- NGHIÊN CỨU
VỀ
- THIỀN
UYỂN TẬP ANH
Tiến sĩ Lê Mạnh
Thát
Nhà
Xuất Bản TP.HC1999
--o0o--
49.THIỀN
SƯ
VẠN
HẠNH
(1)
Ba
học
là
giới,
định,
tuệ
của
giáo
dục
Phật
giáo.
Trăm
luận
chỉ
các
tác
phẩm
của
Bách
gia
chư
tử
trong
nền
giáo
dục
truyền
thống
của
nước
ta.
(2)
Tổng
trì
tam
ta
địa,
cũng
gọi
đà
la
ni
tam
muội,
Phạn:
Dhàrani-samàdhi,
một
lối
thiền
định
thực
hiện
bằng
cách
đọc
các
khẩu
quyết
Phạn
ngữ.
Kinh
Ðại
phẩm
bát
nhã
viết:
"Sao
gọi
là
đà
la
ni
tam
muội?
Vì
trụ
trong
tam
muội
đó
thì
có
thể
giữ
hết
những
tam
muội,
nên
gọi
đà
la
ni
tam
muội".
Luận
Ðại
trí
độ
viết:
"Ðà
la
ni
tam
muội
vì
được
sức
của
tam
muội
đó
thì
các
đà
la
ni
văn
và
trì
đều
tự
nhiên
mà
được".
Xem
Ðại
trí
độ
luận
40
tờ
398b24
và
401c27-28.
(3)
Ðại
Việt
sử
lược
1
tờ
19a8-9:
Thiên
phúc
năm
thứ
nhất,
mùa
xuân
tháng
ba,
quân
Hầu
Nhân
Bảo
đến
Lãng
sơn,
Trần
Khâm
Tộ
đến
Tây
kết,
Lưu
Trừng
đến
Bạch
đằng
giang".
Toàn
thư
B1
tờ
14a1-3:
"Thiên
Phúc
năm
thứ
2
mùa
xuân
tháng
3,
Hầu
Nhân
Bảo,
Tôn
Toàn
Hưng
đến
Lạng
Sơn,
Trần
Khâm
Tộ
đến
Tây
kết,
Lưu
Trừng
đến
Bạch
Ðằng
Giang".
(4)
Ðại
Việt
sử
lược
1
tờ
19b1-3:
"Thiên
phúc
năm
thứ
2,
vua
sai
Từ
Mục
v.v…đi
sứ
Chiêm
thành,
bị
Chiêm
thành
bắt.
Vua
nổi
giận,
tự
làm
tướng
đem
quân
đi
đánh,
chém
đầu
vua
Chiêm
là
Bề
Mi
Thuế
tại
trận,
xẻo
tai
không
thể
kể
xiết,
bắt
kỹ
nữ
trong
cung
Chiêm
vài
trăm
người,
dời
trọng
khí
của
Chiêm,
thu
lấy
vàng
bạc
và
đồ
quý
tới
số
muôn,
phá
tan
thành
trì
Chiêm".
Toàn
thư
B1
tờ
16a2-6:
"Thiên
Phúc
năm
thứ
3,
vua
thân
chinh
Chiêm
thành,
thắng.
Trước
đó,
vua
sai
Từ
Mục
và
Ngô
Tử
Canh
đi
sứ
Chiêm
thành,
bị
Chiêm
thành
bắt,
vua
nổi
giận,
đóng
chiến
thuyền,
đúc
khí
giới,
tự
làm
tướng
đem
quân
đi
đánh,
chém
đầu
Bề
Mi
Thuế
tại
trận,
Chiêm
thành
đại
bại,
bắt
giết
sĩ
tốt
không
thể
kể
xiết,
bắt
kỹ
nữ
trong
cung
Chiêm
tranm
người
và
thầy
tu
Ấn
độ
một
người,
dời
trọng
khí
của
Chiêm,
thu
lấy
vàng
bạc
và
đồ
quý
tới
số
muôn,
phá
tan
thành
trì
Chiêm".
(5)
Nguyên
văn:
Thổ
mộc
tương
sinh
ngân
bạn
kim.
Ðọc
theo
lối
chiết
tự
thì
Thổ
mộc
là
chữ
Ðỗ.
Nguyên
câu
này
chỉ
Ðỗ
Ngân.
Ðỗ
Ngân
này
là
ai,
không
thấy
sách
sử
nào
nói
tới
cả.
(6)
Nguyên
văn:
Ðương
thời
ngụ
khẩu
thu
tâm
tuyệt.
Ðọc
theo
lối
chiết
tự,
ngũ
với
khẩu
là
chữ
ngô
là
"ta",
thu
với
tâm
là
chữ
sầu.
Bồ
Ðề
Ðạt
Ma
tiên
đoán
cho
Thái
thú
Dương
Huyền
về
sự
mình
bị
đầu
độc
sau
này
với
những
câu:
Giang
tra
phần
ngọc
lãng
Quản
cự
khai
kim
toả
Ngũ
khẩu
tương
cọng
thành
Cửu
thập
vô
bỉ
ngã.
Xem
Truyền
đăng
lục
6
tờ
220a.
(7)
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
2b5-7:
"Nguyên
trước
đó
chùa
Ứng
thiên
làng
Cổ
pháp
sinh
một
con
chó
trắng,
trên
lưng
mọc
lông
đen
thành
chữ
"Thiên
tử",
đến
lúc
ấy
vua
sinh
nhằm
năm
Giáp
tuất".
Toàn
thư
B2
tờ
1b
6-2a1:
"Nguyên
trước
đó
viện
Cảm
tuyển
chùa
Ứng
thiên
tâm,
châu
Cổ
pháp
sinh
một
con
chó
trắng
có
lông
đen
viền
thành
hai
chữ
"Thiên
tử".
Người
biết
việc
nói
rằng
bởi
đó
là
cái
điềm
của
người
sinh
nhằm
năm
Tuất.
Ðến
lúc
ấy
Vua
sinh
nhằm
năm
Giáp
tuất
mà
làm
Thiên
tử,
nên
điều
ấy
quả
đúng".
Việt
sử
tiêu
án
1
tờ
77a9-b1
nói
chuyện
này
xảy
ra
tại
chùa
Thiên
tâm.
(8)
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
1a9-b3:
"Trong
làng
vua
ở
có
một
cây
bông
gạo
bị
sét
đánh,
dấu
để
lại
thành
văn
rằng:
Gốc
cây
nhiều
công
Cơn
lá
xanh
xanh
Hòa
đao
mộc
rụng
Thập
bát
tử
thành
Cung
chấn
trời
hiện
Cung
đoài
sao
chênh
Trong
sáu
bảy
ngày
Thiên
hạ
thái
bình
Vạn
Hạnh
bèn
gọi
vua
bảo:
"Tôi
gần
đây
thấy
sự
lạ
của
sấm,
biết
nhà
Lê
đương
mất,
nha
絹ễn
đương
lên.
Họ
Nguyễn
không
ai
là
có
sự
nhân
từ,
khoan
thứ
rất
được
lòng
người
như
ông.
Tôi
tuổi
70
hơn
rồi,
chỉ
sợ
không
kịp
thay
sự
thịnh
trị
mà
lấy
làm
hận".
Toàn
thư
,
tờ
31a7-32a5:
"Trước
đó,
cây
bông
gạo
làng
Diên
uẩn,
châu
Cổ
pháp
bị
sét
đánh.
Người
trong
làng
thấy
rõ
dấu
sét
có
văn
rằng:
Gốc
cây
thăm
thẳm
Cơn
lá
xanh
xanh
Hoà
đao
mộc
rụng
Thập
bát
tử
thành
Ðông
a
vào
đất
Cây
khác
tái
sanh
Cung
chấn
trời
hiện
Cung
đoài
sao
chênh
Khoảng
sáu
bảy
năm
Thiên
hạ
thái
bình.
Thầy
Vạn
Hạnh
riêng
tự
mình
bình
rằng:
"Gốc
cây
thăm
thẳm,
gốc
là
cái
cội
thì
giống
như
vua
vậy.
Diểu
là
âm
đồng
với
chữ
yểu,
nên
viết
chữ
yểu.
Một
biểu
thanh
thanh,
biểu
là
ngọn
mà
ngọn
thì
giống
như
bề
tôi,
còn
thanh
và
thiên,
âm
chúng
gần
nhau,
nên
viết
chữ
thiên
có
nghĩa
là
thịnh
vượng.
Hòa
đao
mộc
là
chữ
Lê,
Thập
bát
tử
là
chữ
Lý.
Ðông
a
là
họ
Trần.
Vào
đất
là
người
phương
bắc
vào
ăn
cướp.
Cây
khác
tái
sinh
là
họ
Lê
lại
sinh
ra.
Cung
chấn
trời
hiện,
chấn
chỉ
phương
đông,
hiện
là
ra,
trời
tức
là
thiên
tử
vậy.
Cung
đoài
sao
chênh,
đoài
chỉ
phương
tây,
chênh
cũng
như
mất
đi,
sao
thì
giống
như
dân
thường.
Cả
bài
trên
muốn
nói
vua
yểu,
tôi
thịnh,
Lê
rụng,
Lý
thành,
phương
đông
Thiên
tử
ra
đời,
phương
tây
thứ
dân
chìm
mất
đi,
trải
khoảng
sáu
bảy
năm
thiên
hạ
thái
bình
vậy".
Bèn
gọi
Lý
Công
Uẩn
nói
rằng:
"Gần
đây,
tôi
thấy
sự
lạ
của
phù
sấm,
biết
họ
Lý
tráng
thịnh
thì
việc
dấy
nghiệp
là
một
chắc
chắn
vậy.
Nay
xem
thiên
hạ
họ
Lý
rất
nhiều
nhưng
không
có
ai
khoan
từ
nhân
thứ,
rất
được
lòng
người
mà
tay
nắm
binh
quyền
như
Thân
vệ.
Làm
tôn
chủ
muôn
dân,
mà
bỏ
Thân
vệ
thì
ai
sẽ
cáng
đáng
cho.
Tôi
nay
tuổi
hơn
70,
mong
sao
cho
đừng
mau
chết,
để
thấy
được
sự
đức
hóa
ra
sao
thì
thật
là
sự
may
ngàn
năm
một
lần
vậy".
Việt
sử
tiêu
án
1
tờ
75a-76b
cũng
chép
sự
việc
và
bài
thơ
như
Toàn
thư
nhưng
rút
ngắn
lời
bàn
của
Vạn
Hạnh
lại
thành:
"Gần
đây,
tôi
xét
phù
sấm,
thì
họ
Lý
đang
lên,
mà
không
có
ai
như
Thân
vệ
cả".
Song
lại
thêm
một
lời
bàn
khá
dài
nói:
"Xét
một
cơn
sét
đánh
thành
văn
chỉ
bốn
chục
chữ,
mà
trong
khoảng
1100
năm,
sự
phế
hưng
của
các
đời,
tên
họ
đều
bao
gồm
gần
hết.
Trời
có
nói
gì
đâu.
Ðó
là
bởi
Vạn
Hạnh
giỏi
việc
xét
bói,
nhân
sét
đánh
cây
bông
gạo,
thác
văn
vào
đó
để
tỏ
ra
thần
dị,
Lý
Nhân
Tôn
tặng
thơ
nói:
Thật
hiệp
sấm
trời
xưa
Quê
hương
tên
Cổ
pháp
Chống
gậy
trấn
kinh
vua
Xem
mấy
câu
bình
văn
trên
cây
ở
trước,
biện
bạch
rõ
ràng
không
sai
việc.
Hạnh
bình
luận
cả
bài
cho
tới
câu"Dị
mộc
tái
sinh"
thì
sự
biện
luận
đó
rõ
ràng
không
sai.
Từ
câu
"Chấn
cung…"
trở
xuống,
lời
văn
hàm
hồ,
riêng
có
ý
sâu
huyền
diệu,
không
chịu
tỏ
hết.
Gần
đây,
có
kẻ
hiếu
sự,
riêng
đem
ý
mình
suy
diễn,
mê
hoặc
trí
người,
đến
nỗi
thứ
gian
phu
dối
toan
làm
việc
phi
phận,
binh
loạn
không
thôi.
Cái
hại
của
sấm
cũng
thật
mãnh
liệt
thay".
(9)
Mộ
Hiển
Khánh
đại
vương
tức
mộ
của
cha
Lý
Công
Uẩn.
Khi
lên
ngôi,
Uẩn
truy
phong
cho
cha
mình
là
Hiển
Khánh
Vương.
Xem
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
2a1
và
Toàn
thư
B1
tờ
34a6.
Về
những
tiếng
đọc
tụng
xung
quanh
mộ
này,
xem
nguyên
chú
ở
cuối
truyện
đây.
(10)
Chùa
Song
lâm
đây
tức
là
chùa
Song
lâm,
làng
Phù
ninh
phủ
Thiên
đức,
nơi
ở
chính
thức
của
Thiền
ông,
thầy
của
Vạn
Hạnh.
(11)
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
2b3
nói:
"Tháng
11
nguyên
niên
(1009)
vua
lên
ngôi…lấy
anh
vua
Mỗ
làm
Vũ
Uy
Vương,
em
vua
là
Dực
Thánh
Vương".
Toàn
thư
B1
tờ
34b5-6
viết:
"…lấy
Hoàng
huynh
làm
Vũ
Uy
Vương,
Hoàng
thúc
làm
Vũ
Ðạo
Vương,
con
của
Vũ
Uy
Vương
là
Trưng
Hiển
làm
Thái
úy,
con
của
Dực
Thánh
Vương
là
Phó
làm
Tổng
quản".
Cương
mục
chính
biên
2
tờ
8a4-7
chép
lại
Toàn
thư
thấy
rõ
Dực
Thánh
Vương
không
biết
là
ai,
mà
con
cũng
được
phong
làm
Tổng
quản,
nên
đã
chua
thêm
là:
"Thiên
nam
trung
nghĩa
lục
của
Phạm
Phi
Hiển
nói
Dực
Thánh
Vương
là
con
thứ
của
Thái
Tổ".
Nhưng
rõ
ràng
theo
Ðại
Việt
sử
lược
thì
Dực
Thánh
Vương
là
em
của
Lý
Công
Uẩn.
Cứ
vào
truyện
Vạn
Hạnh
đây
thì
Lý
Công
Uẩn
còn
có
chú
và
bác,
và
đều
được
phong
vương.
Bằng
vào
những
dẫn
chứng
trên,
thì
chỉ
Toàn
thư
và
những
sử
chép
theo
nó
mới
ghi
phong
hiệu
của
người
chú
của
Uẩn,
đây
là
Vũ
Ðạo
Vương,
còn
trong
đây
thì
không
thấy
nói.
Ðoạn
sử
khoảng
này
của
nhà
Lý
có
nhiều
ám
muội
chưa
rõ.
(12)
Tật
Lê
và
hạt
Lý
là
ý
muốn
chỉ
họ
Lê
và
họ
Lý.
(13)
Cả
hai
bản
đời
Lê
lẫn
bản
đời
Nguyễn
đều
ghi
Vạn
Hạnh
mất
vào
ngày
15
tháng
5
năm
Thiên
Ứng
thứ
9,
tức
năm
1002.
Nhưng
đây
dĩ
nhiên
là
một
khắc
sai,
bởi
vì
với
một
cuộc
đời
như
vừa
đọc,
Vạn
Hạnh
tất
không
thể
chết,
trước
khi
Lý
Công
Uẩn
lên
ngôi
vào
năm
1010
được.
Do
thế,
một
số
tác
giả
như
Trần
Văn
Giáp
(Le
Bouddhisme
en
Annam,
BEFEO
XXXII
(1932)
239
và
Lược
truyện
các
tác
giả
Việt
Nam,
nhà
xuất
bản
Sử
học,
Hà
nội,
1962,
tr.
183)
đã
sửa
Ứng
Thiên
thứ
9
thành
năm
Thuận
Thiên
thứ
9
và
nói
Vạn
Hạnh
mất
vào
năm
1018.
Song
sửa
như
thế
là
chưa
chính
xác
cho
lắm,
bởi
vì
năm
mất
của
Vạn
Hạnh
các
bộ
sử
khác
ghi
rất
kỹ
và
nó
nhất
định
không
phải
năm
Thuận
Thiên
thứ
9.
Trái
lại,
cứ
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
4a7
và
Toàn
thư
B2
tờ
10a3-4
thì
"năm
Thuận
Thiên
thứ
16
thầy
Vạn
Hạnh
hóa
thân".
Như
vậy,
Vạn
Hạnh
mất
năm
1025,
chứ
không
phải
năm
1018,
như
từ
trước
tới
nay
thường
chép.
Từ
đó,
Ứng
Thiên
cửu
niên
là
một
chép
sai
của
Thuận
Thiên
thập
lục
niên.
Chữ
thuận
bị
đoán
lộn
thành
chữ
ứng,
còn
chữ
thập
lục
bị
đọc
rút
thành
cửu.
(14)
Việt
sử
tiêu
án
1
tờ
83a7-b1,
nhân
ghi
"thầy
Vạn
Hạnh
chết",
viết:
"Vạn
Hạnh
không
bệnh
mà
chết.
Người
bây
giờ
gọi
đó
là
hóa
thân.
Vạn
Hạnh
thường
có
thơ.
Thân
như
điện
ảnh
hữu
hoàn
vô
Vạn
mộc
xuân
vinh
thu
hựu
khô
Tùy
vận
thạnh
suy
hưu
bố
ủy
Thịnh
suy
như
lộ
thảo
đầu
phô.
Vua
thân
hành
đến
điếu
viếng,
lập
đàn
siêu
độ".
(Những
chữ
in
đậm
là
khác
với
bản
ở
đây).
(15)
Kiến
văn
tiểu
lục
4
tờ
13a4-5
và
Việt
sử
tiêu
án
1
tờ
76b2-3
chép
nguyên
bài
thơ.
Tam
tế,
mà
đây
dịch
là
"ba
cõi",
tức
chỉ
cho
quá
khứ,
hiện
tại
và
vị
lai.
Xem
Kiến
văn
tiểu
lục
9
tờ
12a6-7
về
chữ
Tam
tế.
Vạn
Hạnh
dung
tam
tế,
có
nghĩa
Vạn
Hạnh
thấu
suốt
tất
cả
sự
việc
của
quá
khứ,
thời
hiện
tại
và
thời
vị
lai.
(16)
Nguyên
văn:
"Khánh
vạn
tường
nham
dự
Quế
Phong
Dương
trường
long
thế
dực
tương
tùng
Ðông
liệt
triều
tôn
thế
tam
bách
Lục
tuất
(thiếu
hai
chữ)
đối
thiên
bồng".
Khánh
vạn,
Tường
nham
và
Quế
phong,
chúng
tôi
nghi
là
ba
tên
đất.
Ðại
Việt
lịch
triều
đăng
khoa
lục
2
có
ghi
một
làng
tên
Khánh
duệ
thuộc
huyện
Tiên
du,
quê
hương
của
Nguyễn
Ðán,
tiến
sĩ
khoa
1580.
Khánh
vạn
từ
đó
rất
có
thể
là
Khánh
duệ
đấy,
nhưng
chúng
tôi
chưa
có
bằng
chứng
gì
đích
xác.
Còn
Tường
nham
và
Quế
phong
thì
chưa
thể
khảo
được.
Ðông
liệt
và
Triều
tôn,
chúng
tôi
cũng
nghĩ
là
những
tên
đất,
song
chưa
tìm
thấy
tài
liệu
chứng
thực.
Trong
một
cuộc
nói
chuyện
riêng,
cụ
Nguyễn
Ðăng
Thục,
quê
Bắc
ninh,
bảo
tỉnh
Bắc
ninh
hiện
có
làng
tên
Ðông
liệt.
Với
những
tên
đất
như
thế,
thì
rõ
ràng
đây
là
một
bài
thơ
nói
về
mạch
đất
của
các
nhà
địa
lý
thời
xưa
với
những
từ
địa
lý
rõ
rệt
như
dương
trường
(chúng
tôi
nghi
chữ
dương,
đúng
ra
phải
đọc
là
ngưu)
long
thể.
Thực
thể,
nếu
câu
thứ
hai
đọc
"Ngưu
trường
long
thể
dực
tương
tùng",
thì
ý
nghĩa
địa
lý
của
bài
thơ
trên
khá
phù
hợp
với
quẻ
tả
huyệt
thứ
6
trong
Tả
Ao
chân
truyền
địa
lý
tờ
7b:
Ðiều
điều
phát
tổ
khỉ
căn
nguyên
Uyển
chuyển
hồi
hoàn
mạch
khúc
huyền.
Hữu
kiên
đáo
tả
nhi
chuyển
hữu
Bàn
vu
cục
thế
tợ
ngưu
niên
Ðương
khai
nội
ngoại
giai
kỳ
huyệt
Sơn
chiếu
quần
tinh
phúc
vĩnh
miên
Xa
xa
phát
tổ
nỗi
căn
nguyên
Uyển
chuyển
quanh
co
mạch
khúc
huyền
Hữu
kiên
đến
trái
mà
rẽ
phải
Nằm
vào
thế
cục
trâu
lim
dim
Trong
ngoài
nên
mở
đều
huyệt
thiệt
Núi
soi
sao
lắm
phước
liên
miên.
Qua
bài
thơ
này,
ta
có
thể
thấy
bài
thơ
trên
là
một
thứ
bói
quẻ
đất.
Việt
sử
tiêu
án
1
tờ
128b1,
trong
khi
bình
luận
về
việc
nhà
Lý
mất
ngôi,có
dẫn
viết:
"Lại
Cổ
pháp
địa
quyết
chép:
Ngôi
truyền
tám
lá,
lá
rụng
âm
sinh.
Thì
sự
hưng
vong
cũng
có
do
đất".
Như
thế,
cái
gọi
là
Cổ
pháp
địa
quyết
đấy
phải
chăng
gồm
những
bài
thơ
loại
thơ
mộ
Hiển
Khánh
đại
vương
ở
truyện
Vạn
Hạnh
đây?
Phải
chăng
Cổ
pháp
địa
quyết
là
một
tác
phẩm
của
Vạn
Hạnh?
Và
bốn
bài
thơ
ở
mộ
Hiển
Khánh
đại
vương
đây
là
rút
ra
từ
nó?
Chúng
tôi
nghĩ
đấy
là
những
có
thể.
Ðiều
chắc
chắn
là
bài
thơ
trên
cùng
với
ba
bài
thơ
tiếp
theo
là
những
bài
địa
quyết
do
Vạn
Hạnh
sáng
tác.
(17)
Nguyên
văn:
Chính
nam
phù
ninh
hộ
trạch
thần
Vinh
thế
nam
nữ
đa
xuất
nhân
Thiên
đức
phú
quý
mãn
ốc
thành
Bát
vạn
hội
nữ
thường
xuất
quân.
Phù
ninh
như
đã
thấy
là
một
tên
làng.
Truyện
Thường
Chiếu
tờ
37b7
nói
Chiếu
"người
làng
Phù
ninh".
Rồi
đến
truyện
của
La
Quý
tờ
48a7
và
truyện
Thiền
Ông
tờ
51a8
thì
chúng
xác
định
rõ
ràng
là
làng
Phù
ninh
đấy
là
"làng
Phù
ninh,
phủ
Thiên
đức".
Ðại
Việt
lịch
triều
đăng
khoa
lục
cũng
ghi
một
làng
tên
Phù
ninh
thuộc
hạt
Ðông
ngạn
là
quê
hương
hay
trú
quán
của
một
số
người
đậu
trạng
tiến
sĩ
dưới
thời
Lê
như
Phạm
Ngữ
khoa
1463,
Nguyễn
Khắc
Trung
khoa
1523,
Lê
Diêu
khoa
1557,
Ðào
Quốc
Hiển
khoa
1691
v.v…Ngày
nay,
tỉnh
Bắc
ninh
hiện
đang
có
một
làng
mang
tên
Phù
ninh
và
ở
đúng
chính
phía
nam
của
làng
Ðình
bảng,
tức
đất
Cổ
pháp
xưa.
Vĩnh
thế,
chúng
tôi
nghi
cũng
là
một
tên
làng.
Ðại
Việt
lịch
triều
đăng
khoa
lục
có
ghi
một
làng
tên
Vĩnh
thế
thuộc
hạt
Siêu
loại,
quê
hương
của
Nguyễn
văn
Hiển
tiến
sĩ
khoa
1502,
Nguyễn
Bỉnh
Khuê
tiến
sĩ
khoa
1526,
Nguyễn
Ðịch
Khanh
khoa
1532,
Nguyễn
Thừa
Hựu
khoa
1535,
Nguyễn
Ðình
khoa1580
v.v…Vĩnh
thế,
nghi
là
Vinh
thế
đổi
ra,
nhưng
chúng
tôi
hiện
chưa
có
bằng
chứng
gì
rõ
rệt.
Làng
này
rất
có
thể
là
quê
hương
của
Ðào
Cam
Mộc
hay
một
trong
những
khai
quốc
công
thần
của
triều
Lý
Thế
Tổ.
Thiên
đức
trong
câu
thứ
ba
và
Bát
vạn
trong
câu
thứ
4
thì
cả
bản
in
đời
Lê
lẫn
bản
đời
Nguyễn
đều
viết
là
Ðại
đức
và
Bát
phương.
Chúng
tôi
sửa
Ðại
đức
thành
Thiên
đức,
không
những
bởi
vì
hai
bài
thơ
tiếp
theo
đến
câu
thứ
3
thì
bắt
đầu
bằng
chữ
Thiên
đức,
mà
còn
vì
sau
đó
vài
dòng
thì
có
câu
"đổi
Cổ
pháp
là
Ðại
đức",
nhưng
ai
cũng
biết
rằng
Lý
Công
Uẩn
đổi
Cổ
pháp
làm
Thiên
đức,
chứ
không
phải
Ðại
đức.
Ðại
đức
trong
câu
ấy
và
Ðại
đức
trong
bài
thơ
trên
do
thế
là
những
chép
sai
của
Thiên
đức
như
vậy
rõ
ràng
là
một
tên
đất,
và
nó
cũng
rõ
ràng
"phú
quý
mãn
ốc
thành",
như
bài
thơ
nói,
với
sự
lên
ngôi
của
Lý
Công
Uẩn.
Và
chữ
bát
vạn,
mà
những
bản
in
đời
Lê
và
đời
Nguyễn
đều
viết
là
Bát
phương,
chúng
tôi
sửa
chữ
phương
thành
chữ
vạn,
không
những
vì
chữ
vạn
viết
tắt
rất
dễ
biến
thành
chữ
phương,
nếu
người
ta
bất
cẩn
thêm
trên
đầu
nó
một
chấm,
mà
còn
vì
tại
huyện
Siêu
loại
trước
đây,
tức
huyện
Thuận
thành
ngày
nay,
có
núi
tên
Bát
vạn.
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Bắc
ninh,
mục
Sơn
xuyên
nói:
"Núi
Bát
vạn
ở
phía
Ðông
nam
huyện
Tiên
du
hai
dặm,
tương
truyền
Cao
Biền
đời
Ðường
dựng
tháp
Bát
vạn,
để
yểm
nó
nên
có
tên
đó".
Chúng
tôi
hiện
chưa
biết
có
phải
Lê
Thánh
Tôn
đi
cầu
tự
tại
núi
Bát
vạn
này,
mà
gặp
Ỷ
Lan
trên
đường
đi
không"
Nhưng
với
văn
ý
của
câu
thứ
4
thì
đó
là
một
có
thể.
Dẫ堳ao
chăng
nữa,
chúng
tôi
nghĩ
chữ
bát
vạn
hợp
nghĩa
hơn
chữ
bát
phương.
(18)
Nguyên
văn:
Tây
vọng
viễn
vọng
khán
Thiên
Trụ
Dao
thế
nam
nữ
thượng
tướng
thủ
Thiên
đức
phú
quý
dự
viễn
thế
Quân
vương
thọ
mạng
cửu
thập
cửu.
Thiên
trụ
là
một
từ
của
khoa
địa
lý
bói
huyệt
đất.
Sự
liên
hệ
của
Thiên
trụ
với
việc
sống
lâu,
mà
bài
thơ
đây
nói
đến,
Thiên
địa
tạo
sơn
thủy
phú
trong
Tả
Ao
chân
truyện
địa
lý
tờ
27a10-b1
nói:
"Càn
sơn
cao
như
Thiên
trụ,
thọ
tỷ
Thương
nham
Tốn
thủy
tụ
tợ
uyên
minh,
lộc
hữu
đỉnh
nãi.
(Núi
càn
cao
như
Thiên
Trụ,
sống
lâu
như
núi
Thương
Sông
Tốn
họp
tợ
uyên
minh,
lộc
vua
có
đỉnh
chung)
Trong
một
cuộc
nói
chuyện
riêng,
cụ
Nguyễn
Ðăng
Thục
nói
núi
Tiên
du
có
một
tên
Thiên
trụ.
Như
thế,
một
mặt
Thiên
trụ
chỉ
cho
sự
sống
lâu,
và
mặt
khác
nó
lại
chỉ
một
ngọn
núi
của
Tiên
du.
Chỉ
có
vấn
đề
là,
nếu
Thiên
trụ
quả
ở
núi
Tiên
du,
mà
trên
thực
tế
núi
Tiên
du
ở
về
phía
đông
của
làng
Ðình
bảng
hiện
nay,
thì
làm
sao
đứng
ở
Ðình
bảng
ngó
về
phía
tây,
ta
lại
thấy
được
núi
Tiên
du?
Phải
chăng
Thiên
trụ
muốn
chỉ
một
ngọn
khác
ở
phía
tây
làng
Ðình
bảng,
nơi
chúng
tôi
giả
thiết
có
mộ
của
Hiển
Khánh
đại
vương?
Chúng
tôi
nghĩ,
Thiên
trụ
có
thể
chỉ
là
một
gò
đất
hay
ngọn
núi
ở
phía
tây,
nhưng
hiện
chưa
có
những
bằng
chứng
rõ
rệt.
Cao
thế
và
Viễn
thế
trong
hai
câu
2
và
3
chắc
chỉ
những
tên
đất,
những
làng
xóm,
song
chúng
tôi
chưa
truy
cứu
được.
Thượng
tướng
là
tên
ngôi
sao
thứ
nhất
trong
cung
Văn
xương
thuộc
Trung
cung
thiên
văn
học
cổ
đại
Trung
Quốc.
Xem
chẳng
hạn
Sử
kyⷠtờ
3a13.
Nó
nhằm
chỉ
uy
vũ.
(19)
Nguyên
văn:
Chính
bắc
Phù
cầm
đương
bạch
hổ
An
lạc
nam
nữ
thường
vô
khổ
Ðại
đại
Thiên
đức
trường
thọ
lạc
Thế
thế
quân
vương
kỳ
Lục
tổ.
Phù
cầm
là
một
tên
làng,
mà
chính
Thiền
uyển
tập
anh
xác
nhận
trong
truyện
Minh
Trí
và
truyện
Nguyện
Học,
khi
nó
bảo
cả
hai
người
này
đều
quê
quán
làng
Phù
cầm.
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Bắc
ninh,
mục
Tân
lương,
cũng
có
ghi
một
bến
đò
tên
Phù
cầm
trong
17
bến
đò
của
sông
Nguyệt
Ðức,
nằm
giữa
hai
bến
đò
Phù
yên
và
Ðấu
hàn.
Ðấu
hàn
là
quê
quán
của
Ðỗ
An
Vĩnh
tiến
sĩ
1499
và
Phù
yên
là
quê
quán
của
Lê
Doãn
Chấp
tiến
sĩ
1505,
như
Ðại
Việt
lịch
triều
đăng
khoa
lục
đã
ghi
lại.
Và
cả
hai
làng
đó
đều
thuộc
hạt
Yên
phong"
nghĩa
là
thuộc
huyện
Yên
phong,
tỉnh
Bắc
ninh
ngày
nay.
Làng
Phù
cầm
do
thế
cũng
phải
thuộc
huyện
đấy.
Còn
chữ
Bạch
hổ
nó
có
thể
là
tên
riêng
chỉ
một
cây
cầu
hay
bến
đò
hay
ngọn
núi
nào
đấy.
Nhưng
nó
cũng
có
thể
là
một
từ
thuần
túy
địa
lý
bói
huyệt.
Về
trường
hợp
trước,
chúng
tôi
hiện
chưa
tìm
thấy
một
địa
danh
Bạch
hổ
nào
xung
quanh
Phù
cầm,
nên
không
thể
trả
lời
được.
Về
trường
hợp
sau,
thì
trong
cách
bói
huyệt
thứ
13,
Tả
Ao
chân
truyền
địa
lý
tờ
14b2-4
có
viết:
Tổ
phát
tả
kiên
nhập
hữu
kiên
Sơn
cao
huyền
vũ
thủy
chi
huyền
Nhật
minh
nguyệt
chiếu
đường
triều
nội
Thử
địa
vinh
hoa
phú
quý
tuyền.
Rồi
nó
chú
tiếp
thế
này
"Mạch
bắt
đầu
từ
cung
Rồng,
rồi
chuyển
đến
cung
phải
lại
đến
cung
trái
mới
vào
huyệt.
Cung
rồng
là
án
chầu
phía
trước.
Cát
bạch
hổ
trùng
điệp,
núi
Huyền
Vũ
dốc
cao,
sông
Minh
đường
nước
đọng,
nếu
soi
sáng
vào
trong
huyệt
thì
con
gái
sinh
nhiều
phú
quý.
Ðây
là
một
quý
cách".
Nếu
hiểu
từ
"bạch
hổ"
theo
lối
đây,
thì
dĩ
nhiên
mặt
đất
của
Phù
cầm
có
những
ngôi
mộ
làm
sinh
ra
những
người
con
gái
có
nhiều
phú
quí.
Nếu
vậy,
phải
chăng
mẹ
của
Lý
Công
Uẩn
là
người
Phù
cầm?
Sử
không
ghi
rõ
nên
ta
không
biết
được.
Cuối
cùng,
về
chữ
Lục
tổ,
đấy
là
đọc
theo
bản
đời
Lê,
còn
bản
đời
Nguyễn
viết
thành
Ðại
tổ.
Nó
hiển
nhiên
nhằm
chỉ
chùa
Lục
tổ,
nơi
Vạn
Hạnh
sống
và
dạy
dỗ
Lý
Công
Uẩn,
và
là
nơi
Uẩn
trưởng
thành.
(20)
Bốn
câu
thơ
này
để
xác
định
ngôi
mộ
của
Hiển
Khánh
đại
vương.
Nhưng
vị
trí
nó
ngày
nay
ta
chưa
thể
khảo
được,
bởi
vì
những
tên
đất
đến
tên
ao
như:
Vũ
long,
Hạc
lâm,
và
Trấਡ
i,
ta
hiện
chưa
phát
ra
vị
trí
của
chúng.
Riêng
về
Hạc
lâm,
nó
có
thể
là
chùa
Hạc
lâm
của
Pháp
Thông,
người
đã
cùng
Huệ
Sinh
thờ
Ðịnh
Huệ
làm
thầy,
như
truyện
Huệ
Sinh
tờ
57b11
đã
ghi.
(21)
Nguyên
văn:
Thập
khẩu
thủy
thổ
khứ.
Ðây
là
nhắc
lại
việc
Ðịnh
Không
làm
chùa
Quỳnh
lâm
tại
làng
Ðình
bảng,
đào
gặp
10
cái
khánh,
mà
khi
đem
đi
rửa
chìm
mất
một
cái
xuống
sông.
Từ
đó
Không
đề
nghị
đổi
làng
mình
thành
làng
Cổ
pháp.
Chữ
cổ
là
do
chữ
thập
và
khẩu
ghép
lại,
mà
hai
chữ
đó
có
nghĩa
"mười
cái".
Chữ
Pháp
là
do
chữ
thủy
và
chữ
khứ
ghép
lại,
và
chúng
có
nghĩa
"chìm
xuống
nước".
Xem
truyện
Ðịnh
Không
ở
trên.
(22)
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
2b10
và
Toàn
thư
B3
tờ
3a3
viết:
"Năm
Thuận
Thiên
thứ
1
(1010)
cải
Cổ
pháp
làm
phủ
Thiên
đức".
Việt
sử
tiêu
án
1
tờ
79b8
và
Cương
mục
chính
biên
2
tờ
11a1
cũng
chép
vậy.
(23)
Quốc
sử
chắc
chỉ
Ðại
Việt
sử
ký
của
Trần
Chu
Phổ
và
Lê
Văn
Hưu.
Ðại
Việt
sử
lược
và
Toàn
thư
hiện
tại
chỉ
ghi
lại
trong
hai
ba
việc,
mà
tác
giả
Thiền
uyển
tập
anh
giả
thuyết
Quốc
sử
phải
ghi
đủ,
đấy
là
chuyện
chó
chùa
Thiên
ứng
tâm
có
lông
thành
chữ
"Thiên
tử"
và
chuyện
sét
đánh
thành
văn
thôi.
Còn
chuyện
sâu
ăn
cây
đa
chùa
Song
lâm
thì
bây
giờ
không
thấy
cuốn
sử
nào
ghi
tới.
Nó
chắc
đã
bị
các
tác
giả
sau
Lê
Văn
Hưu
tước
bỏ.
50.
Thiền
sư
ÐỊNH
HUỆ
(1)
Làng
An
trinh,
phủ
Thiên
đức
này
chúng
tôi
hiện
chưa
khảo
được
đích
xác
là
làng
nào
thuộc
huyện
nào
của
tỉnh
Bắc
ninh
ngày
nay.
Bắc
thành
địa
dư
chí
lục
2
có
ghi
một
làng
tên
An
trinh
thuộc
tổng
Văn
thai,
huyện
Cẩm
giàng,
trấn
Hải
dương.
Chúng
tôi
chắc
làng
An
trinh
này
không
phải
là
làng
An
trinh
của
Ðịnh
Huệ
ở
đây,
nhưng
cứ
ghi
ra,
bởi
vì
huyện
Cẩm
giàng
theo
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Hải
dương,
mục
Kiến
trí
diên
cách
thì
huyện
Cẩm
giàng
"đời
thuộc
Minh
thuộc
vào
châu
Thượng
hồng,
phủ
Lạng
giang".
(2)
Tức
thuộc
phần
đất
tỉnh
Vĩnh
phú
ngày
nay.
Xem
chú
thích
(6)
truyện
Pháp
Hiền.
Về
Cẩm
điền,
bảng
danh
sách
các
tổng
xã
của
hai
tỉnh
Sơn
tây
và
Vĩnh
yên
trong
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Sơn
tây,
mục
Tục
khảo,
không
có
tổng
xã
nào
tên
Cẩm
điền
cả.
Nhưng
một
số
làng
hai
huyện
Tam
dương
và
Yên
lạc
có
những
tên
bắt
đầu
bằng
chữ
"cẩm"
hay
chữ
"điền",
hay
kết
thúc
bằng
chữ
"điền".
Ðấy
là
xã
Ðiền
trù
của
tổng
Bình
hòa,
xã
Cẩm
trạch
của
tổng
Ðạo
tú
và
xã
Ðại
điền
của
tổng
Quan
ngoại
thuộc
huyện
Tam
dương,
và
những
xã
Cẩm
la,
Cẩm
trạch
và
Cẩm
viên
của
tổng
Nhật
chiếu
thuộc
huyện
Yên
lạc.
Chúng
tôi
nghĩ
Cẩm
điền
có
lẽ
gồm
phần
đất
của
hai
tổng
Ðạo
tú
và
Quan
ngoại
vừa
thấy.
51.Thiền
sư
ÐẠO
HẠNH
(1)Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Sơn
tây,
mục
Tự
quan,
viết:
"Chùa
Thiên
phúc
tại
xã
Sài
tây,
huyện
Yên
sơn,
xưa
gọi
là
am
Hương
giang
(nên
đọc
hải,
Lê
Mạnh
Thát
chú)
lại
gọi
là
viện
Phổ
đà.
Chùa
bên
trái
thờ
Từ
thiền
sư
bên
phải
thờ
tượng
Lý
Thần
Tôn,
ở
giữa
thờ
tượng
Phật.
Thiền
sư
họ
Từ
tên
Lộ,
tự
Ðạo
Hạnh,
người
An
lãng
huyện
Vĩnh
thuận,
tỉnh
Hà
nội,
là
bậc
cao
tăng
của
thời
đó
đến
trác
tích
ở
đây.
Lý
Nhân
Tôn
tuổi
đã
cao
mà
chưa
có
con
nối
dõi.
Em
vua
là
Sùng
Hiền
Hầu
cũng
chưa
có
con,
cùng
với
Ðạo
Hạnh
nói
việc
cầu
tự.
Ðạo
Hạnh
hẹn
ngày
kia
khi
phu
nhân
sắp
sanh
thì
nên
báo
trước
cho
biết.
Sau
đó,
khi
phu
nhân
sắp
sinh,
bèn
đi
báo.
Ðạo
Hạnh
tức
khắc
thay
quần
áo
tắm
rửa,
vào
trong
động
mà
thi
giải.
Phu
nhân
liền
sinh
một
người
con
trai
ấy
là
Thần
Tôn.
Người
làng
cho
đó
là
điều
lạ,
đem
thây
bỏ
vào
trong
khám
mà
thờ.
Mỗi
năm
đến
ngày
7
tháng
3,
tục
truyền
đó
là
ngày
kỵ
của
Sư,
sĩ
nữ
tụ
họp
đông
đảo,
làm
thành
một
chỗ
du
ngoạn
đẹp
đẽ
của
địa
phương.
Văn
nhân
danh
sĩ
phần
nhiều
có
làm
thơ
vịnh.
Thâycủa
Sư
đến
khoảng
Minh
Vĩnh
Lạc
thì
bị
người
Minh
đốt
cháy.
Người
làng
lại
đúc
tượng
Sư
mà
thờ.
Trong
khoảng
Lê
Quang
Thuận,
cha
của
Hoàng
hậu
Trường
Lạc
là
Nguyễn
Ðức
Trung
đi
cầu
tự
cho
hậu
ở
trong
động
chùa
đó
thì
có
một
mảnh
đá
bay
tới.
Bèn
cầm
về
tạc
thành
một
tượng
Phật
mà
thờ.
Khi
đã
làm
vậy,
thì
sau
đó
hậu
mộng
thấy
rồng
vàng
vào
sườn
bên
trái,
bèn
sinh
ra
Hiến
Tôn.
Trong
khoảng
Cảnh
Thống,
bàn
lập
bia
am
Hiển
thụy
khắc
vào
đá
nay
còn.
Triều
ta
phong
thần
Từ
Ðạo
Hạnh
đại
thiền
sư
".
(2)
Lịch
triều
hiến
chương
loại
chí
3
tờ
8a6b1
viết:
"Núi
(Nguyên
văn
viết
chùa,
Lê
Mạnh
Thát
sửa)
Phật
tích
ở
xã
Thủy
khê,
huyện
Yên
sơn,
một
tên
là
Sài
sơn,
lại
gọi
là
Cổ
sài.
Cảnh
núi
đẹp
đẽ
trông
ngang
xuống
mặt
hồ
trên
núi
có
hang
sâu
là
chỗ
Từ
Ðạo
Hạnh
thi
giải.
Vách
hang
đang
còn
có
dấu
đầu
và
dấu
chân.
Trên
đó
có
am
Hương
hải
và
viện
Phổ
đà
đều
do
Từ
Công
dựng
nên,
nay
là
chùa
Thiên
phúc".
Kiến
văn
tiểu
lục
6
tờ
2a7-3a1
viết:
"Sài
sơn
của
huyện
Yên
sơn,
đời
Lý
gọi
là
núi
Phổ
đà
lạc,
đời
Trần
gọi
là
núi
Phật
tích.
Trên
núi
có
chùa
và
tiên
động
các
nơi.
Trong
động
có
tám
chỗ
lõm,
như
dấu
đầu
người
va
vào,
lại
có
dấu
chân
như
của
người
khổng
lồ.
Dưới
núi
có
chùa
Thiên
phúc,
trước
có
hồ
lớn,
sau
có
lầu
chuông,
có
chuông
do
Thiền
sư
Vạn
Hạnh
đúc
thành,
vào
năm
Long
Phù
Nguyên
Hoá
thứ
9
(1109)
triều
Lý,
đệ
tử
Huệ
Hưng
soạn
ký,
trước
tác
lang
Nghiêm
Thường
khắc
chữ.
Trên
chuông
có
khắc
hình
cây
bồ
lao,
dùng
dây
sắt
mà
treo.
Ðấy
là
vật
xưa
700
năm
đến
nay.
Dưới
lời
ký
có
khắc
sắc
chỉ
của
Vua
Trần
Anh
Tôn
cấp
ruộng
thờ
cúngvào
năm
Hưng
Long
thứ
12
(1304).
Bên
cạnh
có
Hiển
thụy
dựng
trong
khoảng
Cảnh
Thống,
có
bia
ký
do
Thượng
thư
Nguyễn
Bảo
soạn.
Xét
An
nam
chí
có
nói
rằng:
Núi
Phật
tích
có
một
tảng
đá,
trên
có
dấu
chân
người
khổng
lồ.
Dưới
chân
núi
có
hồ,
chu
vi
hơn
ba
dặm.
Hai
bên
hồ
và
núi
có
dựng
nhà
thủy
tạ.
Tháng
5
tháng
6
hoa
sen
nở
đầy
hồ,
mùi
thơm
sặc
cả
người.
Trên
núi
có
chùa
Thiên
phúc,
sơn
phết
rực
rỡ,
thực
là
danh
thắng
một
phương,
chỉ
nói
trên
núi
Phật
tích
có
chùa
Tư
phúc,
có
am
Biện
tài
và
am
Cực
lạc.
Người
của
châu
và
những
con
em
của
phường
du
lịch
thường
mỗi
năm
vào
tháng
3
đến
dạo
chơi
xem
lễ,
đèn
nhang
chất
đống,
xe
ngựa
dập
dìu,
văn
nhân
danh
sĩ
phần
nhiều
đều
có
đề
thơ
vịnh
cảnh.
Tức
là
núi
đó".
Xem
thêm
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Sơn
tây,
mục
Sơn
xuyên
và
mục
phụ
khảo
về
núi.
(3)
Làng
Yên
lãng
đây
tức
là
làng
Yên
lãng
thuộc
huyện
Vĩnh
thuận
của
Bắc
thành
địa
dư
chí
lục
1
và
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Sơn
tây,
mục
Từ
miếu
và
Tự
quán,
tức
làng
Láng
ở
gần
phía
tây
Thủ
đô
Hà
nội
ngày
nay.
Làng
này
hiện
có
chùa
thờ
Ðạo
Hạnh,
tục
gọi
là
chùa
Láng.
Bắc
thành
địa
dư
chí
lục
1
chép
chuyện
đấy
vào
thế
kỷ
19
như
sau:
"Chùa
Yên
lãng
tại
trại
Yên
lãng,
huyện
Vĩnh
thuận,
thế
truyền
là
chỗ
tu
hành
của
Thiền
sư
Từ
Ðạo
Hạnh
triều
Lý.
Thiền
sư
là
kẻ
có
thù
với
Thiền
sư
Ðại
Ðiên
xã
Dịch
vọng.
Ðạo
Hạnh
sau
đó
đi
Tây
vức
học
đạo,
trở
về
giết
Ðại
Ðiên,
nên
lệ
chùa
Yên
lãng
mỗi
năm
vào
tháng
3
phải
rước
thần
qua
chùa
hai
xã
Yên
quyết
và
Dịch
vọng,
đốt
pháo
múa
gậy,
giống
như
có
việc
đánh
nhau,
để
diễn
lại
chuyện
đó.
Nay
chùa
Yên
lãng
có
một
hòm
gỗ
trong
đựng
một
miếng
đồng
có
chữ
phạn
viết
bằng
son.
Ðó
là
di
tích
của
Sư.
Sau
Ðạo
Hạnh
đến
tu
đạo
tại
Sài
sơn,
tỉnh
Sơn
tây,
rồi
đầu
thai
làm
Lý
Thần
Tôn".
Ðây
như
vậy
chỉ
nói
tên
cha
và
trú
quán,
nhưng
không
nói
tên
mẹ
và
nguyên
quán
của
Từ
Ðạo
Hạnh.
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Sơn
tây,
mục
từ
miếu,
nhân
viết
về
đến
Từ
Ðạo
Hạnh
Thiền
sư
ở
chân
núi
Sài
sơn
huyện
Yên
sơn,
nói:
Xét
trong
đền
thì
bên
trái
thờ
tượng
Từ
Ðạo
Hạnh,
bên
phải
thờ
tượng
Lý
Thần
Tôn,
ở
giữa
thờ
tượng
Phật.
Một
thuyết
nói
rằng
Ðạo
Hạnh
là
người
thôn
Ðồng
bụt,
huyện
Yên
sơn,
cha
là
Từ
Vinh
mẹ
là
Tăng
thị
Loan.
Nay
tương
truyền
ở
Ðồng
bụt
có
nền
cũ
nhà
họ
Từ,
trước
chùa
có
70
mẫu
ruộng
là
ruộng
họ
Từ,
nay
đem
làm
tự
điền
cho
thôn
ấy".
Cứ
đây
thì
nguyên
quán
của
Ðạo
Hạnh
là
thôn
Ðồng
bụt,
huyện
Yên
sơn
tỉnh
Sơn
tây.
Truyện
Ðạo
Hạnh
ở
đây
nói
rõ
Yên
lãng
là
trú
quán
của
Hạnh,
nên
ta
khỏi
phải
đặt
nghi
vấn
về
chuyện
đâu
là
quê
quán
của
Hạnh,
như
Ðại
nam
nhất
thống
chí
đã
làm.
(5)
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
16a10
viết:
"Năm
Quảng
Hựu
thứ
7
(1091)
kiến
quan
Lê
Toàn
Nghĩa
dâng
rùa
năm
sắc".
Toàn
thư
B3
tờ
12a9
cũng
ghi
chuyện
này,
nhưng
không
ghi
chức
quan
của
Nghĩa.
(6)
Truyện
Từ
Ðạo
Hạnh
trong
Lĩnh
nam
trích
quái
truyện
tờ
28-31
chép
hoàn
toàn
giống
truyện
Từ
Ðạo
Hạnh
ở
đây,
nhưng
sau
câu
"hậu
ứng
tăng
quan
ngự
thí
trúng",
nó
lại
thêm
7
chữ
"Bạch
liên
khoa,
vị
cơ
phụ
Vinh",
trước
khi
viết
tiếp
"dĩ
tà
thuật
ngỗ
Diên
Thành
Hầu".
Truyện
Ðạo
Hạnh
ở
đây,
sau
câu
"hậu
ứng
tăng
quan
ngự
thí
trúng",
lại
bỏ
trống
một
đoạn
đúng
chỗ
cho
7
chữ,
rồi
viết
tiếp
"dĩ
tà
thuật
ngỗ
Diên
Thành
Hầu".
Chúng
tôi
nghĩ
rằng
khoảng
trống
7
chữ
đây
đúng
là
chỗ
của
7
chữ
hiện
còn
chép
trong
Lĩnh
nam
trích
quái
mà
để
bản
của
bản
in
Thiền
uyển
tập
anh
năm
1715
đã
bị
rách
hay
mọt
ăn
mất,
nên
người
hiệu
đính
cho
bản
in
đây
đã
để
trống
đúng
7
chỗ
cho
những
chữ
mất
đó.
Ðây
là
một
ưu
điểm
lớn
của
bản
in
năm
1715
giữa
những
ưu
điểm
khác
của
nó.
Bản
in
đời
Nguyễn
không
để
một
khoảng
trống
nào
cả,
nên
dù
có
bản
của
Lĩnh
nam
trích
quái
chăng
nữa,
ta
cũng
không
thể
nào
nhận
ra
khoảng
đấy
thiếu
mấy
chữ.
Chúng
tôi
do
thế
đề
nghị
thêm
7
chữ
trên
vào
chỗ
trống
ở
tờ
53b10
của
Thiền
uyển
tập
anh,
để
cho
ý
nghĩa
của
câu
"hậu
ứng
tăng
quan
ngự
thí
trúng…"
và
câu
"dĩ
tà
thuật
ngỗ
Diên
Thành
Hầu"
ở
trước
và
sau
khoảng
trống
đấy
được
rõ
hơn.
Nếu
chấp
nhận,
hai
câu
ấy
bây
giờ
đọc:
"Hậu
ứng
tăng
quan
thí
trúng
Bạch
liên
khoa.
Vị
cơ
phụ
Vinh
dĩ
tà
thuật
ngỗ
Diên
Thành
Hầu",
mà
ta
có
thể
dịch
thành:
"Sau
đó
Sư
ứng
thi
điện
thí
tăng
quan,
trúng
khoa
Bạch
liên.
Chẳng
bao
lâu,
cha
Sư
là
Vinh
dùng
tà
thuật
làm
mích
lòng
Diên
Thành
Hầu…"
Khoa
Bạch
liên
là
khoa
gì
vào
thời
Lý,
chúng
tôi
hiện
chưa
thể
khảo
được.
(7)
Diên
thành
hầu
(?
–
1117)
là
con
của
Lý
Thánh
Tôn
và
em
của
Nhân
Tôn.
Tính
tình
của
vị
hầu
này
chắc
nóng
nảy
lắm.
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
20a3
ghi
lại
một
chứng
sau:
"Năm
Long
Phù
Nguyên
Hóa
thứ
4
(1104),
mùa
thu
tháng
9
ngày
mồng
một.
Diên
Thành
Hầu
lấy
hốt
đánh
Trung
Nghĩa
Hầu
ở
điện
Thiên
an".
Trung
Nghĩa
Hầu
(?
–
1117)
cũng
là
con
của
Thánh
Tôn
và
chắc
là
em
của
Diên
Thành,
và
điện
Thiên
an
là
nơi
thị
triều
của
vua.
Thế
mà,
giữa
mặt
bá
quan
văn
võ,
Diên
Thành
đã
lấy
hốt
đánh
Trung
Nghĩa.
(8)
Tức
Nguyễn
Ðại
Ðiên,
mà
truyện
Thần
Nghi
tờ
40a11
nói
tới
như
đại
biểu
cho
một
Thiền
phái
thứ
4
của
thời
Lý.
Cứ
vào
truyện
Ðạo
Hạnh
ở
đây,
ta
có
thể
đoán
Ðại
Ðiên
bị
Ðạo
Hạnh
đánh
chết
vào
khoảng
năm
1110
bởi
vì
cuối
truyện
có
chua
câu:
"Giác
Hoàng,
hoặc
có
người
nói
là
Ðại
Ðiên
ấy
vậy".
Mà
Giác
Hoàng
theo
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
21a4,
thì
vào
năm
Hội
Tường
Ðại
Khánh
thứ
3
(1112)
là
đã
3
tuổi
rồi.
Vậy
Hoàng
phải
sinh
năm
1110.
Bấy
giờ,
nếu
bảo
Giác
Hoàng
là
Ðại
Ðiên
thì
đương
nhiên
Ðiên
phải
chết
vào
năm
Hoàng
sinh,
tức
năm
1110
ấy,
mới
đầu
thai
thành
Hoàng
được,
tối
thiểu
là
bằng
vào
sự
tin
tưởng
huyền
thuật
đương
thời.
Cho
nên,
việc
liên
hệ
Ðại
Ðiên
với
sự
sinh
của
Giác
Hoàng
phải
giả
thiết
rằng
Ðiên
chết
vào
năm
Hoàng
sinh.
Về
nguyên
quán
của
Ðiên,
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Sơn
tây,
mục
Tăng
thích,
có
ghi
một
vị
sư
tên
Nguyễn
Ðạo
Hạnh
và
nói:
"Sư
người
huyện
Tiên
phong
là
miêu
duệ
của
Thiền
sư
Thái
Ðiên,
bình
sanh
cùng
sư
Nguyễn
Minh
Không
và
Từ
Ðạo
Hạnh
làm
bạn,
học
thuật
tu
luyện,
sau
hóa
thân
ở
xã
Chiêu
nhân
thổ
nhân
bèn
lập
đền
thờ".
Thái
Ðiên
đây,
chúng
tôi
nghi
cũng
là
Ðại
Ðiên,
bởi
vì
Việt
sử
tiêu
án
1
tờ
108b9
dẫn
Ngoại
truyện
nói:
"Cha
Ðạo
Hạnh
là
Từ
Vinh
vì
pháp
thuật
bị
sư
Thái
Ðiên
đánh
giết".
Như
vậy
quê
hương
của
Ðại
Ðiên
là
vùng
đất
huyện
Tiên
phong,
tức
huyện
Quảng
oai,
tỉnh
Sơn
tây
bây
giờ.
Kiến
văn
tiểu
lục
9
tờ
16a1
17a2
viết
rất
là
dài
về
cuộc
đời
nhà
sư
Nguyễn
Ðạo
Hạnh
đây
và
nói:
"Ông
người
xã
Vịnh
phệ,
huyện
Tiên
phong".
Nếu
vậy
Ðiên
là
người
xã
Vịnh
phệ.
Cuối
cùng,
về
ngôi
chùa
trú
trì
của
Ðiên,
Bắc
thành
địa
dư
chí
lục
1
nhân
viết
về
chùa
Yên
lãng
dẫn
trước
nói
"Ðạo
Hạnh
có
thù
với
Thiền
sư
Ðại
Ðiên
xã
Dịch
vọng".
Như
thế,
vào
thế
kỷ
thứ
19
người
ta
coi
Ðiên
sống
ở
xã
Dịch
vọng.
Làng
Dịch
vọng
này,
Toàn
thư
B3
tờ
3a3-8
nói
là
nơi
có
chùa
Thánh
chúa.
Ở
đây
đã
có
vị
sư
dạy
Nguyễn
Bông
cái
thuật
đầu
thai
thành
Lý
Nhân
Tôn.
Dã
sử
về
thần
tích
của
Ỷ
Lan
nói
rõ
ra
vị
sư
chùa
Thánh
chúa,
đấy
không
ai
khác
hơn
là
Ðại
Ðiên.
Từ
đó,
ngôi
chùa
Ðại
Ðiên
ở
chắc
không
chùa
nào
khác
hơn
là
Thánh
chúa,
làng
Dịch
vọng,
huyện
Từ
liêm
ngày
trước,
tức
huyện
Hoài
đức,
tỉnh
Hà
đông
ngày
nay.
Sự
việc
Nguyễn
Bông
xảy
ra
vào
năm
1063.
Thế
thì,
Ðiên
sống
tại
chùa
đấy
vào
khoảng
từ
năm
đó.
(9)
Bắc
thành
địa
dư
chí
lục
1
viết:
"Sông
Tô
lịch
ở
phía
đông
của
thành
(Hà
nội)
phân
lưu
từ
sông
Nhị,
theo
thành
từ
phía
Bắc
mà
chảy
qua
phía
tây
gặp
sông
Hà
liễu
và
sông
Nhuệ,
hai
sông
cùng
chảy
đổ
vào.
Sông
này,
mùa
đông
và
xuân
thì
khô
cạn,
mùa
thu
và
hạ
thì
thuyền
đi
được…Quốc
sử
của
Ngô
Sĩ
Liên
nói:
"Sông
này
hễ
khi
có
mưa
lớn
thì
nước
đầy
ứ
mà
chảy
ngược.
Họ
Ngô
nói:
"Sông
Tô
lịch
chảy
đi
ra
từ
sông
Nhị
bắt
đầu
từ
phường
Hà
khẩu
chảy
qua
Tây
hồ,
Thụy
Chương,
Yên
hoa
và
Yên
quyết
thì
cạn
thuyền
đi
không
được,
vì
dân
ở
hai
bên
sông
cứ
để
ngói
đá
lấp
đầy,
khi
mưa
to
nước
ứ
lại
không
chảy
được,
nên
phải
chảy
ngược
lại
thì
không
có
gì
là
lạ".
(10)
An
nam
chí
lược
1
tờ
24
viết:
"Sông
Tô
lịch
chảy
quanh
La
thành.
Sông
có
năm
cầu
đều
rất
đẹp".
Nhưng
nó
không
cho
biết
năm
cầu
đó.
Ta
ngày
nay
có
thể
truy
nhận
tối
thiểu
tên
của
ba
cầu,
đấy
là
cầu
Tây
dương,
cầu
Yên
quyết
và
cầu
Nhân
mục.
Toàn
thư
B10
tờ
21b
2-5
trong
khi
mô
tả
diễn
tiến
của
chiến
dịch
Tốt
động,
Chúc
động,
đã
viết
về
những
hướng
xuất
quân
của
Vương
Thông
từ
thành
Ðông
quan
như
sau:
"Ngày
mồng
6,
Vương
Thông
v.v.…của
nhà
Minh
đem
lính
cũ
lính
mới
10
vạn
người
phân
làm
ba
đạo
quân
đánh
ta.
Vương
Thông
do
ngã
Khâu
ôn
qua
cầu
tây
dương
đến
đóng
ở
bến
Cổ
sở,
dựng
cầu
nổi
cho
quân
đi.
Phương
Chính
xuất
quân
từ
cầu
Yên
Quyết,
đóng
ở
cầu
Sa
đôi.
Sơn
Thọ
và
Mã
Kỳ
đi
ra
từ
cầu
Nhân
mục,
đóng
ở
cầu
Thanh
oai.
Chúng
dựng
doanh
trại
vài
chục
dặm,
cờ
xí
rợp
đồng,
giáp
trượng
sáng
trời,
tự
bảo
rằng
chúng
chỉ
một
lần
đánh
là
bắt
hết
nghĩa
quân".
Cầu
Nhân
mục,
tên
nôm
gọi
là
cống
Mọc,
ngày
nay
thuộc
làng
Nhân
chính,
huyện
Hoài
đức,
tỉnh
Hà
đông,
và
vết
tích
của
nó
hiện
còn
là
chiếc
cầu
bắc
ngang
sông
Tô
lịch
tại
làng
đấy.
Còn
cầu
Yên
Quyết,
tên
nôm
nó
gọi
là
cống
Cót,
ngày
nay
là
chiếc
cầu
bắc
ngang
sông
Tô
lịch
tại
địa
phận
làng
Yên
quyết
huyện
Hoài
đức,
tỉnh
Hà
đông.
Vì
cầu
Yên
quyết
có
tên
nôm
là
cống
Cót,
cho
nên
chữ
Quyết
kiều
ở
đây
đúng
ra
phải
dịch
là
cống
Cót,
nhưng
vì
không
chắc
chữ
Cót
phát
âm
như
thế
nào
vào
thời
Lý,
nên
chúng
tôi
vẫn
để
nguyên
và
dịch
là:
"cầu
Quyết".
Hoàng
Xuân
Hãn
trong
Lý
Thường
Kiệt
tr.499
vì
chấm
câu
lộn,
nên
đã
đọc
thành
cầu
Vu
quyết.
Về
cầu
Tây
dương
thì
cứ
trên
đường
hành
quân
của
Vương
Thông,
nó
phải
là
cầu
Giấy,
bởi
vì
để
đi
từ
Ðông
quan
tới
Cổ
sở,
người
ta
phải
đi
qua
cầu
Giấy
ở
sông
Tô
lịch,
rồi
qua
cầu
Diễn
hay
Phù
diễn
ở
sông
Nhuệ
thì
tới
bến
Cổ
sở
trên
sông
Ðáy
thuộc
làng
Yên
sở
ngày
nay.
Như
vậy,
cầu
Tây
dương
không
gì
khác
hơn
là
cầu
Thượng
yên
quyết,
mà
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Hànội,
mục
Tân
lương,
nói
là
"tục
gọi
cầu
Giấy,
cầu
dài
ba
trượng,
có
lợp
ngói
ở
về
huyện
Từ
liêm".
(11)
Mọi
răng
vàng
hay
Kim
xỉ
man
là
tên
một
dân
tộc
ít
người,
vào
thời
Ðường
thì
đang
còn
ở
phần
đất
thuộc
Vương
quốc
Pyu,
nhưng
đến
đời
Nguyễn
và
cho
tới
nay
thì
phần
đất
ấy
thuộc
tỉnh
Vân
nam
của
Trung
Quốc.
Xem
Nguyên
sử
16
tờ
8a4.
Gọi
là
mọi
răng
vàng
dân
tộc
ấy
dùng
vàng
lá
mà
trang
sức
răng
mình,
"khi
ăn
thì
lấy
ra".
Họ
có
nhiều
giống,
mà
Tân
đường
thư
222
hạ
tờ
15b-16a
liệt
ra
như
giống
Tú
cước,
giống
Tú
diện,
giống
Ðiêu
đề,
giống
Xuyên
tỷ.
An
nam
chí
lược
1
tờ
19
nói:
"Ðà
Giang
Lộ
tiếp
giáp
với
Kim
xỉ".
Kim
xỉ
đây
đương
nhiên
là
Kim
xỉ
man.
Và
nếu
như
vậy,
thì
Ðạo
Hạnh
vừa
mới
vượt
khỏi
biên
giới
nước
ta
thôi.
(12)
Tức
Tứ
Thiên
Vương,
đấy
là
Trì
Quốc
ở
phía
đông,
Tăng
Trưởng
ở
phía
nam,
Quảng
mục
ở
phía
tây,
và
Tỳ
Sa
Môn
ở
phía
bắc
của
tầng
thứ
tư
núi
Tu
di,
quản
thủ
bọn
Dạ
xoa
và
La
sát.
Chúng
có
nhiệm
vụ
bảo
vệ
thế
giới,
theo
vũ
trụ
quan
thần
thoại
của
một
số
trường
phái
Phật
giáo.
Xem
chú
thích
(7)
truyện
Khuông
Việt,
và
Khỉ
thế
nhân
bản
kinh
6
tờ
394c.
(13)
Chú
thích
(10)
trên
cứ
vào
đường
hành
quân
của
Vương
Thông
do
Toàn
thư
ghi
lại,
đã
đồng
nhất
cầu
Tây
dương
với
cầu
Giấy.
Mà
cầu
Giấy
theo
Ðại
nam
nhất
thống
chí,
tỉnh
Hà
nội,
mục
Tân
lương
là
tên
nôm
của
cầu
Thượng
yên
quyết.
Làng
Yên
quyết
thực
ra
có
hai,
đấy
là
làng
Thượng
yên
quyết
và
Hạ
yên
quyết.
Ðại
Việt
lịch
triều
đăng
khoa
lục
có
ghi
một
số
tiến
sĩ
xuất
thân
từ
hai
làng
đó
như
Ðặng
Công
Toản
khoa
1520,
Nguyễn
Sằn
khoa
1554,
Nguyễn
Dụng
Ngãi
khoa
1574,
của
làng
Thượng
yên
quyết,
Hoàng
Quản
Chí
khoa
1393,
Nguyễn
Như
Uyên
khoa
1409,
Nguyễn
Khiêm
Quang
khoa
1523,
Nguyễn
Nhật
Tráng
khoa
1595,
Nguyễn
Dụng
Triêm
khoa
1602
v.v…
của
làng
Hạ
yên
quyết.
Vậy
thì,
cầu
Quyết
hay
cầu
Yên
quyết
của
truyện
đây
là
cầu
Hạ
yên
quyết,
còn
cầu
Tây
dương
hay
cầu
Giấy
là
cầu
Thượng
yên
quyết.
Bến
Quyết
cũng
ở
làng
Hạ
yên
quyết.
Xác
định
như
thế,
bây
giờ
nó
trở
thành
rõ
ràng
là
Ðại
Ðiên
trụ
trì
chùa
Thánh
chúa
làng
Dịch
vọng
ở
sát
làng
Thượng
yên
quyết,
thì
khi
đánh
chết
Từ
Vinh,
xác
Vinh
tất
ném
xuống
sông
Tô
lịch
từ
khoảng
cầu
Tây
dương,
trôi