoặc để trốn lính, hoặc vì thất nghiệp. Thiếu người sản
xuất, thiếu người đánh giặc, năm 1381, vau Trần Phế Ðế cho đi bắt những
tăng sĩ ở miền quê, nhất là những vị không có độ điệp, sung vào quân đội
để đi đánh Chiêm Thành. Sử chép Ðại Than thiền sư được chỉ định trong việc
động viên này, và “đốc suất” việc động viên chư tăng đi đắnh giặc. Một
thiền sư, nhất là khi vị thiền sư này lại là quốc sư, chỉ huy quân lính
đánh giặc là một chuyện phi lý.
Có lẽ Ðại Than thiền sư đã được chỉ định để kiểm điểm những ai là tăng sĩ
thật, và những ai vì trốn lính hoặc vì nghèo đói mà đi xuất gia. Những
người sau này có lẽ được trao trả lại cho chính quyền để sung vào quân
đội.
Trong bất cứ thời đại chiến tranh nào, việc cạo đầu vào chùa vì trốn lính
và vì thất nghiệp cũng đã xảy ra. Nguyên nhân của cuộc chiến tranh với
Chiêm Thành là do Ðại Việt gây ra, với trách nhiệm lớn lao của Ðoàn Nhữ
Hài và Ðỗ Tứ Bình.
Cuộc chiến tranh này đi ngược lại ý muốn của Ðiều Ngự Trúc Lâm; Trúc Lâm
vì muốn hòa bình được bền chặt đã du hành sang chiêm và đã gã công chúa
Huyền Trân cho vua Chiêm. Cuộc chiến tranh đã làm hao tổn tiềm lực của Ðại
Việt, đưa nhà Trần tới chỗ suy vong. Sự ủng hộ của các vua Trần đã là một
trong những nguyên nhân cho sự thịnh đạt của Phật Giáo. Một chiến tranh
Chiêm Việt, nhà cầm quyền không đủ sức để củng cố địa vị mình, lấy khả
năng đâu mà tiếp tục ủng hộ Phật Giáo? Chiến tranh Chiêm Việt và sự rối
loạn trong triều đình nhà Trần cũng là một nguyên nhân cho sự suy đồi của
Phật Giáo Trúc Lâm vậy.
Sự ghét bỏ và chỉ trích Phật Giáo của các nho thần như Lê Quát và Trương
Hán Siêu không phải là nguyên nhân làm cho Phật Giáo suy đồi. Chính sự
chạy theo một nền văn hóa mới mà không thấy được giá trị của nền văn hóa
truyền thống dân tộc mới là nguyên nhân chính của sự suy đồi của Phật
Giáo. Nền văn hóa mới này được xây dựng trên một thái độ giáo điều và trên
một quan điểm chật hẹp về chân lý: đó là cái học Tống Nho, tự cho mình là
độc tôn và cho là sai lầm tất cả những lối nhìn khác về nhân sinh và về vũ
trụ. Từ giữa thế kỷ thứ mười ba, Trung Hoa đã không mấy bằng lòng khi thấy
Ðại Việt phát triển một nền văn hóa độc lập. Năm 1261, vua Nguyên là Hốt
Tất Liệt đã sai lễ bộ lang trung là Mạnh Giáp và viên ngoại làng là Lý Văn
Tuấn mang thư sang dụ triều đình Ðại Việt nên theo văn hóa Trung Quốc,
đừng thay đổi phong tục, lẽ nhạc và phẩm phục.
Các nho sinh được tuyển chọn vào phụng sự quốc gia thường có khuynh hướng
Bắc hóa, muốn thay đổi pháp độ cho giống Trung Quốc. Phép thi cử, phép đặt
hàm quan lại, Tết nhất v.v... dưới ảnh hưởng của các nho thần, dần dần bị
ảnh hưởng Trung Quốc. Vua Minh Tông không chịu nghe lời các nho thần Phạm
Sư Mạnh và Lê Quát mà thay đổi pháp độ. Sau khi thấy pháp độ đã bị Bắc hóa
ít nhiều, vua Nghệ Tông rất muốn trở truyền thống và pháp độ của các vị
vua đầu. Vua nói: “Triều trước dựng nước, tự có pháp độ, không theo chế độ
nhà Tống, là vì Nam Bắc đều làm chủ nước mình, không cần bắt chước theo
nhau. Vào khoảng năm Ðại Trị,
kẻ học trò mặt trắng được dùng, không hiểu ý nghĩa sâu xa của sự lập pháp,
đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục của phương Bắc cả, như về y
phục, nhạc chương không kể hết”. Và vua ra lệnh đổi pháp độ lại giống như
đời vua Minh Tông.
Trong thời gian nhà Minh đô hộ, vào đầu thế kỷ thứ mười lăm, chính sách
đồng hóa Ðại Việt với Trung Quốc được thi hành triệt để. Nhà Minh không
muốn Ðại Việt có một nền văn hóa độc lập, bởi vì độc lập văn hóa sẽ dẫn
tới độc lập chính trị. Nhà Minh bắt Ðại Việt theo phong tục lễ nghi Trung
Quốc. Tướng nhà Minh là Trương Phụ cho thu lượm hết các trước tác cũ mới
của Ðại Việt chở về Kim Lăng. Sợ những sách này còn sót lại, năm 1418 lại
cho hai nhà trí thức nhà Minh là Hạ Thanh và Hạ Thì sang Ðại Việt để thu
lượm cho kỳ hết những tác phẩm Ðại Việt. Ðại Tạng Kinh thực hiện và
ấn loát nhiều lần dưới triều Trần, mỗi lần in hàng ngàn cuốn, vậy mà ngày
nay sách Thiền Tông Chỉ Nam, Bình Ðẳng Sám Hối Khoa Văn của Trần
Thái Tông, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Ðại Hương
Hải Ấn Thi Tập, Trúc Lâm Hậu Lục và Tăng Già Toái Sự của Trúc
Lâm Ðiều Ngự và tám tác phẩm của Pháp Loa không tác phẩm nào còn lại. Thật
đáng tiếc chừng nào. Ðể thay thế cho sách Việt bị lấy mất, nhà Minh cho
chở sang nước ta những tác phẩm Trung Hoa về Nho giáo, Phật Giáo, Lão Giáo
cho người Việt học. Chính quyền đô hộ lập Tăng Cương Ty và Ðạo Kỳ Ty để lo
việc giáo dục Phật Giáo và Lão Giáo theo mẫu mực Trung Hoa.
Các nho sĩ đời Lê, đáng lý phải ý thức được ý muốn thâm độc của nhà Minh,
nhưng trong gần hai thế kỷ, một phần vi thiếu ý thức về văn hóa dân tộc,
một phần vì kỳ thị Phật Giáo, không có nho gia nào chịu khó tìm tòi gầy
dựng lại vốn cũ. Phải cho đến gần cuối thế kỷ thứ mười tám mới có Lê Quý
Ðôn bắt đầu công việc ấy.
Sự thu dụng những điều hay của các nền văn hóa khác vốn là một hành dộng
làm giàu cho nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên việc làm đó phải được thực
hiện trên căn bản vốn cũ của văn hóa dân tộc. Tinh thần cởi mở, hòa hợp và
từ bi của Phật Giáo đã duy trì hòa bình và thịnh vượng suốt trên ba trăm
năm. Những tệ đoan sinh ra trong Phật Giáo cố nhiên là phải từ bỏ, nhưng
tinh thần cởi mở, hòa hợp và từ bi ấy cần phải được bảo vệ. Các nhà nho
thời Trần mạt và thời Lê đã không thấy được điều đó.
Lương Thế Vinh, nhà trí thức cự phách nhất của thời đại Lê Thánh Tông chỉ
vì sáng tác sách Phật mà sau khi chết không được thờ cúng trong văn miếu.
Ðiều này cho ta thấy tinh thần kỳ thị tôn giáo trong thời Lê nặng đến
dường nào. Các sử gia Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ bình luận về lịch sử cũng
mang nặng tinh thần kỳ thị đó trong khi phê bình các sự kiện lịch sử đời
Trần. Phẩm bình về vua Trần Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên viết: “Vua là người
trung hiếu, nhân thứ, tôn người hiền, trọng kẻ sĩ; cha làm ra trước, con
nối về sau, cơ nghiệp của nhà Trần, cơ nghiệp của nhà Trần được bền vững.
Song ham mê đạo Tam Muội, nghiên cứu đạo Nhất Thừa, thì không phải là đạo
trị thế giỏi của đế vương”. Ngô Sĩ Liên lại viết về Trần Nhân Tông: “Hòa
nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là
vua hiền của nhà Trần. Song vui lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến siêu
thoát nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.
Ngô Thì Sĩ phê bình về kỳ thi tam giáo do vua Trần Thái Tông tổ chức viết:
“Ðạo chỉ có một thôi, ngoài đạo “Nhất Trung” ra, không có còn đạo
gì nữa. cũng như Trương Dung xem chim Hồng mà hiểu rằng: Người Việt gọi là
chim Phu, người Sở gọi là chim Ất; về người thì có người Việt, người Sở,
chứ về chim Hồng thì chỉ có một thứ chim Hồng ấy thôi. Nhà Phật tự tôn đạo
của mình lên, mới đặt ra ba thuyết ba người bạn là Mao Ðẩu, Na Ẩn và Côn
Sài; Mao Ðẩu là Ca Diếp Bồ Tát giáng sinh làm Lão Tử, Na Ẩn là Tịnh Quang
Bồ Tát giáng sinh làm Khổng Tử và Côn Sài là Hộ Minh Bồ Tát giáng sinh làm
Thích Ca. Do đó người đời tin tưởng mê hoặc đặt ra phương pháp mặc và ăn
mong được thành tiên, và ăn chay tụng kinh mong được thành Phật, mà xét
đến tông chỉ thì vẫn trống không, thì chọn những người có thể ăn chay và
tụng niệm như đạo sĩ và sa môn để làm trò gì?”
Cái học đời Lê không những bị giới hạn trong Nho giáo mà còn bị giới hạn
bởi khoa mục nữa. Lê Quý Ðôn viết về cái học dưới triều Lê Thánh Tông như
sau: “Học trò đua nhau nghiêng quá về mặt văn hay, chỉ cốt thêu chạm lới
phù câu thơ cho đẹp, hầu mong lấy bảng cao chức trọng cho sang, còn phần
khí tiết khẳng khái thì đã thấy tan tác suy nhược”.
Thi văn của đời Lê cũng chỉ chú trọng về ngâm vịnh. Nói rằng thơ văn để
chuyên chở đạo đức, kỳ thực đạo đức trong loại thi văn ấy chỉ là những
hình bóng khô cứng lặp lại mà không phải là sinh lực đạo đức phát tiết từ
nếp sống tâm linh. Phật học khi đã bị loại ra khỏi chương trình giáo khoa
và thi cử của triều đình thì lớp thanh niên chạy theo khoa bảng không còn
biết gì nữa về đạo Phật. Lời bàn của Ngô Thì Sĩ về những cuộc thi Tam Giáo
đời Trần cũng chứng tỏ ông không có kiến thức gì về đạo Phật và đạo lão.
Các nhà nho trình bày đạo Phật như là một tổng hợp mê tín và dị đoan, cho
Nho học là chính đạo, là đường lối duy nhất để dựng nước và giữ nước, nói
rằng các đạo Phật, Lão là tà đạo, rằng các đạo này không tôn trọng nhân
luân, trung hiếu, phế bỏ nguyên tắc quân, thần, phụ, tử.
Vì lý
do đó, và cũng là vì Phật học không còn giúp người leo lên thang danh vọng
nữa cho nên giới trẻ ít ai theo đòi Phật học. Ðây là một nguyên nhân khá
quan trọng cho sự suy đồi của đạo Phật trong hai thế kỷ thứ mười lăm và
mười sáu.
Ta cũng biết rằng Mật Giáo nếu không khéo duy trì có thể biến thành phù
thủy, mê tín, dị đoan. Cuối đời Lý đạo Phật đã hầu bị những biến dạng của
Mật Giáo làm cho lu mờ sắc thái. May thay, các vị lãnh đạo Phật Giáo đời
Trần đã thanh lọc được Phật Giáo và lấy ra hết những hình thái mê tín dị
đoan.
Phật học của Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Ðại Ðăng và Thánh Tông rất thuần
túy Thiền học, không bị mờ ám bởi những hình thức biến dạng của Mật Giáo.
Ðến đời Pháp Loa và Huyền Quang, dưới ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa và
Tây Tạng, Mật Giáo lại được khôi phục. Cùng với thời đại nhiễu nhương. Mật
Giáo mau chóng được biến chất và phủ lên trên sinh hoạt tín ngưỡng bình
dân một lớp màn mê tín và dị đoan. Sự phê phán Phật Giáo của các nho gia
một phần được căn cứ trên những hình thái sinh hoạt rườm ra ấy của Phật
tử.
Những nguyên do quan trọng nhất đưa tới sự suy đồi của Phật Giáo cuối trần
là do thói quen ỷ lại của Phật tử vào sự ủng hộ của vua quan và những nhà
quyền quý. Thực vậy, trong các đời Lývà Trần, các vua đều học Phật, ủng hộ
Phật Giáo và tổ chức khoa thi Tam giáo, cho nên giới trí thức mọi nơi đều
học Phật. Ðến khi sự nương tựa trên vua quan không còn nữa thì Phật Giáo
mất thăng bằng. Dựa trên sự ủng hộ của các vị nhân vương, điều đó Phật
Giáo nước nào cũng làm, nhưng ỷ lại hoàn toàn vào họ, đó là một lầm lẫn
lớn. Bất động sản đã có, sự ủng hộ của dân chúng về việc cất chùa đúc
tượng lúc nào cũng sẵn sàng, đáng lý ra Giáo Hội Trúc Lâm đã phải nhân cơ
hội ấy để thành lập những thiền viện và những Phật học viện có căn bản tự
túc. Thể chế bất tác bất thực của thanh quy Bách Trượng đã có sẵn,
tại sao các vị lãnh đạo như An Tâm Quốc Sư và Phù Vân Quốc Sư không lo tạo
dựng căn bản tự túc cho tổ chức mình? Ðã đành trong nước không được yên ổn
thì không thể duy trì được sự thịnh trị của Phật Giáo đời Pháp Loa và
Huyền Quang nhưng nếu quý vị ấy chịu khó xây dựng nền tảng học Phật tự túc
thì cũng có thể duy trì Phật Giáo trong một mức độ trung bình được. Các vị
lãnh đạo Phật Giáo ấy đáng lý phải thanh kiểm tăng đồ, kêu gọi tín đồ
ngưng bớt việc làm chùa để đem tài sức ủng hộ việc đào tạo tăng tài làm
rường cột cho đạo pháp. Dân chúng vẫn cứ đủ sức tiếp tục xây thêm chùa:
mãi cho đến năm 1464 mà vua Lê Thánh Tông còn phải ra lệnh cấm xây dựng
thêm chùa mới.
Như thế thì tiềm lực Phật Giáo trong quần chúng nào phải là thiếu thốn?
Sau khi nước nhà đã khôi phục được độc lập, các nhà lãnh đạo Phật Giáo
Trúc Lâm đã làm gì? Tại Yên Tử, nói theo An Tâm quốc sư và Phù Vân quốc
sư, còn có hai vị quốc sư khác: Vô Trước quốc sư và Quốc Nhất quốc sư..
Tước hiệu quốc sư cố nhiên phải do chính quyền ban cho. Cũng như năm 1435,
vua Lê Thái Tông đã ban hiệu Tử Y Ðại Sa Môn cho Huệ Hồng thiền sư trụ trì
chùa Báo Thiên ở kinh đô. Các vị có địa vị lãnh đạo như những vị trên đã
làm gì để duy trì mệnh mạch của Phật Giáo? Hay là chỉ thỉnh thoảng được
mời tới để làm lễ cầu mưa, làm chay và làm lễ khai quang điểm nhãn?
Thế kỷ thứ mười lăm chỉ ghi lại được một tác giả Phật Giáo: đó là trạng
nguyên Lương Thế Vinh. Lương Thế Vinh sinh năm 1441, mất vào năm nào không
rõ. Ông có tên tự là Cảnh Nghi, hiệu là Thụy Hiên, người làng Cao Hương,
huyện Thiên bản (sau đổi thành Vụ Bản) thuộc Sơn Nam (sau đổi là Nam
Ðịnh). Ông đậu trạng nguyên năm 1463, làm quan đến chức hàn lâm thị thư,
kiêm văn quán tứ lâm cục tư huấn. Và được dự làm sái phu của hội Tao Ðàn
do Lê Thánh Tông thành lập. Tất cả văn thư giao tiếp với Trung Quốc vua
đều giao cho ông soạn thảo. Người Minh thường khen ngợi tác giả các văn
hàm ngoại giao do ông viết. Lê Quý Ðôn gọi ông là bực “tài danh cao vót”.
Tương truyền phép đo ruộng thành mẫu (tương đương với 3.600 mét
vuông), sào (360 mét vuông), thước (240 mét vuông) và tấc
(2,40 mét vuông) của ta là do ông đặt ra, do đó người dân gọi phép đo
là phép đo của Trạng Lường. Ông giỏi toán học, Phật học và cả về sự khảo
cứu sân khấu, âm nhạc nữa. Ông lại có tính hay khôi hài và ưa đời sống
giản dị. Ông là tác giả những sách sau đây:
1) Ðại Thành Toán Pháp, sách toán học.
2) Hý Phường Phổ Lục, viết về lịch sử hát chèo.
3) Thiền Môn Khoa Giáo, sách về Phật học.
Ông lại còn đề tựa sách Nam Tông Tự Pháp Ðồ.
Thiền Môn Khoa Giáo
Ðây là một cuốn giáo khoa Phật học. Có người nói đây là một cuốn sách về
những nghi thức cúng tế trong Phật Giáo. Ðiều này không đúng. Chữ khoa
trong Phật học có nghĩa là phân tích văn mạch và làm cho rõ ý từng đoạn.
Văn đây là nguyên văn của kinh điển. Trong lúc Phật Giáo suy đồi, thầy
cúng nhiều hơn thầy tu, nghi thức cúng tế tràn đầy trong Phật Giáo thì
soạn thêm nghi thức cúng tế là việc thừa. Có thể vì nhận thấy sách giáo
khoa Phật Giáo soạn thảo dưới đời Trần đã mất hết cho nên Lương Thế Vinh
mới biên tập một cuốn sách giáo khoa Phật học để giúp người chưa biết Phật
học đi vào Phật Giáo một cách dễ dàng. Chắc hẳn nhà chùa lúc ấy đã in sách
Thiền Môn Khoa Giáo. Tiếc thay, tác phẩm này đã thất lạc chưa tìm
lại được.
Nam Tông Tự Pháp Ðồ
Sách
này, có bài tựa của Lương Thế Vinh có lẽ cũng đã được khắc bản lưu truyền,
và cũng đã bị thất lạc chưa tìm lại được. Ðây là một cuốn sách nói về lịch
sử truyền thừa của đạo Phật ở Việt Nam do thiền sư Thường Chiếu (mất năm
1203) viết vào cuối đời Lý.
Sách Ðăng Khoa Lục Sưu Giảng của Trần Tiến
nói rằng vì Lương Thế Vinh đã sáng tác kinh Phật cho nên không được thờ
cúng trong văn miếu thờ Khổng Tử.
Có người cho rằng tác phẩm Nôm Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, nói
là của Lê Thánh Tông, được giữ lại trong bộ Thiên Nam Dư Hạ Tập,
chính là do Lương Thế Vinh sáng tác. Vũ Phương Ðề, một người đồng thời với
Trần Tiến và cùng đậu tiến sĩ như Trần Tiến đã nói rằng: Lương Thế Vinh
“từng sáng tác Phật Kinh Thập Giới”có thể là Thập Giới Cô Hồn
Quốc Ngữ Văn. Nhưng nhận xét nội dung Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn,
thì thấy tác phẩm không thể là của Lương Thế Vinh. Trần Văn Giáp
cho rằng bài Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, không phải là của Lê
Thánh Tông: “Theo lời của Vũ Phương Ðề... Lương Thế Vinh là một vị trong
tao đàn đời Lê Thánh Tông, chỉ vì làm bài Phật Kinh Thập Giới mà đã
bị các nhà nho là bạn đồng nghiệp chê cười mãi, đến khi đã lên thiên cung,
đang giảng dạy học trò mà vẫn còn áy náy mãi. Huống chi là Lê Thánh Tông
tự gọi là tao đàn nguyên soái, khi nào lại có thể cho phép đưa một
bài văn Nôm vào trong bộ sách lớn của triều đình. Sách này lại là sách ghi
chép lại toàn điển lệ, cáo sắc v.v... Vậy đối với Thập Giới Cô Hồn Quốc
Ngữ Văn chưa nghiên cứu được sâu rộng, tôi chưa dám khẳng định là của
ai, và làm vào thời nào. Chỉ biết nó không ở đúng chỗ của nó. Nó là một
bài văn ở đâu đó, người ta đưa giả mạo vào sách Thiên Nam Dư Hạ Tập
để lừa dối độc giả”.
Không chắc quan điểm của Trần Văn Giáp là đúng. Trong Thiên Nam Dư Hạ
Tập ta thấy có chép thơ văn của hội Tao Ðàn, trong đó có Quỳnh Uyển
Cửu Ca. Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ là một tác phẩm Nôm quan trọng, sao
lại không thể đưa vào Thiên Nam Dư Hạ Tập, nhất là khi tác phẩm này
do Tao Ðàn Nguyên Soái sáng tác.
Chưa có lý do gì để ta nói rằng bài này không phải là của Lê Thánh Tông.
Bài văn tuy lấy cảm hứng ở đoạn văn thỉnh thâp loại cô hồn trong Giu Dà
Khoa Nghi, nhưng không phải là một bài văn do một người có cảm tình
nhiều với đạo Phật như Lương Thế Vinh làm. Ðó cũng không phải là một bài
văn có thể thực sự dùng vằo việc cúng cô hồn hay răn dạy cô hồn. Nó có ảnh
hưởng cảnh cáo người sống hơn là “răn dạy” người chết. Ðó là tác phẩm của
một thi sĩ nho gia mượn đề tài Phật Giáo. Bài thơ nói về cô hồn của các
tăng sĩ có những câu sau đây:
Thân tâm rửa sạch quê hà hữu
Giới hạnh vâng đòi giáo Thích Già
Nói những thiên đường cùng địa ngục
Pháp sao chẳng độ được mình ta?
Ta thấy hai câu thơ cuối cùng có tính cách đùa bởn và trên chọc, không
phải là văn nghi lễ, cũng không phải là văn”răn dạy” người chết. Trong khi
chưa có dữ kiện nào khác, ta hãy tạm cho tác phẩm này là của vua Lê Thánh
Tông, bởi khí vị văn chương phảng phất có hương vị một tác phẩm của “Tao
Ðàn Nguyên Soái”. Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn là một tác phẩm Nôm
cổ gồm có một đoạn mở đầu và mười đoạn nói về mười giới cô hồn: 1) thiền
tăng; 2) đạo sĩ; 3) quan liêu; 4) nho sĩ; 5) thiên văn địa lý; 6) lương y;
7) tướng quân; 8) hoa nương; 9) thương cổ; 10) đãng tử.
Sau đây là đoạn mở đầu:
“Riêng xét vậy: ngựa cửa sổ, kiến đầu cành, xem ngày tháng dễ qua thoan
thoát; bọt ghềnh sóng, vờ mặt nước, tựa thân thời kíp biến mờ mờ. Cổ thời
nhẫn kim; sinh thời có hóa. Ấy vậy, hồn là thần, phách là quỷ; no nên bụt,
đói nên ma. Khó miễn sang mặt há khác nhau; đói cũng rách lòng thời cũng
vậy. Kìa Khổng Tử ách nơi Trần, Thái, mặt đã rầu rầu; nọ Lương Vũ khốn
thủa Ðài Thành, dạ đà lép lép. Tín có thủa lượm tay Phiếu mẫu; bá nhiều
phen hổ mặt đồ lê. Tô Lang nằm lỗ gia ăn sương, ruột sầu rười rượi; Chu Dị
thấy hạt cơm bám mà lòng tiếc bùi ngùi. Ấy thánh hiền những đấng anh hùng;
phải cơ khát đoái chi liêm sỉ. Huống chi cô hồn bay: thác sinh trần thế,
chịu âm dương. Có quân tử, có tiểu nhân, chẳng cùng một đấng; trong phong
quang, trong nghệ nghiệp, tới ngót mười loài. Ai ai cải lấy lòng phàm;
khăn khăn cùng thời nghe giới”.
Và đây là đoạn nói về giới thiền tăng:
“Chịu giáo Thích Già, thìn lòng trì giới. Nhuộm sa vàng màu tươi bông cải;
sơn thác đỏ thức chuốc lệch bầu. Mũ tỳ lư rập tăm tắp vỏ dừa, đội khi hầu
nắng, gậy tích trượng chỉn lô nhô đốt trúc, chống thủa còn sương. Lần sổ
châu chuốt hạt kim cương; quét đôi guốc dạo non linh thứu cương; quét đôi
guốc dạo non Linh Thứu. Kinh Pháp Hoa giảng đã mưa nhộc nhộc, đượm
áo nạp đầm đầm; Phiến bối diệp tung gió thổi hiu hiu, quét lòng trần thây
thẩy. Già lẫn chiền là nơi ăn ở ; khói cùng mây ấy chốn láng giềng. Hái
củi quế tiển trà, khủng khinh một bình một bát; nằm am mây tắm suối, nửa
bụt nửa tiên. Náu từ bi kín nước tưới hoa; ngồi thiền định thiêu hương
chúc thánh... Ngỡ là ba ngàn cung Ðâu Suất được thoát thân phàm; chẳng cộc
mười hai cửa Phong Ðô gây nên mông họa. Hỡi ôi! Sống bởi chưng chưa sạch
mọi lòng nhẫn nhục; thác hco phải chịu khó diệt tân toan.
Kệ
than rằng:
Một bình bát một cà sa
Náu chốn chiền già làm cửa nhà
Kinh giã ngọc lâu hương lọn triệu
Ðịnh lui thiền viện bóng xoay hoa
Thân tâm rửa sạch quê Hà hữu
Giới hạnh vâng đòi giáo Thích già
Nói những thiên đường cùng địa ngục
Pháp sao chẳng độ được mình ta?
Những danh từ Linh Thứu, Pháp Hoa, Bối Diệp, Ðâu Suất... là những từ phổ
thông thường hay nói đến, được tác giả đem dùng cho có vẻ như một đoạn văn
thực sự nói về giới thiền tăng.
Chúng ta hãy đọc một đoạn văn nói về giới nho sĩ sau đây để so sánh, nhất
là về phương diện điển tích:
“Ham nói nho phong, toàn nghề cử tử. Cơm áo nhờ ơn cha mẹ; Ðêm ngày đọc
sách thánh hiền. Củi quế gạo châu, kham khổ nằm chung trường ốc; song
huỳnh án tuyết, dùi mài mến nghiệp thi thư. Giấy làm ruộng, bút làm cày;
hôm xem kinh, mai xem sử. Trướng Mã Dung, màn Ðổng Trọng, lạnh lùng nào
quản tuyết sương; đèn Hàn Tử, gối Ôn Công, thức nhắp chẳng lìa nhật dạ.
Lặn lội rừng Nho bể học; ngâm nga ý Khổng lòng Chu. Công đăng hỏa đã dày;
tài văn chương càng nhọn. Lẽ lưỡi nuốt chằm Vân Mộng, cách nương long dư
ngàn đội giáp binh; chép miệng luận sư Tôn Ngô, rủ tay áo n ăm bảy thiên
thao lược. Ðứng tao đàn gióng cờ nghe trống; đến tự tường ngang tích cầm
thương. Tuyết Bá Ngạn hoa Ðỗ Lăng, chẳng câu chẳng lạ; thiếp Lan Ðinh tập
Liên Xã mọi khúc mọi mầu. Thơ ngâm quỷ khốc thần sầu; khúc ngợi non cao
nước chảy. Buộc miệng nuốt châu là ngọc; day tay giở cức bắn dương. Sách
đối đan trì, văn chói chói gấm trên bà ngựa; tên bay kim bảng, tiếng sầm
sầm sấm dưới đất bằng. Ruổi dặm dài quyết chí côn bằng; giúp đời trị mừng
điềm lân phượng. Ngỡ là bể Doanh Châu, non Bồng Ðảo, mình được hóa tiên;
chẳng cốc quê Hoàng nhưỡng, núi Bắc mang, thân đà nên quỷ. Hỡi ơi! Sống
bởi chưng bàn bạc sự người; thác cho phải phiêu lưu đôi chốn.
Kệ than rằng:
Kềnh kềnh áo bả lẽn khăn sa
Trường ốc hôm mai để lệ nhà
Lạnh lẽo đường thu như án tuyết
Nắng sương mấy phút lọn hài hoa.
Tài cao hơn nữa Công Tôn sách
Sự thịnh còn truyền Nịnh Thích ca
Bút mực chẳng quên bề chí lũ
Lộc cao sao khéo lỡ người ta”.
Các bài thơ kệ đều lấy vần sa, chứng tỏ có sự họa vần ngâm vịnh;
điều này khiến sta nghĩ đến hội Tao Ðàn. Ta cũng lại nhận thấy rằng đoạn
nói về nho sĩ đầy dẫy điển cổ: Mã Dung, Ðổng Trọng, Hàn Tử, Ôn Công, Bá
Ngạn, Ðỗ Long, Lan Ðình, Liên Xã v.v... So sánh, ta thấy ngay một sự mất
thăng bằng lớn về điển tích. Về giới nho sĩ nói đến đèn Hàn Tử, gối Ôn
Công, thì về giới thiền sư đáng lý phải nói “trà Triệu Châu, bánh Vân Môn”
hay “củi Tuyết Phong, đá Thạch Ðầu”chẳng
hạn. Ðiều này càng cho ta thấy như đã nói một lần, tác giả là một nhà nho
lấy đề tài Phật học để ngâm vịnh.
Thiền sư Chân Nghiêm sống vào giữa thế kỷ thứ mười sáu, dưới thời Mạc, là
một người có liên hệ với truyền thống Trúc Lâm Yên Tử. Ông đã cho khắc in
sách Thánh Ðăng Lục và viết bài tựa cho sách ấy. Sách in năm 1550.
Thiền sư Chân Nghiêm trú trì chùa Sùng Quang xã Xuân Lan, huyện Cẩm Giàng,
Hải Dương. Bài tựa của ông không thấy có đề năm tháng. Ta biết được niên
đại khắc bản của sách là nhờ một bài tựa khác do thiền sư Tinh Quảng ở
Thềin Phong Viện núi Tử Sầm viết vào năm 1750 khi sách này được khắc bản
lần thứ ba. Cũng theo Tính Quảng thì vào năm 1705 sách được khắc bản lần
thứ hai, do thiền sư Chân Nguyên (1646-1726) chủ trương. Lần khắc bản thứ
ba năm 1750 là do một vị đệ tử của Chân Nguyên tên là Tính Lương thực
hiện. Chính Tính Lương đã nhờ thiện hữu của mình là Tính Quảng viết bài
tựa của kỳ in này. Tính Quảng viết bài tựa: “Cuối thu, chiều ngày 25 tháng
này, lúc tôi đang đọc tại Nghi Thạch Song thì thấy một thiện hữu là Tính
Lương lên núi. Tôi chào hỏi, mời ngồi. Hỏi thì Tính Lương bảo từ Tứ Kỳ Hải
Dương tới, lấy trong tay áo ra sách Trùng San Thánh Ðăng Lục hai
cuốn bằng giấy trắng vài tờ, nói rằng: “Xưa thầy tôi là Tuệ Ðăng Hòa
thượng lúc ở chùa Long Ðộng có san khắc bản lục này vào năm Ất dậu, đến
nay đã được bốn mươi sáu năm. Bản ấy thất lạc, làm cho giới Thiền học muốn
truy ra tông phái của thánh giáo khó mà ấn chứng được...” Những ấn bản
hiện có của Thánh Ðăng Lục chỉ là những ấn bản gần đây. Bản thứ
nhất có tên Thánh Ðăng Lục, do thợ khắc ở Liễu Tràng thực hiện năm
1848. Sách này có mang hàng chữ Trùng San Thánh Ðăng Lục Tinh Tuyển
Phật Ðồ Tự, nhưng không có hình ảnh nào. Bản thứ hai không biết ấn
hành năm nào, có tên là Thánh Ðăng Ngữ Lục và Việt Quốc An Tử
Sơn Trúc Lâm Chư Thánh Ðăng Ngữ Lục. Bản này có bài bạt của Thích Huệ
Tử, ở am Trí Nhàn (Hải Dương?), lại có hình vẽ.
Sách Thánh Ðăng Lụchay Thánh Ðăng Ngữ Lục chỉ chép về cuộc
đời và sự tu tập của năm vị vua đầu đời Trần, nội dung không giống sách
Tam Tổ Thực Lục chỉ nói về vua Trần Nhân Tông và hai vị tổ Pháp Loa,
Huyền Quang. Sách An Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh
bằng chữ Nôm do thiền sư Chân Nguyên cũng có tài liệu trong các sách
Khóa Hư và Tam Tổ Thực Lục. Trên nguyên tắc, sách nói về Năm
vua và Ba tổ nhưng sự thực phần lớn nội dung là để dành cho Trần Thái Tông
và Trần Nhân Tông. Như vây, Chân Nguyên, ngoài việc san khắc Thánh Ðăng
Lục bản chữ Hán, còn căn cứ vào đó để viết thành một tác phẩm Nôm. Hai
câu gần cuối sách sau đây nghe như là mục đích của tác phẩm:
Ðem Thánh Ðăng Lục giảng ra,
Khêu đèn Phật tổ sáng hòa tam thiên.
Ta không biết gì nhiều về Chân
Nghiêm thiền sư, người đã san khắc Thánh Ðăng Lục lần đầu. Thánh
Ðăn Lục có nhiều tài liệu trùng hợp với Khóa Hư Lục và Tam
Tổ Thực Lục. Tác phẩm này có thể nói được soạn lục căn cứ trên hai tác
phẩm kia. Chúng ta biết rằng Thánh Ðăng Lục được soạn thảo sớm lắm
là sau khi Minh Tông mất, bởi vì sách nói về sự tu hành của năm vị vua
Trần mà vua thứ năm là Minh Tông. Phần thứ hai của Sách Tam Tổ Thực Lục
viết về Pháp Loa, do Trung Minh biên tập và chính tay Huyền Quang khảo
đính, không thể nào được viết sau Thánh Ðăng Lục được. Mà nếu trong
thời Huyền Quang, phần hành trạng về Pháp Loa đã được hoàn tất thì chắc
chắn phần hành trạng về Trúc Lâm Ðiều Ngự cũng đã được hoàn tất. Nếu không
thì đó là một sự thiếu sót và bất kính đối với Nhân Tông, tổ thứ nhất của
thiền phái Trúc Lâm. Có người nêu lên sự kiện là trong phần hành trạng của
Trúc Lâm, sau tiêu đề “An Tử Sơn Ðệ Nhất Tổ Trúc Lâm Ðại Sĩ Thực Lục” có
câu “Án Thánh Ðăng Lục...”(căn cứ trên Thánh Ðăng Lục) để
cho sách Tam Tổ Thực Lục được viết sau Thánh Ðăng Lục. Ðiều
này không đúng, bởi vì câu “Án Thánh Ðăng Lục...” chắc chắn đã thêm
vào trong những kỳ khắc bản sau này. Duy phần thứ ba của Tam Tổ Thực
Lục, viết về cuộc đời Huyền Quang, ta không thể nói chắc rằng đã được
viết trước Thánh Ðăng Lục. Xét nội dung thì thấy rất có thể nặng
phần này đã được viết sau Thánh Ðăng Lục.
---o0o---
[ Mục
Lục tập II]
[
Chương XVII ] [
Chương XVIII ] [
Chương XIX ]
[
Chương XX ] [
Chương XXI ] [
Chương XXII ]
[
Chương XXIII ] [
Chương XXIV ] [
Chương XXV
]
---o0o---
[ Mục Lục ] [ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-02-2004