- NGHIÊN CỨU
VỀ
- THIỀN
UYỂN TẬP ANH
Tiến sĩ Lê Mạnh
Thát
Nhà
Xuất Bản TP.HC1999
--o0o--
27.Thiền sư TỊNH LỰC
(1) Ðại nam nhất thống
chí, tỉnh Bắc ninh, mục Sơn xuyên, trong khi viết về Trâu
sơn, nói: "Trâu sơn, một tên là núi Vũ ninh", rồi dẫn An
nam chí rằng: "Núi Vũ ninh ở châu Vũ ninh, có Tỉnh cương
và có Thạch xà gọi là Ngọc kinh tử, lại có mộ của Việt
Vương.
Tỉnh cương như vậy là một
cái gò trên núi Trâu hiện nay. Cái gò này vì có một cái
giếng, nên gọi là gò Giếng hay Tỉnh cương. Bên cạnh gò
có lẽ có một cái đầm và vì nó gần mộ của Việt Vương,
nên gọi là Việt Vương trì hay Vương trì. Còn Vũ ninh, cái
tên đặt ra từ thời Tôn Ngô, đến thời Lý vẫn còn dùng
để gọi một châu. Ðại Việt sử lược 2 tờ 11a8
nói: "Năm Long Thụy Thái Bình thứ 6 (1059) vua dựng chùa Sùng
nghiêm báo đức ở châu Vũ ninh" Ðất châu này ngày nay thuộc
địa phận hai huyện Quế dương và Vũ Giang tỉnh Bắc ninh.
(2) Theo Cương mục tiền biên
3 tờ15a1-4 thì "Vũ bình vốn đất huyện Phong khê, khoảng
đầu đời Ngô đặt ra, gồm có 7 huyện. Ðời Tùy bỏ quận,
đổi làm huyện Long bình, đời Ðường đổi làm huyện Vũ
bình, sau đó lại đặt làm Ðằng châu. Ðời Ðinh và Lê lấy
làm hai phủ Tiên hưng và Khoái châu, nay là đất tỉnh Hưng
yên vậy".
Ðại nam nhất thống chí
tỉnh Hưng Yên, mục phần dã cũng có một ý kiến tương tợ,
đấy là đặt Ðằng châu và Khoái châu làm tên cho quậnVũ
bình đời Lương, rồi chú chép là "chép trong sử Lý Cao Tôn".
Toàn
thư
B4 tờ 25a8 có ghi "Năm Trị Bình Long Ứng thứ 5 (1209)
mùa xuân tháng giêng Phạm Bỉnh Di đem người Ðằng châu và
Khoái châu đi đánh Phạm Du". Nhưng không nói gì đến chuyện
đặt tên Ðằngchâu và Khoái châu cho Vũ Bình hết. Mà truyện
Tịnh Lực ở đây xác nhận là cái tên Vũ bình cho tới thời
Lý vẫn đang còn dùng.
Các sử sách Trung quốc thì
Nguyên hòa quận huyện đồ chí 38 tờ 12b4-9 nói "huyện Vũ
bình, từ huyện lỵ đến phủ lỵ (Giáo châu) phía tây nam
19 dặm, vốn là đất thành bọn mọi Phù nghiêm. Năm Kiến
Hoạch thứ 3 (271) đời Qui Mạng Hầu nhà Ngô đánh tan bọn
mọi Phù nghiêm đặt quận Vũ bình, năm Khai Hoàng thứ 10 (590)
bỏ quận, lập huyện Sùng bình thuộc Giao châu. Năm Vũ Ðức
thứ 4 (621) đổi tên là Vũ bình". Huyện Vũ Bình như vậy
ở vào phía đông bắc của phủ trị Giao châu, mà vào thời
Lý Cát Phủ viết Nguyên hoà quận huyện đồ chí, tức những
năm 806-820, thì đã ở tại phần đất của thủ đô Hà nội
ngày nay. Cứ vào mô tả đó thì huyện Vũ bình có thể ở
vào địa phận tỉnh Hưng yên lắm.
Thái bình hoàn vũ ký 17tờ
8b9-9a3 cũng có những mô tả tương tự. Nó viết: "Huyện Vũ
bình, nhà Ngô đặt quận Vũ bình, nhà Tùy đổi thành huyện.
Nó vốn là huyện Phong Khê thời Hán. Khoảng đầu năm Kiến
Vũ, người con gái huyện Mê linh tên Trưng Trắc làm phản,
đánh hãm Giao chỉ. Mã Viện đem quân tới đánh, ba năm mới
bình. Vũ đế bèn đặt thêm hai huyện Vọng hải và Phong khê.
Phong khê tức huyện này. Ðời Tuỳ gọi nó là Long bình. Ðường
Vũ Ðức năm thứ 4 (621) đổi nó làm huyện Vũ bình". Những
mẫu tin của Nhạc sử ở đây đều chép lại Nguyên văn của
phần địa lý về huyện Vũ bình trong Cựu đường thư 41
tờ 43a8-11, Tân Ðường thư 43 thượng tờ 10a1 cũng không có
một điểm gì mới lạ.
Chúng tôi nghĩ rằng, cứ vào
những tài liệu Trung quốc vừa dẫn thì huyện Vũ bình đời
Ðường cho đến đời Lý vẫn là một địa phận với những
thêm bớt cắt xén nào đó. Vũ bình thời nhà Lý rất có thể
là tên một quận hay một châu, và nó nằm tại phần đất
tỉnh Hưng yên ngày nay. Bắc thành địa dư chí lục 3 tờ
18b2 và 19a2 có kê một tổng xã tên Cát dương thuộc huyện
Phù dung và một tổng xã tên Cát lăng thuộc huyện Tiên lữ,
phủ Khoái châu. Cát lăng quê hương của Tịnh Lực ở đây
có thể gồm địa phận các tổng Cát dương và Cát lăng vừa
nói.
(3) Niệm Phật tam muội, Phạn:
Buddhànusmrti-samàdhi. phương pháp Thiền định bằng cách nhớ
nghĩ đến Phật. Sự nhớ nghĩ này hoặc bằng một lòng quán
tưởng những nét đẹp của xác thân Phật hay thật tướng
của pháp thân Phật thì gọi là quán tưởng niệm Phật, hoặc
bằng một lòng đọc tụng tên Phật thì gọi là danh xưng
niệm Phật. Ðây là nhân hành của việc niệm Phật. Ðến
khi vào thiền định mà thấy được chính Phật hiện ra trước
mắt hay thấy được pháp thân Phật, thì đấy là kết quả
của việc niệm Phật tam muội. Xem Quán vô lượng thọ kinh
ÐTK 365 và Niệm phật tam muội kinh 7 ÐTK 1996.
(4) Hùng hoàng theo Thần nông
bản thảo kinh là một loại đá có thể làm cho người ta
"nhẹ người thần tiên" và chống lại được bệnh do tà
ma quỉ quái tạo ra. Ngô Phổ giải thích nó là thứ hùng của
các loại đan nên gọi là hùng hoàng. Xem Thần nông bản thảo
kinh 2 tờ 2b1-11 và Bản thảo cương mục 9 tờ 21b9-28b1. Ðặc
biệt đây là chất người Trung quốc thường dùng để bôi
xoá những chữ viết sai. Cho nên về sau nói người nào có
hùng hoàng trong miệng là muốn nói người đó giỏi biện
luận, có thể sửa sai người khác.
(5) Thừa Tiên là tự của Lâu
Huyền đời Tôn Ngô và của Thái Hựu đời Bắc chu. Họ đều
là những trung và công thần của hai triều đại ấy. Xem Ngô
chí 20 tờ 2a2-3a1 và Chu thư 27 tờ 2b13-4b6.
(6) Nguyên văn: Vị ngộ hiện
long vi Phật tử. Hiện long là một từ lấy từ quẻ càn của
Chu dịch: "Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân". (Rồng
ra ở ruộng, lợi thấy đại nhân). Khổng tử giải thích:
Ðức rồng ở chính trung thì lời nói thường mà tin, việc
làm thường mà cẩn thận, tránh điều tà mà giữ lòng thành,
giỏi việc đời mà không khoe khoang, đức hạnh rộng để
giáo hoá. Dịch nói: "Rồng ra ở ruộng, nên thấy đại nhân,
đó là đức của vua vậy." Xem Chu dịch 1 tờ 2b7-10.
(7) Nguyên văn: Hốt tào thử
xuất tịch vô cùng. Chuột trong câu này là chỉ bọn bầy
tôi phá hoại quốc dân, một từ lấy ra ở thiên Chính lý
của
Thuyết uyển: "Tề Hoàn Công hỏi Quản Trọng: "Nước
có nạn gì?" Quản Trọng đáp: "Nạn là nạn chuột xã. Hoàn
Công hỏi: "Sao gọi thế? Quản Trọng đáp: cái xã là do bó
cây mà trét đất lên. Chuột nhân đó đến ở gá vào. Ðốt
chúng đi thì sợ cháy cây. Tạt chúng đi thì sợ lở đất.
Chúng do đó không thể giết được là vì ngôi xã. Nước
cũng có loại chuột xã, tức là kẻ hầu hạ hai bên vua vậy.
Bên trong thì chúng bưng bít việc thiện ác đối với vua.
Bên ngoài thì chúng mua bán quyền hành đối với dân. không
diệt chúng thì nước loạn, mà giết chúng thì bị vua xét
hỏi. Nên chúng cứ chiếm lấy vua mà sống. Ðấy tức là
bọn chuột xã của nước vậy". Xem Thuyết uyển 7 tờ 11a1-7.
28. THIỀN SƯ TRÍ BẢO
(1) những tư liệu thời Lý
, Trần hiện còn thì hoặc có tên Cát lợi, hoặc có tên Lợi
hy, chứ chưa thấy tài liệu nào có tên Cát lợi hy. Về tên
Cát lợi,
Ðại Việt sử lược 3 tờ 24a2, ghi lại sự
việc "năm Kiến Gia thứ 2 (1212) tháng 2 Nguyễn Tự tấn công
người cát lợi là Ngô Thưởng ở Vũ cao, bị tên độc trúng,
bèn trở về xóm Tây dương, tuần hơn lỡ giao cấu với đàn
bà, khí độc phát lại mà chết". Còn tên Lợi hy, văn bia
của chùa Báo ân tại xã Tháp miếu, huyện Yên lãng, tỉnh
Vĩnh phú dựng năm Trị bình Long Ứng thứ 5 (1210) triều Lý
Cao Tôn thì ghi nó như một tên xã. Về vị trí nó, xem chú
thích (2) truyện Khuông Việt.
(2) Cương mục tiền biên 4
tờ 12a4-6 viết: "ô Diên là đất Giao chỉ xưa, năm Ðường
Vũ Ðức thứ 4 (621) đặt huyện Ô Diên cùng với Từ liêm
và Vũ lập là ba huyện đều thuộc Giao chỉ, Sử cũ chua Ô
diên là xã Hạ mỗ ở Từ liêm. Xã ấy có đền thờ Bát
lang thần, "đó tức là đền thờ Nhã Lang vậy". Sử cũ mà
Cương mục dẫn ra đây tức là
Toàn thư
N4 tờ 20a1.
Kiến
văn tiểu lục 6 tờ 1b5-7 cũng lập lại những gì
Toàn
thư
đã nói, như Cương mục đã dẫn. Nó viết: "Xã Hạ
Mỗ, sử nói tức là thành Ô diên, nơi ở của Triệu Việt
Vương". Xã đó có đền thờ Bát lang thần, tức là Lý Nhã
Lang, rể của Triệu Việt Vương.
Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Hà nội , mục Từ miếu cũng ghi thế. Quê hương của
Trí Bảo như vậy phải là làng Hạ mỗ, huyện Hoài đức,
tỉnh Hà tây ngày nay.
(3) Tô Hiến Thành (? –
1179).
Cứ
Ðại Việt sử lược 3 và
Toàn thư
B4 thì
trong trận đánh chống nghĩa quân Thân Lợi vào năm 1139 (Toàn
thư
ghi vào năm 1141) Tô Hiến Thành mang chức Thái phó.
Ðến năm 1159,
Toàn thư
B4 tờ 14a 7 nói: "Vua phong Tô
Hiến Thành làm Thái uý".
(4) Ý và chữ lấy từ câu
nhận xét về Vô Nghiệp của Ðạo Nhất. Khi Nhất lần đầu
tiên gặp Nghiệp, thấy vóc dáng Nghiệp cao lớn. Tiếng nói
như chuông, Nhất bảo: "Chùa Phật vòi vọi, mà trong không
có Phật" (nguy nguy Phật đường, kỳ trung vô Phật). Xem
Truyền
đăng lục 8, tờ 257a8-9. Xem thêm chuyệ? Thân Tán, theo
đó Tán, sau khi bỏ thầy mình đến học với Bách Trượng
rồi trở về, thầy Tán hỏi: "Con bỏ chỗ ta đi rồi, giờ
có được sự nghiệp gì không?" Tán đáp: "Không có sự nghiệp
gì ráo", nên bị thầy sai hầu hạ. Một hôm ông bắt Tán
tắm cho ông, Tán vỗ vào lưng ông nói: "Ðiện Phật đẹp
mà Phật không thiêng". (Hảo sở Phật điện, nhi Phật bất
thánh). Xem
Truyền đăng lục 9 tờ 168a10-14.
(5) Có người hỏi Tôn Triệt:
"Tính địa nhiều u tối làm sao hiểu rõ?" Triệt đáp: "Mây
nổi gió cuốn, bầu trời bỗng trong". Xem
Truyền đăng lục
12 tờ 293a 22-23.
(6) Trường Sinh hỏi Huyền
Sa Sư Bị: "Hoà thượng có thấy rõ ràng chỗ thấy không ?"
Bị đáp: "Biết nhau khắp thiên hạ" (Tương thức mãn thiên
hạ). Xem
Truyền đăng lục 18 tờ 347a13-14. Xem thêm Viên
Ngộ Phật Quả thiền sư ngữ lục 1 tờ 715b24. Thiền sư Kế
Bằng thượng đường, chấp tay hỏi:
"Biết nhau khắp thiên
hạ,
Tri âm được mấy người".
(Tưởng thức mãn thiên hạ
Tri âm năng kỷ nhân)
Xem
Truyền đăng lục 2 tờ
476b 20-21.
Câu sau từ Ngũ đăng hội nguyên.
Xem thêm câu hỏi trong truyệ? Diên Chiểu ở
Truyền đăng
lục 12 tờ 302a24-25
Can mộc phụng Văn hầu
Tri âm hữu kỷ nhân.
(7) Ý và chữ của đoạn văn
và bài kệ trên đây rút ra từ chương Ly cấu của phẩm Thập
địa trong kinh Hoa nghiêm: "Bồ tát ư tự tư tài, thường tri
chỉ túc, ư tha từ thứ, bất dục xâm tổn. Nhược vật thuộc
tha, khởi tha vật tưởng, chung bất ư thử, nhi sanh đạo tâm.
Nãi trí thảo diệp, bất dự bất thủ, hà huống kỳ dư,
tư sinh chi cụ. Tính bất tà dâm. Bồ tát ư tự thê tri túc,
bất cần tha thê. Ư tha thê thiếp tha sở hộ nữ, thân tộc
môi định, cập vi pháp sở hộ, thượng bất sinh ư tham nhiễm
chi tâm, hà huống tùng sự, huống ư phi đạo". (Bồ tát đối
với của cải mình, biết vừa đủ, đối với của người,
thì thương yêu tha thứ, không muốn lấn hại. Nếu vật thuộc
của người mình dấy lên cái ý tưởng là vật của người
thì rốt cuộc không sinh lòng trộm cắp. Cho đến ngọn cỏ,
lá cây, người không cho, mình không lấy, huống nữa là những
vật dùng cho đời sống khác. Bồ tát biết đủ đối với
vợ mình, mà không vợ người. Ðối với thê thiếp của người,
con gái do người bảo hộ, mình còn không móng lòng tham nhiễm,
huống nữa là tùng sự dâm dục, huống nữa là nơi phi đạo).
Xem Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh 35 tờ 185a25-b2.
29.THIỀN SƯ TRƯỜNG NGUYÊN
(1) Về Bình Lỗ và núi Vệ
linh, xem chú thích (5) truyện Khuông Việt
(2) Về Tiên du, xem chú thích
(2) truyện Vô Ngôn Thông.
(3) Thiện Hội ở Giáp sơn,
có người hỏi về cảnh Giáp sơn, đáp:
"Viên bảo tử quy thanh
chướng lý
Ðiểu hàm hoa lạc bích
nham tiền
(Vượn bồng con về trong núi
xanh
Chim ngậm hoa rơi trước hang
biếc)
Xem
Truyền đăng lục 15
tờ
324b20-21.
(4) Những từ chủ yếu trong
4 câu đều lấy từ chương 56 của Ðạo đức kinh: "Tri giả
bất ngôn, ngôn giả bất tri, tắc kỳ đoài, bế kỳ môn,
toả kỳ nhuệ, giải kỳ phân, hoà kỳ quang, đồng kỳ trần,
thị vị huyền đồng, cố bất khả đắc nhi thân, bất khả
đắc nhi sơ, bất khả đắc nhi lợi, bất khả đắc nhi hại,
bất khả đắc nhi quí, bất khả đắc nhi tiện, cố vị thiên
hạ vi" (Người biết không nói, người nói không biết, ngậm
miệng lưỡi, bịt tai mắt, nhụt bén nhọn, bỏ chia phân,
hoà ánh sáng, đồng bụi bậm, ấy gọi là huyền đồng cho
nên không thể được mà thân, không thể được mà sơ, không
thể được mà lợi, không thể được mà hại, không thể
được mà sang, không thể được mà hèn, không nên thành vật
quý của thiên hạ). Xem Ðạo đức kinh hạ thiên tờ 12a13-b6.
(5) Những từ chủ yếu trong
6 câu đây lấy ra từ chương 51 của
Ðạo đức kinh,
"Ðạo sinh chi, đức súc chi…trưởng chi, dụ chi, đình chi,
dưỡng chi, phú chi…." (Ðạo sinh đó, đức nuôi đó, …,
lớn đó, nắn đó, đúc đó, dưỡng đó, che đó). Xem
Ðạo
đức kinh hạ thiên tờ 9b6-10a6. Xem thêm Biện mệnh luận
của Lưu Tuấn trong Văn tuyển Lý Thiện chú 54 tờ 7b13- 8a8:
"Rằng sinh hết muôn vật thì gọi là đạo, sinh mà không có
chủ thì gọi là tự nhiên, tự nhiên là vật thấy mình vậy
mà không biết tại sao mình vậy…, sinh ra, không có lòng nắn
đúc, chết đi há có ý giết bỏ…" (Phù thông sinh vạn vật,
tắc vị chi đạo, sinh nhi vô chủ, vị chi tự nhiên, tự nhiên
giả, vật kiến kỳ nhiên, bất chi kỳ sở dĩ nhiên…., sinh
chi, vô đình độc chi tâm, tử chi, khỉ kiền lưu chi chí).
(6) Gai sắt, người gỗ, Thiền
gia dùng để mô tả diệu dụng của Thiền. Thiền sư Ðông
An Sát, Thập huyền đàm:
"Mộc nhân dạ bán xuyên
ngọa khứ
Thạch nữ thiên minh đái mạo
quy"
(Người gỗ nửa đêm xỏ dép
đi
Sáng mai gái đá đội nón về)
Xem
Truyền đăng lục 29
tờ 455c6-7. Xem thêm Cổ túc thập trí đồng chận vấn đáp:
"Mộc nhân tuy bất ngữ
Thạch nữ dẫn hồi đầu".
(Người gỗ tuy không nói
Gái đá hết ngoảnh đầu)
Xem Nhân thiên nhãn mục 1 tờ
305c5-6.
30. Thiền sư TỊNH GIỚI
(1) Trong mấy chục ngọn núi
của hai tỉnh Nghệ an và Hà tĩnh ghi trong
Ðại nam nhất
thống chí 13-15, tỉnh Hà tĩnh và tỉnh Nghệ an, không thấy
ghi ngọn núi nào tên Bí linh cả. Phải chăng nó đã bị đổi
tên? Trong tình trạng hiểu biết và tư liệu hiện tại, chúng
tôi chưa thể trả lời được.
(2) Cương mục chính biên 2
tờ 11a2 nói: "Phủ Trường an, đời Lý là phủ, đời Trần
và Lê nhân theo, nay là phủ Yên khánh, tỉnh Ninh bình vậy".
Phủ Yên khánh, theo
Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Ninh
bình, mục phần dã thì đời Nguyễn gồm bốn huyện, đây
là Yên khánh, Gia viễn, Yên mô và Kim sơn. Nó như vậy tương
đương với phần đất của những huyện Yên khánh, Gia khánh,
Gia viên và Yên mô, tỉnh Ninh bình hiện nay. Phủ Trường yên
là do Lý Công Uẩn đổi thành Hoa lư, kinh đô của nhà Ðinh
và Lê, vào năm 1010 mà ra.
(3) Lô Hải đây chắc phải
nằm trong địa phận những huyện Hoằng hoá và Hậu lộc
tỉnh Thanh hóa ngày nay, bởi vì,
Ðại nam nhất thống chí
16, tỉnh Thanh hóa, mục Sơn xuyên, tờ 43a4-6 có kể tên một
con sông tên Ngung Giang, Nó viết: "Ngu giang ở tại ranh giới
của ba huyện Hoằng hoá, Mỹ hóa, và Hậu lộc, một tên là
Ngung giang. Nguồn nó bắt đầu từ hai sông Mã và Lương mà
tới, đến cửa An phái thì phân dòng mà chảy qua những huyện
Hoằng hoá và Mỹ hóa, rồi ngoặt qua Hậu Lộc thì có nước
Khe trà, …một tên Bào giang chảy vào, rồi đổ vào cửa
Ỷ bích. Cái gọi là sông Nhị, sông Cát, sông Bút, sông Bích
đều là những tên khác của sông này. Sử nhà Lê nói trong
khoảng Thiên Hựu (1557) Mạc Kính Sử đánh bị thua, về giữ
sông Bút cương, tức nơi đây".
Ngu giang ở đây chắc là Ngung
giang của chúng ta, bởi vì cả chữ Ngu lẫn chữ Ngung đều
có âm phù ngu, âm phù đó cũng đọc ngung, cho nên trị sở
của Quảng châu thời Hán đúng ra cũng phải đọc Phiên ngu,
nhưng chúng ta cũng thường đọc là Phiên ngung. Chúng tôi do
đó coi Ngung giang cũng là Ngu giang. Vào thời Lý, việc lấy
tên sông mà đặt tên cho một địa phận cũng thườngxảy
ra, đặc biệt là tại vùng Thanh hoá.
An nam chí lược
1 tờ 21 nói: "Phủ lộ Thanh Hoá là quận Cửu chân đời Tây
Hán, Ái châu đời Tuỳ Ðường. Những thuộc ấp của nó
ngày nay gọi là giang, trường, giáp, xã".
Về vị trí thực sự của
Lô hải, cũng như của Ngung giang, chúng tôi nghĩ rằng nó nằm
vào khoảng vào tổng Lỗ hương, mà trước năm 1839 thuộc
huyện Hoằng hoá mà sau đó thì bị cắt làm huyện Mỹ hoá
cùng những tổng khác, rồi đến năm 1850 lại thuộc huyện
Hoằng hoá. Từ tổng Lỗ hương đó đi ra phía đông đến
biển và cửa Ý bích có thể là địa phận của Lô Hải xưa
thời Lý. Nói khác đi nó bao gồm phần lớn đất do Ngu giang
chảy qua. Ngu giang ngày nay là sông Lạch trường. Cửa Ỷ bích
là cửa Lạch trường. Nên Lô hải là Ngung giang nằm tại
vùng lạch trường đó.
Những địa danh như Mão hương,
Ngung giang, và Lô hải bàn cãi ở đây, chúng tôi chưa thấy
một sách sử nào nói tới. Do thế không cần phải nói là
những bàn cãi trên có tính chất tạm thời và giả thiết.
Cứ
An nam chí nguyên 3
tờ 209 thì "Thiền sư Tịnh Giới là vị Sư huyện Ðông quan,
tu hạnh đầu đà, cảm hoá như thần, Giao châu có hạn, họ
Lý sai sứ đi đón về. Nửađêm Sư đứng giữa sân đốt
hương. Mưa ngọt đổ lớn. Họ Lý khen, tặng làm thầy Mưa".
Nói là gốc huyện Ðông quan, bởi vì Giới về ở chùa Báo
thiên, Hà nội, chứ thật sự không phải.
(4) LãngSơn đây nghi là Lãng
sơn ở huyện Lập thạch, tỉnh Sơn tây thời Nguyễn tức
nay là huyện Lập thạch, tỉnh Vĩnh phú. Dù chữ Lãng trước
viết với bộ thủy và Lãng sau viết với bộ nguyệt.
Thiền
uyển tập anh thường có cái tật thay chữ đồng âm này
với một chữ đồng âm khác, mà không sợ đổi nghĩa, nhất
là trong những tường hợp danh từ riêng. Ví dụ ở tờ 4b1
chữ hoài của Bách Trượng Hoài Hải thì bị viết thành hoài.
Về Lãng sơn
Kiến văn tiểu
lục 6 tờ 6a4-b8 nói: "Núi Lịch ở tại xã An lịch, huyện
Sơn dương, bắt từ núi Sư khổng của huyện Ðương đạo
chạy xuống đến xã đây thì giữa đất bằng nổi lên năm
sáu ngọn núi đất, rồi rẽ ngang thành một nhánh chạy xuống
huyện. Lập thạch thành Lãng sơn. Trên Lãng sơn – tục gọi
là núi Lạng – cũng có đền thờ vua Thuấn. Trước núi lại
nổi lên một ngọn núi đất hơi thấp. Trên đỉnh nó, như
hình cây giao nhau bên trong rộng ước độ vài sào, có thể
trồng loại tiêm nha 100 bông – 1 bông 40 bó, 100 bông 4000 bó
– tục truyền đó là chỗ vua Thuấn trồng, nhân đó gọi
là núi Bách bông".
Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn
tây, mục Sơn uyên, cũng dẫn đoạn vừa viết của
Kiến
văn tiểu lục, khi nói về Lịch sơn.
Lãng sơn như vậy là chi nhánh
của núi Lịch ở tại huyện Lập thạch. Ngày nay huyện Lập
thạch tỉnh Vĩnh phú còn có Lãng sơn, mà người ta thường
gọi là núi Hạng. Ta hiện chưa biết núi Hạng này còn có
một ngôi chùa nào chăng? Truyện Tịnh Giới ở đây nói khi
Giới đã xách gậy đông du, tức từ Thanh hóa đi ra miền
bắc, để đến tại Lãng sơn thì "trải bảy năm tham học,
Giới gặp Bảo Giác chùa Viên minh" Thế thì phải chăng Giới
đã gặp Bảo Giác tại Lãng sơn? Phải chăng chùa Viên minh
ở tại núi đó? Chúng tôi hiện chưa rõ.
(5) Tiểu sử của Viên Thông
thuộc đời thứ 18 của phái Pháp vân nói: "Cha của Viên Thông
là Huệ Dục, làm quan dưới triều Lý Nhân Tôn đến chức
tả hữu nhai tăng lục, đạo hiệu là Bảo Giác". Phải chăng
Bảo Giác chùa Viên minh nói ở đây là cha của Viên Thông?
Thật khó mà trả lời. Viên Thông mất năm 1151 lúc đã 72
tuổi. Cha của Viên Thông do thế không thể sống quá năm 1151
này, có quá lắm thì sống sau đó khoảng năm hay mười năm
là cùng, nghĩa là tới khoảng năm 1161. Nhưng Bảo Giác chùa
Viên minh ở đây lại mất vào năm 1173, như vậy khó có thể
làm cha Viên Thông.
Thế thì phải chăng Bảo Giác
chùa Viên minh đây là một viết lộn cái tên của Bảo Giác
chùa Bảo phúc tại Ða vân thuộc thế hệ thầy của Tịnh
Giới? Ðây là một có thể, bởi vì tiểu sử của Bảo Giám
nói Giám mất vào năm 1173 cùng năm với Bảo Giác chùa Viên
minh, chỉ khác tháng mà thôi. Một bên mất vào tháng 10, một
bên mất vào tháng 5. Nhưng không quan trọng cho lắm, bởi vì
chữ ngũ có thể viết lộn thành chữ thập và ngược lại.
Có khác chăng là khác chùa, một bên chùa Bảo phúc, một bên
chùa Viên minh, nhưng cũng không thiết yếu lắm với sự dời
đổi thường xuyên của phần lớn những vị Thiền sư .
Dầu sao, cuối tiểu sử của
Tịnh Giới ở đây, người viết đã chú thích là "truyện
của Giới đại khái so với Quốc sử và văn bia không giống,
nay xin khảo chính lại", thì cũng đủ thấy, ngay từ thời
Thiền
uyển
tập anh ra đời, cuộc đời của Giới cũng đưa
ra khá nhiều vấn đề, đến nỗi cần phải khảo chính lại.
Vì thế, Tịnh Giới cuối cùng có thể là đệ tử của Bảo
Giác, cha của Viên Thông.
(6) Nguyên văn:
Vạn pháp quy không vô
sở y
Quy tịch chơn như mục tiền
ky
Ðạt ngộ tâm viên vô sở
chỉ
Thủy băng tâm nguyệt mẫn
tâm nghi.
Câu 2 theo luật thơ phải là "Chân
như quy tịch mục tiền ky". Còn chữ "nghi" trong câu 4 nguyên
đọc là nghĩa. Nhưng chữ nghĩa cũng đọc là nghi. Xemthiên
Tứ sử, phần Xuân quan của Chu lễ 19 tờ 6b 12-13 và nghi cũng
có nghĩa là "hướng đến". Xem Ngoại thích truyện của Tiền
hán thơ 97 thượng tờ 18b 13 – 19a1. Nên "mẫn tâm nghi" chúng
tôi dịch là "đứt mọi xen", tức dứt mọi thú hướng của
tâm.
Tư tưởng "vạn pháp qui không"
là một tư tưởng lớn và căn bản của những trường phái
Ðại thừa Phật giáo. Nhưng chữ không đó có nghĩa gì thì
mọi trường phái giải thích khác nhau. Nó cũng trở thành
công án của thiền. Xem
Truyền đăng lục 8 tờ 262c5.
Phúc Khê có người hỏi: "Duyên tán qui không, không qui hà
sở?". Sư đáp: "Ta". "Mục tiền ky" là cơ duyên trước mắt,
thuật ngữ lấy bài kệ Lăng hành bà gởi Triệu Châu trong
Truyền
đăng lục 8 tờ 263a12-13.
Khốc thanh sư dĩ hiểu
Dĩ hiểu phục thùy tri
Ðương thì Ma kiệt quốc
Kỷ táng mục tiền ky
(7) Về chùa Báo thiên, xem chú
thích (6) truyện Ðạo Huệ.
(8) Truyện Nhị Trưng phu nhân
trong
Việt điện u linh tập tờ 11 có đoạn nói về
chuyện Tịnh Giới cầu mưa này, nhưng lại bảo nó xảy dưới
thời Lý Anh Tôn. Truyện đó viết: "Lý Anh Tôn, nhân có hạn,
sai Thiền sư Tịnh Giới cầu mưa, chốc lát thì được mưa,
khí mát thấm người. Vua mừng đến xem, bỗng thấy buồn
ngủ, mộng thấy hai người con gái mặt hoa mày liễu, áo xanh
quần đỏ, mũ đỏ mang đai, cỡi ngựa sắt mà đến gặp.
Vua lấy làm lạ hỏi thì họ đáp: "Thiếp là hai chị em họ
Trưng, vâng lệnh Thượng đế đến làm mưa". Vua thức dậy,
cảm động, sai sửa lại đền miếu, sắm đủ lễ để đến
tế, sau rồi sai nghênh về phía bắc thành trong đại nội,
dựng đền Vũ sư để thờ. Sau thác mộng cho vua xin lập đền
thờ ở xã Cổ lai, vua nghe theo, sắc phong là Trinh Linh phu nhân".
Truyện Tịnh Giới ở đây
nói Giới cầu mưa vào Trinh Phù thứ 2 (1177). Nhưng cả
Ðại
Việt sử lược lẫn
Toàn thư
không ghi một lần
hạn nào cả cho đến 1188. Năm đấy,
Toàn thư
B4 tờ
19b9-220a1 nói: "Thiên Tư Gia Thuỵ năm thứ 3, mùa hạ tháng
5 hạn, vua thân hành đến chùa Pháp vân ở Luy bà (bà, nghi
là viết sai của chữ lâu. L.M Thát chú) cầu mưa, nhân đó
nghênh tượng Phật Pháp vân về chùa Báo thiên. Như vậy,
phải chăng chuyện cầu mưa Tịnh Giới thực sự bắt đầu
dưới thời Lý Anh Tôn? Chúng tôi nghĩ đây là một có thể,
bởi vì cứ
Ðại Việt sử lược 3 tờ 7b9 thì "năm
Chính Long Bảo Ứng thứ 10 (1172) mùa đông, dựng đền Trinh
Linh phu nhân ở ngoài cầu Tây dương." Mà danh hiệu Trinh Linh
phu nhân, cứ truyện Nhị Trưng phu nhân dẫn trên, là do Lý
Anh Tôn phong. Hơn nữa, vì đền này xây ở "ngoài cầu Tây
dương", nó chắc phải xảy ra sau khi việc cầu mưa của Tịnh
Giới thành công khoảng một thời gian vài ba năm, bởi vì
đền nguyên nằm trong Ðại nội ở tại đền Vũ sư. Nói
khác đi, phải có hạn trước năm 1172.
Cứ
Ðại Việt sử lược
3 và
Toàn thư
B4 thì dưới triều Lý Anh Tôn ta có những
năm hạn sau đây:
1140 "Từ xuân đến
hạ không mưa, vua mới cầu mưa"
1142 "Từ xuân đến hạ hạn,
vua thân hành cầu, tháng 6 Ðinh sửu mới mưa.
1146 "Mùa hạ tháng 4 trâu bò
bị dịch chết, hạn, cầu thì mưa".
1150 "Mùa xuân tháng 3 hạn.
Mùa thu tháng 7 hạn"
1148 "Mùa hạ hạn, cầu thì
mưa"
1165 "Mùa hạ tháng 6 đại hạn,
dân chúng bị bệnh dịch lớn, trâu, bò chết phần lớn, giá
gạo nhảy vọt".
Như thế, trong vòng 10 năm đầu
hơn của Lý Anh Tôn, năm lần hạn đã xảy ra, khoảng cách
cứ hai năm một lần. Và những lần hạn này lại kéo dài
thường từ ba đến sáu tháng. Với những cơn hạn kiểu đó,
mới có việc "vua ban chiếu cho danh tăng khắp trong thiên hạ
cầu mưa" như truyện Tịnh Giới đã ghi. Ngoài ra, Tịnh Giới
tham gia việc cầu mưa theo tục truyền, như chính truyện đã
viết, là để hợp thức hoá số thuế của Giới, mà "người
chị Giới là Chu Thị thường năm thay Giới nạp thuế". Với
một mục đích đấy, Giới tất tìm cách thực hiện khi có
dịp. Do thế, không phải là không có lý, khi nói Tịnh Giới
có cầu mưa dưới thời Lý Anh Tôn, như
Việt điện u linh
tập đã có.
Tuy nhiên, bởi vì Giới xuất
gia năm 26 và mất vài ba năm ở chùa làng mình cùng 7 năm sống
ở Lãng Sơn và 6 năm tu hạnh đầu đà ở chùa Quốc thanh.
Ta có thể chắc chắn là khi hành đạo Giới lúc bấy giờ
cũng phải ít nhất trên 40 tuổi. Mà Giới lại mất năm 1207,
nên giả sử Giới có sống trên 90 tuổi đi nữa, thì việc
cầu đảo của Giới cùng lắm phải xảy ra bắt đầu từ
những năm 1160 trở đi mà thôi. Nói cách khác, truyện Tịnh
Giới ở đây, nói Giới cầu mưa vào khoảng Trinh Phù không
phải là hoàn toàn vô căn cứ.
(9)
Ðại Việt sử lược
3 tờ 9b9-10 viết: "Năm Trinh Phù thứ 4 (1179) tháng 5 sửa thêm
chùa Chân giáo, xuống chiếu lấy chùa đó làm nơi hành hương
vào ngày kỵ của Anh Tôn". Việc này,
Toàn thư
và các
sử khác không ghi.
Về chùa Chân giáo tại núi
Vạn bảo,
Tây hồ chí, phần Tự am tập viết:
"Chùa
Chân giáo xưa tại đỉnh ngọn Phục tượng của núi Vạn
bảo trong thành Ðại la. Chùa dựng vào mùa thu năm Tthuận
Thiên thứ 15 (1024) để làm nơi vua ngự xem tụng kinh. Nay chùa
chỉ còn một gian, biển cũ cũng mất, vì vậy ít người biết
gốc tích. Tục chỉ gọi chùa Tượng sơn. Núi và chùa nay
ở tại trại cần bảo huyện Vĩnh Thuận, phía tây ngoài thành.
Lại xét chỗ đất trũng trước chùa có nước đọng, thời
xưa là ao Ngoạn Thiềm, triều Trần bắc cầu Lâm ba trên nó,
nay di tích không còn.
Về núi Vạn bảo,
Tây hồ
chí, mục Sơn xuyên, viết: "Núi Vạn bảo gồm 15 ngọn
ở về phía nam của hồ, nay thuộc tổng Vĩnh thuận nội,
các ngọn chia thuộc 16, 17 trại, điếm. Những cung điện,
chùa miếu của ba triều Lý, Trần , Lê, nền cũ phần nhiều
còn đó. Có nói rõ trong Thăng long chí. Ba ngọn Phục tượng,
Phục hổ và Thần bút là chi nhánh núi Vạn bảo".
(10)
Kiến văn tiểu lục
4 tờ 13b6-8 chép:
Thu lai lương khí
giáp
khâm trung
Bat đẩu tài cao
hướng
nguyệt ngâm
Kham tiếu thiền gia si độn
khách
Vị
tương ha?gữ dĩ
truyền tâm.
Những chữ in
đậm là đọc
khác với bản của
Thiền uyển tập anh.
(11) Nguyên văn: Thử truyện
lược dự quốc sử cập bi văn bất đồng, kim phục khảo
chính. Quốc sử đây chắc phải là
Ðại Việt sử lược
của Trần Chu Phổ còn văn bia của Tịnh Giới hiện ta chưa
tìm lại được. Vì Quốc sử là của Phổ, cho nên qua những
bàn cãi trên, ta thấy những sự việc ghi trong truyện Tịnh
Giới không thấy nói tới trong
Toàn thư
. Ngược lại,
một trong những việc ấy lại do
Ðại Việt sử lược,
một tác phẩm sử học đời Trần hiện còn chép.
31. THIỀN SƯ GIÁC HẢI
(1)
Ðại nam nhất thống
chí, tỉnh Ninh bình, mục Từ miếu, nhân viết về đền
Nguyễn Giác Hải, có nói: "Ðền đời Nguyễn Giác hải ở
tại xã Yên vệ, huyện Yên khánh. Thần họ Nguyễn tên Quốc
Y, hiệu Giác Hải người Giao thủy, Hải nam – nay là tỉnh
Nam định – sinh khoảng thời Lý Thái Tôn. Nhỏ theo nghề
chèo chài lưới của cha. Sau bà mẹ đem về Yên vệ, cùng
với Nguyễn Minh Không kết bạn, đi Tây Trúc cầu đạo. Ðược
đạo rồi, bèn trở về Giao thủy, trụ trì chùa Nghiêm quang".
Nói như thế, phải chăng chùa
Diên phúc là chùa Nghiêm quang ở đây? chắc chắn là không
phải, bởi vì chùa Nghiêm quang tức chùa Thần quang hay chùa
Keo ngày nay, và chùa chưa bao giờ có tên Diên phúc. Chúng tôi
chưa có dịp nghiên cứu hiện địa vùng Giao thủy, nên chưa
thể trả lời dứt khoát chùa Diên phúc là chùa nào và nằm
tại đâu hiện nay.
Kiến văn tiểu lục 4 tờ 2b4 có
ghi tên một chùa tên Diên phúc. Ở thôn Cồ việt, ở đó
có tấm bia do Nguyễn Công Diệm soạn vào năm 1113. Nhưng Khảo
bắc thành địa dư chí lục, chúng tôi không thấy thôn Cồ
việt ở đâu cả, nên cũng chưa xác định hẳn vị trí chùa
Diên phúc được.
(2) Nam ông mộng lục tờ 9
dưới mục " Tăng đạo thần thông" chép y chuyện này.
Kiến
văn tiểu lục 4 tờ 13a5-6 chép nguyên lại bài thơ.
(3) A giác nữ đầu bạch người
con gái còn để chỏm mà đầu đã bạc. Thiền sư Ðầu Tứ
Ðại Ðồng được hỏi:"Hoà thượng sống ở đây có cảnh
giới gì?", Sư đáp: "A giác nữ bạch đầu ty" (Người con
gái còn để hai chỏm tóc, nhưng đầu đã bạc như tơ), Xem
Truyền
đăng lục15 tờ 319c13.
(5) Long môn tào điểm ngạch.
Tháng 3 cá chép vượt cửa Rồng để thành rồng, nếu không
vượt nổi thì bị chấm trên trán mà trở về. Linh Thứu
Nhàn thiền sư , có Hoà thượng Minh Thủy hỏi: "Thế nào là
mau được pháp thân?"
Sư đáp:
"Nhất thấu Long môn
vân ngoại vọng
Mạc tác Hoàng hà điểm ngạch
ngư".
(Một khi đã tới cửa rồng,
ngó trời ngoài mây
Thì chớ làm cá sông Hoàng
hà bị chấm trên trán)
Xem
Truyền đăng lục 10
tờ 278b18-19
Long môn là một tên đất tại
tỉnh Tứ xuyên ở Trung quốc, ở đấy có cái vực rất to
ăn thông với sông Dương tử. Tương truyền ở đó có cái
ao tên Vũ môn. Tục truyền hễ đến tháng 7 nước to, cá chép
các nơi kéo về đua nhau nhảy qua cửa đáy. Con nào nhảy qua
thì hóa thành rồng. Con nào không thì bị một chấm trên trán,
mà trở về. Ở nước ta, theo
Kiến văn tiểu lục 6
tờ 13b4-7 thì Long môn ở tại đất những động Dĩ lý và
Hào trang của Mộc châu, ở đấy "có một ngọn núi ở trung
lưu sông Ðà, đá lớn lộn xộn, mỗi năm đến ngày 8 tháng
4, các bày cá bơi ngược dòng mà lên, nhưng chỉ các chép
một hai con thì có thể được. Giao châu ký nói: có Long môn,
nước sâu trăm tầm, cá lớn lên đó thì hoá thành rồng".
(5)
An nam chí nguyên 3
tờ 211 viết: "Thiền sư Giác Hải là Sư huyện Giao thủy,
thần thông rộng lớn, biến hóa như thần. Khi sắp thị tịch,
cósao hỏa rơi vào Thái thất. Ðến sáng, Sư mất". Xem thêm
Ðạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 16b8.
(6) Truyện Dương Không Lộ
và Nguyễn Giác Hải trong
Lĩnh nam trích quái truyện tờ
36 chép nguyên truyện Giác Hải ở đây với một vài sai lầm
chính tả và thiếu sót do sao lục, nhưng không quan trọng.
Từ Ðạo Hạnh đại thánh sự tích thật lục do "Ðạo nhân
Quán tam thanh" thêm vào trong
Việt điện u linh tập tờ
48-51 chép chuyện Giác Hải ké với Từ Ðạo Hạnh và Minh
Không, song cũng không có gì đặc sắc đáng nói cả. Nó chỉ
điển hình cho tình trạng thất truyền của cuộc đời Giác
Hải mà thôi. Cái ghi chú của
An nam chí lược 15 tờ
147 về "hai thầy Không Lộ và Giác Hải thường vào Ðại
quốc xin đồng về đúc chuông" hai cái để tại chùa núi
Phổ lại, và việc "Giác Hải giỏi lặn dưới nước" cũng
không thêm gì hơn là giúp ta xác định niên đại những truyền
thuyết thần kỳ về những vị sư này.
32. Thiền sư NGUYỆN HỌC
(1)
An nam chí nguyên 3
tờ 210 viết: "Thiền sư Nguyện Học là sư châu Vũ ninh. Trong
lúc tập thiền định, thân như cây khô, vật và ta đều quên,
cho nên chim bay đến châu, thú rừng lẩn quẩn, nhất loạt
như vật nuôi trong nhà. Tùy Cao Tổ sai sứ xây tháp cúng dường".
Nhưng rõ ràng đấy là văn cú lấy trong truyện Pháp Hiền.
Ðạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 16b1 cũng chép Pháp
Hiền như thế. Nhưng trước Pháp Hiền nó ghi lại ở tờ
16a12 những mô tả về Nguyện Học và viết: "Thiền sư Nguyện
Học là Sư châu Vũ ninh, siêng tu phạm hạnh, mỗi khi vào thiền
quán, nhiều ngày mới đứng dậy, đến chết thì ngồi kiết
già mà mất". Do thế, những gì viết về Nguyện Học của
bản in
An nam chí nguyên ngày nay là lấy từ Pháp Hiền,
do việc chép nhảy hàng gây ra, bởi vì cả Học lẫn Hiền
đều nói là "sư châu Vũ ninh", nên sau những chữ ấy, đúng
ra người viết phải chép tiếp những mô tả về Học, nhưng
đã nhảy hàng và chép thay vào, những mô tả về Pháp Hiền.
(2) Tức làng Chân hộ huyện
Yên phong, tỉnh Bắc ninh ngày nay. Xem chú thích (2) truyện Ðạo
Huệ.
(3) Tức làng Phù cầm, huyện
Yên phong, tỉnh Bắc ninh ngày nay. Xem chú thích (2) truyện Minh
Trí.
(4) Chùa này ở tại Long đàm,
Phúc đường, tức khoảng vùng huyện Thanh trì, tỉnh Hà đông
ngày nay. Xem chú thích (3) truyện Viên Chiếu.
(5) Tức núi Sóc, huyện Kim
anh, tỉnh Vĩnh phúc ngày nay. Xem chú thích (5) truyệ? Khuông
Việt.
(6) Nguyên văn: Thiên Cảm Chí
Bảo bát niên. Nhưng theo
Ðại Việt sử lược 3 và
Toàn
thư
B4 thì niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo chỉ gồm có hai
năm, đấy là năm 1174 và 1175 thôi. Như thế, chữ bát chắc
chắn là một viết sai của chữ nhị chúng tôi đề nghị
sửa và dịch theo cách hiểu đây.
(7) Ý lấy từ Bài kệ thị
chúng của Huệ Tư.
Ðạo nguyên bất viễn
Tánh hải phi diêu
Ðản hướng kỷ cầu
Mạc tùng tha mích
Mích tức bất đắc
Ðắc diệt phi chân.
(Nguồn đạo không ngái
Bể tính chẳng xa
Chỉ nhắm mình tìm
Chớ tìm ở người
Tìm tức không được
Ðược cũng chẳng chân)
Xem
Truyền đăng lục 27
tờ 431b2-4
(8) Thiền sư Huệ Tư. Kệ viết:
Ðốn ngộ tâm nguyên
khai bảo tạng
Ẩn hiện linh thông hiện chư
tướng
Ðộc hành độc toạ thường
nguy nguy
Bách ức hoá thân vô số lượng
Tung hiệp bức tắc mãn hư
không
Khán thời bất biến vi trần
tướng
Khả tiêu vật hề vô tỷ huống
Khấu thể minh châu quang hoảng
hoảng
Tầm thường kiến thuyết bất
tư nghì
Nhất ngữ tiêu danh ngôn hạ
đáng.
Xem
Truyền đăng lục 27
tờ 431b5-9
(8) Tức truyện của Huệ trong
Truyền
đăng lục 27 tờ 431a14-c8. Tư sinh năm 514 và mất năm 577,
thọ 64 tuổi, người Vũ tân, họ Lý. Cái mà tác giả
Thiền
uyển tập anh gọi là "truyện của Học với truyện Huệ
Tư đại khái giống nhau" rõ ràng nằm trong những bài kệ
Thị chúng dẫn trên.
33. THIỀN SƯ QUẢNG NGHIÊM
(1) Xem chú thích (2) truyện
Bảo Giám
(2) Nguyên văn chép Trí Thiền.
Nhưng truyện Minh Trí ở trên nói "tên trước của Trí là
Thiền Trí". Vậy Trí Thiền chắc là một chép lộn của Thiền
Trí hay ngược lại.
(3) Tức Minh Giác Thiền sư
ngữ lục, 6 quyển, ÐTK 1996 tờ 669-711, của Thiền sư Trùng
Hiển (980-1052) núi Tuyết đậu ở Minh châu, sau khi mất, được
vua Tống ban hiệu cho là Minh Giác.
(4) Ðạo Ngô và Tiệm Nguyên
đi điếu tang. Nguyên vỗ quan tài nói: "Sống ư? Chết ư?".
Ngô nói: "Sống, không nói. Chết không nói". Nguyên hỏi: "Vì
sao không nói?". Nguyên đáp: "Không nói là không nói". Xem
Bích
nham lục 6, tắc 55 tờ 198a.
(5) Nguyên văn: Hư vãng, Trang
tử "Ðức sung phù": "Lập bất giác, tọa bất nghị, hư nhi
vãng, thật nhi quy". Xem Trang tử 2 tờ 16a3-4.
(6) Kim cang kinh: "Như Lai sở
đắc pháp, thử pháp vô thật vô hư"
Xem Kim cang kinh tờ 750b29
(7) Ðại Châu Huệ Hải hỏi
một giảng sư kinh Kim cang: "Kinh đó là ai nói?" Vị sư lên
tiếng đáp: "Hoà thượng nói giỡn sao: Há không biết Phật
nói sao?’. Sư nói: "Nếu bảo Như Lai có chỗ thuyết pháp
tức là hủy báng Phật, người đó không biết nghĩa ta nói…"
Xem
Truyền đăng lục
6 tờ 247a2-5.
(8) Kiến sơ chỉ cho Vô Ngôn
Thông, thiền phái của Thông cũng gọi là phái Kiến sơ. Âu
công chỉ cho Ðạo Huệ, Ðạo Huệ họ Âu.
(9) Thiền sư Ðồng An Sát,
Thập huyền đàm:
"Trượng phu tự hữu
xung thiên chí
Mạc hướng Như Lai hành xứ
hành".
Xem
Truyền đăng lục 29
tờ 455b16-17.
PHẦN III – CHÚ THÍCH
34. Thiền sư thường chiếu
(1)
Ðại nam nhất
thống chí,
tỉnh Bắc ninh, mục Tự quan, nói: "Chùa Lục
tổ tức là chùa Trường liêu.
Sử ky?ói: "Sư Vạn
Hạnh trú trì chùa đó, sau mất, Lý Thái Tổ tự thân đến
điếu viếng, dựng đàn siêu độ, cấp dân làm tự dinh, quanh
năm cúng thờ".Nhưng
Lịch triều hiến chương loại chí
3 tờ 2a5-6 viết: "Tiêu sơn ở xã Tiêu sơn, huyện Yên Phong,
trên có chùa Trường liêu, triều Lý dựng theo chỗ tu trì
của Tể tướng Thiền sư Vạn Hạnh, Lý Thái Tổ đầu thai
ở đó".
Như vậy, một mặt chùa Trường
liêu ở tại Tiêu sơn, huyện Yên phong. Mặt khác, truyện Thường
Chiếu ở đây nói chùa Lục tổ ở tại làng Dịch bảng phủ
Thiên đức, tức làng Ðình bảng, huyện Từ Sơn hiện nay.
Do đó, chùa Trường liêu dứt khoát không phải là chùa Lục
tổ, bởi vì hai chùa ấy ở tại hai huyện khác nhau. Chúng
tôi không hiểu tại sao
Ðại nam nhất thống chí đã
có một sự đồng nhất trên.
Cương mục chính biên
2 tờ 7b1-2 ghi: "Chùa Tiêu sơn là chùa Trường liêu tại xã
Tiêu sơn, huyện Yên phong tỉnh Bắc ninh".
Cương mục
viết như vậy hợp lý hơn. Và chùa Lục tổ từ đó phải
ở vị trí làng Ðình bảng huyện Từ sơn, tỉnh Hà bắc hiện
nay.
(2) Làng Phù ninh đây chắc
chắn không phải là thuộc huyện Phù ninh, tỉnh Sơn tây đời
Nguyễn, tức Vĩnh phú ngày nay, bởi vì những truyện La Quý
tờ 48a7 và Thiền ông tờ 51a8 nói rõ ra là phủ Thiên đức
có làng Phù ninh với ngôi chùa Song lâm nổi tiếng.
Ðại
Việt lịch triều đăng khoa lục 1 và 2 cũng ghi một làng
tên Phù ninh là quê hương hay trú quán của một số tiến
sĩ nước ta dưới thời Lê như Phạm Ngữ khoa năm 1463, Nguyễn
Khắc Trung khoa 1523, Lê Diêu khoa 1557, Ðào Quốc Hiển khoa 1691
v.v…và nói làng Phù ninh ấy thuộc hạt Ðông ngạn. Ngày
nay huyện Từ sơn tỉnh Hà bắc đang có một làng tên Phù
ninh nằm tại phía nam làng Ðình bảng và phía bắc làng Phù
đổng. Làng Phù ninh của Thường Chiếu tức làng đó.
(3)
Ðại Việt sử lược
3 tờ 3b6 nói: "Ðại Ðịnh năm thứ 4 (1143) dựng cung Quảng
từ cho thái hậu ở".
Toàn thư
B4 tờ 5b3 chép việc này
vào năm Ðại định thứ 6 (1145), rồi ghi tiếp ở tờ 6b3
là "năm Ðại Ðịnh thứ 9 (1148) mùa đông tháng 10 khánh thành
cung Quảng từ". Ðến năm Ðại Ðịnh thứ 10 (1149)
Ðại
Việt sử lược 3 tờ 5a2 viết: "Mùa thu tháng 8 vua đến
chơi cung Quảng từ xem đua thuyền". Việc này
Toàn thư
B4
tờ 10a2 chép vào năm Ðại Ðịnh thứ 12 (1151).
Sự so le hai năm về niên đại
này, Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt tr. 444-445 cho là
đến từ việc
Toàn thư
đã bỏ sót năm Quý sửu (1133)
không chép, nên đề mục của năm đó trở thành đề mục
của năm sau tức năm Giáp dần (1134), do thế mà chép việc
chậm đi một năm. Còn
Ðại Việt sử lược thì lại
chép việc sớm hơn một năm, không biết vì lý do gì. Do một
bên chép sớm một năm, một bên chép chậm một năm, nên có
sự so le vừa thấy.
Như vậy đúng ra cung Quảng
từ bắt đầu làm năm 1144, khánh thành năm 1147 và Lý Anh Tôn
đến chơi năm 1150.
Việt sử tiêu án
tờ 113b2-3 nói
việc xây cung Quảng từ để cho mẹ của Anh Tôn là Lê thái
hậu thông dâm với Ðỗ Anh Vũ. Nó viết: "Anh Vũ mặt mày
đẹp đẽ, múa giỏi hát hay, triều Thần Tôn đem vào hầu
dưới trướng. Lê thái hậu ưa tiếng nói và sắc đẹp của
Vũ, muốn tư thông với Vũ đã lâu. Ðến lúc ấy, mới dựng
cung Quảng từ cực kỳ lộng lẫy xa hoa, ngày đêm cùng với
Anh Vũ làm nơi ngủ ngáy, mà vua không biết".
Về chức Lịnh đô tào,
An
nam chí lược 14 tờ 113 có ghi Ðô Tào như một chức quan
văn, nhưng không thấy ghi Lịnh đô tào.
(4) Tức Ô Ðông mác thủ đô
Hà nội ngày nay. Trong bản điều trần dâng cho Mạc Mậu Hợp
vào ngày 2 tháng 8 năm Quang Hưng thứ 9 (1586) do Lê Quý Ðôn
ghi lại trong
Ðại Việt thông sử
tờ 113a3, Giáp Trưng
đề nghị "Thành Ðại la từ cửa nam Ông mạc đến Nhật
chiêu, những lũy đất nên đắp cao thêm và những con hào
nên vét sâu thêm". Cửa nam Ông mạc hay Ông mạc nam môn, ta
có thể hiểu là cửa nam ở phường Ông mạc. Cái tên ở
phường Ông mạc như vậy còn dùng từ thời Lý cho đến đời
Mạc.
(5) Câu nói này lược dẫn
một đoạn trong phẩm Như Lai xuất hiện của kinh Hoa Nghiêm
do Thật Xoa Nan Ðà dịch
Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm
kinh, Như Lai xuất hiện phẩm 37: "Phật từ bồ tát ma ha
tát ưng tri Như Lai thân nhất mao khổng trung, hữu nhất thiết
chúng sanh số đẳng chư Phật thân, hà dĩ cố? Như Lai thành
chánh giác thân, cứu cánh vô sanh diệt cố. Như nhất mao khổng
biến pháp giới, nhất thiết mao khổng, tất diệc như thị.
Ðương trí vô hữu thiểu xứ hứa, không vô Phật thân, Hà
dĩ cố? Như Lai thành chánh giác, vô xứ bất chí cố. (Tùy
kỳ sở năng, tùy kỳ thế lực, ư đạo tràng bồ đề thọ
hạ sư tử tòa thượng, dĩ chủng chủng thân, thành đẳng
chánh giác…Phật tử bồ tát ma ha tát, ưng vân hà tri Như
Lai ứng chánh đẳng giác chuyển pháp luân? Phật tử bồ tát
ma ha tát, ưng như thị tri Như Lai dĩ tâm tự tại lực, vô
khỉ vô chuyển, nhi chuyển pháp luân. Tri nhất thiết pháp,
hằng vô khỉ cố, dĩ tam chủng chuyển, đoạn sở ưng đoạn,
nhi chuyển pháp luân. Tri nhất thiết pháp, ly biên kiên cố,
ly dục tế phi tế, nhi chuyển pháp luân. Nhập thất thiết
pháp, hư không tế cố, vô hữu ngôn thuyết, nhi chuyển pháp
luân. Tri nhất thiết pháp, bất khả thuyết cố, cứu cánh
tịch diệt, nhi chuyển pháp luân. Tri nhất thiết pháp, niết
bàn tính cố, nhất thiết văn tự, nhất thiết ngôn ngữ,
nhi chuyển pháp luân. Như Lai âm thanh, vô xứ bất chí cố,
tri thanh như hưởng, nhi chuyển pháp luân…" Xem
Ðại phương
quảng Phật hoa nghiêm kinh 52 tờ 275b17-276a6.
Chúng tôi đã dựa vào xuất
xứ này sửa sai một số văn cú của câu nói để dịch cho
đúng đắn và dễ hiểu hơn. Chẳng hạn câu: "Ðương tri vô
hữu thiểu hứa xứ, không vô Phật thân" của kinh Hoa nghiêm,
cả hai bản đời Lê và đời Nguyễn của
Thiền uyển tập
anh đều viết: "Ðương tri vô hữu thiểu hứa tâm, không
vô Phật thân". Chữ tâm của câu sau đương nhiên là một
chép sai của chữ xứ câu trước, nhất là khi chữ xứ viết
tắt thì tự dạng của nó rất gần với chữ tâm. Chúng tôi
do thế đề nghị sửa chữ tâm thành chữ xứ.
(6) Câu này cũng là lược dẫn
một đoạn khác của phẩm Như Lai xuất hiện trong kinh Hoa
nghiêm.
Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh, Như Lai
xuất hiện phẩm 37: "Phật tử, Như Lai thành Chánh giác thời,
ư kỳ nhân trung, phổ kiến nhất thiết chúng sanh nhập niết
bàn, giai đồng nhất tánh, sở vị vô tánh. Vô hà đẳng tánh?.
Sở vị vô tướng tánh, vô tận tánh, vô sanh tánh, vô diệt
tánh, vô ngã tánh, vô phi ngã tánh, vô chúng sanh tánh, vô phi
chúng sanh tánh, vô bồ đề tánh, vô pháp giới tánh, vô hư
không tánh, diệc phục vô hữu thành chánh giác tánh. (tri nhất
thiết pháp, giai vô tánh cố, đắc nhất thiết trí, đại
bi, tương tục cứu độ chúng sanh…Xem
Ðại phương quảng
Phật hoa nghiêm kinh 52 tờ 275a19-26.
(7)
Nam tôn tự pháp đồ,
Thiền uyển tập anh
dẫn nó hai lần, một ở cuối bản
tiểu sử của Ma Ha và gọi bằng tên tắt Nam tôn đồ, và
một ở cuối bản tiểu sử của Ðịnh Huệ. Nghệ văn chí
trong
Ðại Việt thông sử
của Lê Quí Ðôn ghi nó là
do Thường Chiếu soạn. Văn tịch chí trong
Lịch triều hiến
chương loại chí của Phan Huy Chú chỉ ghi
Nam tôn pháp
đồ
1 quyển nhưng lại thêm một chi tiết khá lôi cuốn
là nó có bài tựa của Trạng nguyên Lương Thế Vinh. Vinh đậu
trạng nguyên năm 1463. Vậy cuốn
Nam tôn tự pháp đồ
do
Vinh đề tựa chắc chắn là bản in do Vinh hay người thời
Vinh đứng in. Thế thì, phải chăng nó đã lưu hành cho tới
thời Phan Huy Chú? Cứ vào một câu viết của
Thiền uyển
tập anh ở bản tiểu sử của Thần Nghi, theo đó "Chiếu…đem
Chiếu
đối bản của Thông Biện ra và ghi lại những điều về
tôn phái, để làm đồ biểu phân tôn tự pháp" (Chiếu …toại
trừu xuất Thông Biện Ðối chiếu bản cập ký kỳ tôn phái
điều, vi phân tôn, tự pháp đồ…), thì nội dung của
Nam
tôn tự pháp đồ,
mặc dầu văn bản nó ngày nay hiện
vẫn thất lạc, có thể nó gồm hai phần. Phần thứ nhất
là ghi những điều cần biết về các tôn phái thiền tại
Việt nam như nguyên lai, thế thứ truyền thừa, và rất có
thể niên đại cùng một số những chi tiết khác, cần thiết
cho việc thiết lập những đồ biểu về các tôn phái đó.
Còn phần sau là gồm những đồ biểu. Về số tôn phái, Thường
Chiếu đã đi theo Thông Biện và chỉ thừa nhận có phái Tỳ
Ni Ða Lưu Chi và phái Vô Ngôn Thông, còn phái của Nguyễn Ðại
Ðiên cũng như của Nguyễn Bát Nhã cùng những chi phái khác,
mà Thông Biện nói là "chia chẽ ra bao la không thể kể xiết",
thì chắc chắn đã không được nói tới, như câu hỏi của
Thần Nghi với Thường Chiếu đã xác nhận. Và cũng cứ vào
câu trên thì cũng rõ ràng là, Nam tôn tự pháp đồ không
phải đồng nhất hay hoàn toàn mô phỏng theo Chiếu đối
lục.
Ngoài ra, cũng cần thêm là,
cả Văn nghệ chí của Lê Quý Ðôn lẫn Kinh tịch chí của
Phan Huy Chú đều liệt kê một tác phẩm khác nữa của Thường
Chiếu nhan đề Thích đạo khoa giáo 1 quyển, mà Thiền uyển
tập anh không biết tới. Phải chăng, Thích đạo khoa giáo
vẫn còn lưu hành vào thời Lê Quý Ðôn hay Phan Huy Chú? Và
đây chắc hẳn là một cuốn sách dạy học trò đi thi về
những khoa Phật giáo tổ chức duới triều Lý và Trần.
35. CƯ SĨ THÔNG SƯ
(1) Tức Cư sĩ Thông Thiền
trong truyện của Tức Lự. Gọi Thông Sư có lẽ để tỏ lòng
tôn kính với Thiền. Và Thông Thiền đây chắc không phải
là Ngô Thông Thiền môn đồ của Viên Học, bởi vì không
những Thông Thiền đây họ Ðặng, và Thông Thiền kia họ
Ngô, mà còn vì Ðặng Thông Thiền chết năm 1228, trong khi Ngô
Thông Thiền thì đã lớn khôn để đưa đám thầy mình vào
năm 1136. Ngô Thông Thiền do thế khó mà sống được tới
năm 1228.
(2) Cái tên An la được Thiền
uyển tập anh kể ra hai lần, một ở đây, và một ở
tờ 72a4 nói rằng: "Thiền sư Phạm Âm làng Thanh oai, An la".
Toàn
thư B4 tờ 25a1-2 nói: "Năm Trị Bình Long Ứng thứ 3 (1207)
mùa đông tháng 10 mọi núi Tản viên, châu Quốc oai đi ăn
trộm, cướp bóc làng Thanh oai, chúng quá mạnh, không thể
chế ngự được". Làng Thanh oai này, Ðại nam nhất thống
chí, tỉnh Hà nội, mục Kiến trí diên cách nói: "Nó xưa
là đất Ðỗ động, cái tên Thanh oai mới thấy ở thời Lý
– Năm Trị Bình Long Ứng thứ 3 (1207) của Cao Tôn gọi làng
Thanh oai, sau đổi làm huyện. Ðời thuộc Minh đem gồm vào
châu Oai man thuộc phủ Giao châu. Lê Quang Thuận cải thuộc
thống hạt phủ Ứng hòa. Sau đổi chữ Thanh bộ thủy làm
chữ Thanh không bộ thủy. Triều ta nhân theo". Huyện Thanh oai
đời Nguyễn, tức huyện Thanh oai tỉnh Hà đông bây giờ như
vậy là xuất phát từ làng Thanh oai đời Lý. Mà làng Thanh
oai đời Lý, cứ dẫn chứng trên, lại thuộc An la. An la đây
do đó có thể là tên một châu hay một quận thời Lý. Ðịa
phận nó chắc chắn gồm phần lớn đất đai huyện Thanh oai
ngày nay, hay hơn nữa. Từ xác định ấy, Ốc hương của Thông
Thiền chắc chắn phải nằm trong vùng đất Thanh oai đây hay
cùng lắm thì lan ra một vài xã của những huyện kế cận.
Chúng tôi coi lại bảng liệt kê những tổng xã thôn trại
của phủ Ứng hoà trong Bắc thành địa dư chí lục, nhưng
không tìm thấy một tên đất nào có thể giúp đoán định
vị trí thật sự của Ốc hương cả. Một cuộc nghiên cứu
hiện địa nay mai sẽ giúp giải quyết vấn đề vừa nêu.
(3) Thỉnh ích, theo Phần Dương
"thì thiền tôn có cả thảy 18 lối hỏi, mà Phần dương thập
bát vấn kê ra như sau: Thỉnh ích, trình giải, sát biện, đầu
cơ, thiên tị, tâm hành, thám bạt, bất hội, kinh đảm, trí,
cố, tá, thật, giả, thẩm, trưng, minh và mặc. Trong số này
trừ lối cuối cùng tức lối hỏi bằng im lặng, mà Dương
cho là "khó xác định vì phải biết ý người đến hỏi",
những lối còn lại thì tùy theo cơ hội, và Dương cho một
số thí dụ về những lối hỏi này. Xem Nhân thiên nhãn mục
2 tờ 307c3-308a25.
(4) Huyền Tráng (604-664) một
dịch giả nổi tiếng của Phật giáo Trung Quốc, và người
đã có công thiết lập trường phái Duy thức của Trung quốc
với người học trò của mình là Khuy Cơ. Về cuộc đời,
Xem Ðại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện, 10 quyển, ÐTK
2053, về câu nói dẫn ở đây, chúng tôi hiện chưa tìm thấy
xuất xứ của nó, nhưng về nội dung thì đương nhiên là
nằm trong quỹ đạo của tư tưởng Duy thức của Huyền Tráng.
(5) Hoàng triều đây chỉ triều
Trần, bởi Thiền uyển tập anh viết dưới thời ấy.
36. Thiền sư THẦN NGHI
(1) Tức làng Thời trung huyện
Thanh oai, tỉnh Hà đông ngày nay. Về bàn cãi, xem chú thích
(3) truyện Ngộ Ấn.
(2) Ðại Việt sử lược
3 hai lần nhắc đến địa doanh Ngoại trại. Một ở tờ 29b7
nói: "Năm Kiến gia thứ 6 (1216) tháng năm Mậu thìn (nguyên
bản viết ngọ) vua đi chơi Ngoại trại". Một ở tờ 32b3-4
viết: "Năm Kiến Gia thứ 14 (1224) mùa đông tháng 12, núi Phật
tích ở Ngoại trại nứt dài 30 trượng".
Về việc đầu, ta biết Lý
Huệ Tôn theo Ðại Việt sử lược đã cho thị triều
ở Thảo điện vào tháng giêng. Tháng ba, sai người đi bắt
bọn cướp ở xóm Cơ Xá, bị Ðỗ Ất chống lại. Tháng năm,
bị Ðỗ Nhuế tấn công. Ngày Mậu thìn tháng đó, Lý Huệ
Tôn mới đi Ngoại trại, "nhân đó sai người đi xin quân ở
Tự Khánh để đánh Nhuế". Hôm sau tức ngày Kỷ tị, đày
Nhuế làm khoa giáp. Sáu ngày sau tức ngày Giáp Tuất (nguyên
bản viết thìn, nhưng nghi sai) Huệ Tôn cùng vợ đi về Thuận
lưu (Nam định). Mà Thảo điện của Huệ Tôn nguyên là ở
tại xóm Chi tác của cầu Tây dương. Như vậy cứ hành trình
vừa kể của Huệ Tôn, Ngoại trại chắc phải là một tên
đất tại vùng Sơn tây.
Kết luận này càng tỏ ra đúng
đắn, khi ta bàn đến sự việc thứ hai, đây là chuyện núi
Phật tích ở Ngoại trại nứt. Núi Phật tích này đương
nhiên không phải là núi Lạn kha ở xã Phật tích, huyện Tiên
du, tỉnh Bắc ninh. Nó phải là núi Phật tích mà An nam chí
lược 1 tờ 22 nói: "vì trên đá có dấu chân, nên có tên
đó". Và núi đó theo Ðại nam nhất thống chí, tỉnh
Sơn tây, mục Sơn xuyên, không gì hơn là Sài sơn hay núi Thầy,
hiện ở hai xã Thụy khê và Thiên phúc, huyện Quốc oai tỉnh
Hà tây ngày nay. Ðất Ngoại trại của Thần Nghi như vậy
phải rơi vào vùng huyện Quốc oai này, nếu không phải là
giới hạn vào hai xã Thụy Khê và Thiên phúc, nơi đấy hiện
đang có núi Phật tích. Toàn thư B10 tờ 22a3 cũng kê
Ngoại trại như một trận địa giao tranh giữa quân ta và
bọn xâm lược Minh vào hôm 6-11-1426, và nó chắc nằm sát
Cổ sở, tức làng Yên sở, huyện Hoài đức, tỉnh Hà đông
ngày nay. Có người không hiểu Ngoại trại ở đây của Toàn
thư là một địa danh, bèn dịch thành "doanh trại ngoại
vi".
(3) Bồ Ðề Ðạt Ma chết chôn
trên núi Hùng nhĩ, tháp được dựng tại chùa Ðịnh lâm.
Xem Truyền đăng lục 3.
(4) Nhà Bắc Ngụy, Hiếu Trang
Ðế, năm Vĩnh An thứ 3 (530), Tống Vân đi sứ Tây vực, gặp
Ðạt Ma tại Thông lĩnh. Trang Ðế nghe sự lạ bèn quật mồ,
chỉ thấy còn lưu lại một chiếc dép. Do đó có thiền thoại
"chích lý tây quy". Xem Truyền đăng lục 3 tờ 220a-b.
(5) Tục ngữ thường được
dùng trong thiền: nhất khuyển phê hư hoặc cũng nói là nhất
nhân tác hư vạn nhân truyền thật. Xem truyện Diên Chiểu
trong Truyền đăng lục 13 tờ 303a28-29, truyện Chân giác
18 tờ 82 352b2 và truyện Thủ Trừng quyển 20 tờ 368a21-23.
Nguyên xuất xứ nó là trong Thiên Hiền nạn của Tiềm phu
luận: "Nhất khuyết phệ hình, bách khuyến phệ thanh…" Xem
Tiềm phu luận 1 tờ 23a5.
(6) Về Chiếu đối bản,
xem chú thích (3) truyện Biện tài.
(7) Nguyễn Ðại Ðiên (? –
1110) chắc chắn là sư Ðại Ðiên đánh chết cha của Ðạo
Hạnh, để rồi bị Hạnh đánh chết lại trong truyện Ðạo
Hạnh. Xem chú thích (8) truyệ? Ðạo Hạnh.
Còn Nguyễn Bát Nhã tức Thiền
sư Bát Nhã chùa Từ quang phúc thánh ở làng Dịch vương, Trương
Canh, tức huyện Hoài đức, tỉnh Hà tây ngày nay. Sư là đệ
tử của Thảo Ðường. Xem Thiền uyển tập anh tờ 71b6.
(8) Nguyên văn: Sư dĩ chiếu
sở thọ đồ bản. Hai chữ đồ bản trong đó, chúng tôi hiểu
là Nam tôn tự pháp đồ và Chiếu đối bản.
(9) Tức huyện Lục ngạn, tỉnh
Bắc giang ngày nay. Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Bắc
ninh, mục Phần dã, viết: "Huyện Lục ngạn, đời Trần hồi
trước gọi là Na ngạn. Thuở đầu, thời thuộc Minh chia làm
hai huyện Na ngạn và Lục ngạn (đúng ra là Lục na), sau gồm
vào Lục ngạn. Triều ta nhân theo".
Về Ẩn Không, nay ta không biết
một tí gì hết ngoài những điều đã ghi ở đây.
37.THIỀN SƯ TỨC LỰ
(1) Tức khoảng địa phận
quanh làng Phù cầm, huyện Từ sơn, tỉnh Hà bắc hiện nay.
Về bàn cãi xem chú thích (3) truyện Ðịnh Hương.
(2) Mãi quỷ, một tên khác
của chim đỗ nguyên hay chim cuốc.
(3) Tội ngũ nghịch tức năm
tội trọng, đấy là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, gây
đỗ máu nơi thân Phật, phá hoại sự hòa hợp của chúng
tăng.
Tội thất già tức bảy trọng
tội không cho phép của một người được thọ giới Bồ
tát, đấy là: "Gây đổ máu nơi thân Phật, giết cha, giết
mẹ, giết Hòa thượng, giết A xà lê, phá yết ma chuyển pháp
luân, giết thánh nhân". Xem Phạm võng kinh quyển hạ tờ 1008.
(4) Phi nhân: tức loài quỷ
thần thông không phải là loài người.
38.THIỀN SƯ HIỆN QUANG
(1) Bắc thành địa dư chí
lục 2 viết: "Núi Yên tử ở tại xã Nam mẫu huyện Ðông
triều, một tên là Tượng sơn. Long mạch chi tả bổ xuống
làm tổ các núi ở Hải dương. Cứ Ðồ kinh thì núi ở hương
Cấn. Mạch Quyết nói: "Nó nở như sen, nó bay như diều, hai
cái không đều, sinh nhiều ngỗ nghịch". Hải nhạc danh sơn
đồ đời Tống cho núi này là một trong bốn đất phúc. Xưa,
An Kỳ Sinh đời Hán tu luyện ở đấy. Trên núi (Tiên) có
chùa gọi Hoa yên, gọi Tử tiêu, lại có khe tên Giải oan,
tên Long hàm, khéo léo thanh vắng, thật là một bồng đảo
của thiên nhiên…". Xem thêm Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Hải dương, mục sơn xuyên.
(2) Chuyện người cùng tử
trong kinh Pháp hoa, sau một thời gian trôi giạt gặp bất ngờ
cha mình trong cảnh giàu sang tột bực, nhưng không nhận ra
đó là cha, mà chỉ bằng lòng nhận thân phận nô dịch. Xem
Diệu pháp liên hoan kinh tờ 16b25.
(3) Ðại Việt sử lược
3 tờ 10a11: "Trinh Phù năm thứ 5 (1180) mùa đông cho thủ lãnh
châu Vị long Hà Công Phụ cưới công chúa Hoa Dương". Công
chúa Hoa Dương như vậy là con của Lý Anh Tôn.
(4)Nguyên văn: Khấp kỳ. Từ
lấy ra ở thiên Nghi tợ của Lã thị xuân thu 22 tờ
21b12-13 về việc "Mặc tử thấy đường rẽ mà khóc". Thiên
Thuyết lâm của Hoài nam tử 17 tờ 13b13-14 giải rõ hơn: "Dương
tử thấy đường rẽ mà khóc vì nó có thể đi về nam hay
bắc".
(5) Bố Ðại hòa thượng (…)
thường dùng một cây gậy quảy một túi vải trên vai, viên
tịch đời Lương, niên hiệu Trinh Minh thứ hai (916). Xem Truyền
đăng lục 27 tờ 434a19.
(6) Các sư tăng có lệ cấm
túc, giới hạn trong một khu vực, trong một thời gian không
ra khỏi giới hạn đó. Cuộc cấm túc này có lẽ xảy ra vào
năm 1212, mà Ðại Việt sử lược 3 tờ 24a10 ghi lại
việc Lý Huệ Tôn cùng thái hậu đến trước Phật thệ rằng:
"Trẫm đem sức mọn mà trộm nối ngôi quí, đến nỗi phải
gặp loạn ly, sắp đổ sự nghiệp trước, thậm chí cung giá
phải dời đổi nhiều lần. Nay muốn lãnh ngôi trời để
nhường cho người hiền đức" nói xong, vua lấy dao muốn cắt
tóc thì (Trần) Tự Khánh đốt sạch cung điện như Ðại
Việt sử lược 3 tờ 26b4 ghi. Ðiện Vũ nghi không thấy
tên trong sử.
(7) Hứa Do là tên nhà cao sĩ
đời thượng cổ Trung quốc, trước ở ẩn tại Bãi trạch,
vua Nghiêu đem thiên hạ nhường cho, bèn không nhận, rồi trốn
đến dưới núi Cơ ở Dĩnh thuỷ cày ruộng. Vua Nghiêu lại
mời làm Cửu chân trưởng. Hứa Do không muốn nghe, bèn đến
bên sông Dĩnh lấy nước rửa lỗ tai mình.
(8) Tự ngu tập này nghi có
thể là tác phẩm của Ngu Ông, một trong những đệ tử của
Tiêu Diêu.
39.CƯ SĨ ỨNG VƯƠNG
(1) Truyện của Tức Lự nói:
"Ứng Thuận cư sĩ, ấy là pháp tự của Lự". Nhưng không
hiểu sao đây gọi Ứng Vương, hoặc chữ Vương là một khắc
sai của chữ Thuận. Hoặc là cách gọi để tỏ lòng tôn kính
như trường hợp Thông Sư.
(2) Phường Hoa thị này không
biết thuộc phường nào của thủ đô Hà nội.
(3) Tức triều Trần Thái Tôn
(1225-1257). Khi Thái Tôn mất vào năm 1277 và đem táng vào lăng
thì lăng của Thái Tôn gọi là Chiêu lăng. Xem Toàn thư B5
tờ 36a5.
(4) Cứ Lược dẫn thiền
phái đồ trong Thượng sĩ ngữ lục tờ 7b thì Tiêu
Diêu là đệ tử của Ứng Thuận và là thầy của Tuệ Trung.
Ngoài Tiêu Diêu ra, nó còn cho biết Quốc Nhất, Ðạo Sư, Quế
Thâm và Chân Giám là những đệ tử khác của Thuận. Và ngoài
Tuệ Trung ra, thì Thạch Ðậu Vị Hải, Ðạo Tiềm, Thân Tán,
Lại Tản, Thạch Lâu, Thôn Tăng, Thủ Nhân, Ngu Ông và Vô Sở
là đệ tử của Tiêu Diêu.
Thượng sĩ hành trạng
trong Thượng sĩ ngữ lục tờ 38a8-b1 nói: "(Tuệ Trung)
lúc còn để chỏm, rất chuộng cửa Không, đến học Thiền
sư Tiêu Diêu ở Phước Ðường, hiểu được yếu chỉ, dốc
lòng thờ làm thầy". Còn bài tựa do Huệ Nguyên viết năm
1763 trong Thượng sĩ ngữ lục tờ 3b1-3 nói: "Thượng
tổ Tiêu Diêu… vừa đến nước ta, đã thoát thế vô y, cầm
câu không lưỡi mà vào kinh thành". Như thế Diêu chưa hẳn
là người nước ta. Lời tựa đây cũng nói Thượng sĩ
ngữ lục là một tác phẩm của Tiêu Diêu.
Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ Tiêu
Diêu chắc quê quán Phước đường tại vùng Thanh từ ngày
nay.
40. Thiền sư Tỳ Ni Ða Lưu
Chi
(1) Ðối chiếu với các tư
liệu Trung Quốc:
(a) Lịch đại tam bảo ký 10
tờ 102c3-9: "Tam tạng tháp sư Tỳ Ni Ða Lưu Chi nước Ô trượng,
Bắc Thiên trúc. Tùy dịch là "Diệt hỷ". Khi đã nghe đức
Hoàng đế ta phục hưng Tam bảo, nên có thể không cho 500 do
tuần là xa, bèn chống gậy nhắm phương đến xem sự thạnh
hóa đến mức nào. Bèn được mời vào, sai dịch kinh, tức
ở nơi chùa Ðại hưng thiện dịch ra (kinh Tượng đầu tinh
xá và Ðại thừa phương quảng tổng trì). Cấp sự Lý Ðạo
Bảo và thứ tử của Bát Nhã Lưu Chi là Ðàm Bì, hai người
truyền dịch. Sa môn chùa Ðại hưng thiện là Thích Pháp Toản
từ Trường an bút thọ thành chữ Hán, cùng chỉnh đốn so
sánh văn nghĩa, Sa môn Ngạn Tôn viết tựa cho cả hai".
(b) Ðại Ðường nội điển
lục 5 tờ 275a14-19 chép như (a)
? Tục Cao tăng truyện
2 tờ 433b2-5 chép y như (b)
(d) Khai nguyên Thích giáo
lục 7 tờ 547c8-14 đại cương chép như (a) nhưng thêm chi
tiết là các kinh kể trên "dịch vào năm Khai Hoàng thứ 2 (582)
Nhâm dần đời Văn Ðế", và thêm đính chính rằng "Trường
Phòng tức (a) nói phiên dịch tại chùa Ðại hưng thiện là
sai".
(e) Trinh nguyên tân định Thích
giáo mục lục 10 tờ 646a8-14 chép như (đ). So sánh các tư liệu
Trung Quốc vừa dẫn với nhau, ta thấy ngay một điểm bất
thường nổi bật ngay, đấy là việc Khai nguyên Thích giáo
lục nói Lịch đại tam bảo ký ghi Tỳ Ni Ða Lưu Chi dịch
những kinh của ông tại chùa Ðại hưng thiện là sai, nhưng
không nói rõ nếu đúng thì dịch chúng ở đâu. Lịch đại
tam bảo ký do Phí Trường Phòng viết xong năm 597, còn Khai
nguyên Thích giáo lục do Trí Thăng soạn năm 730. Việc Thăng
phản đối Phòng về nơi dịch Kinh của Tỳ Ni Ða Lưu Chi rõ
ràng muốn nói rằng Tỳ Ni Ða Lưu Chi không bao giờ dịch kinh
tại chùa Ðại hưng thiện cả. Ngược lại, Tỳ Ni Ða Lưu
Chi đã dịch chúng ở những nơi khác. Nhưng nới khác đây
là nơi đâu, Thăng không nói. Do thế, Thiền uyển tập anh
không phải là không có lý, khi nói Tỳ Ni Ða Lưu Chi dịch
kinh Tượng đầu ở Quảng Châu và kinh Tổng trì ở nước
ta, dầu rằng nó có xuất hiện hậu kỳ. Từ kết luận đây,
những chi tiết khác liên quan đến Tỳ Ni Ða Lưu Chi do Phòng
ghi lại vị tất là có thể đáng tin hoàn toàn. Sự thực,
nếu Tỳ Ni Ða Lưu Chi không dịch kinh tại chùa Ðại hưng
thiện, thì việc "mời vào khiến dịch kinh" khó có thể tin
được.
(2) Cương mục chính biên
3 tờ 32a1-3 nói: "Chùa Pháp vân ở tại thôn Văn giáp huyện
Thượng phúc tỉnh Hà nội. Tương truyền một hôm mây mưa
sấm chớp nổi lớn, cây si ngã xuống, người trong thôn lấy
gỗ nó khắc tượng dựng chùa thờ, nên có tên đó". Xác
định chùa Pháp vân như vậy, các tác giả Cương mục đã
sử dụng tài liệu của Bắc thành địa dư chí lục 3, theo
đó "chùa Ðại Pháp vân, Pháp vũ, Pháp lôi, Pháp điện ở
làng Văn giáp, huyện Thượng phúc". Nhưng đương nhiên chùa
Pháp vân nói tới đây không phải là chùa Pháp vân làng Cổ
châu, Long biên, mà thực ra chùa Pháp vũ hay chùa Thành đạo
hay chùa Ðậu, nơi thờ Pháp vũ. Vậy chùa Pháp vân làng Cổ
châu là chùa nào?.
Làng Cổ châu, Long Biên, nay
gồm đất làng Khương tự huyện Thuận thành tỉnh Bắc ninh.
Tại làng này hiện có một chùa tên Diên ứng và một cây
tháp tên Hoà phong.
Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Bắc ninh, mục Tự quan viết: "Chùa Diên ứng ở xã Khương
tự, huyện Siêu loại, có bốn tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp
Lôi và Pháp Ðiện rõ có linh tích. Ðời Trần, Mạc Ðĩnh
Chi dựng chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp, di
chỉ nay còn. Xét Pháp vân Phật truyện thì lúc Sĩ Nhiếp làm
Thái thú cai trị thành Luy lâu, sư Khâu Ðà La ở tại núi
xanh phía tây của thành. Có người con gái của Tu Ðịnh là
A Man bị Sư đụng đến, mà có thai sinh một đứa bé gái.
Sư đem bỏ vào trong một cây lớn ở rừng sâu. Sau gió mưa
nổi lớn, cây trốc gốc, trôi nổi trong sông, trôi đến bến
Luy lâu. Người ta lấy làm lạ, vớt lên bờ, sai thợ đẽo
bốn pho tượng Phật, dựng chùa gọi là chùa Thiền định…tức
nay chùa Diên ứng…, đặt bốn pho tượng Phật phụng thờ.
Sau mỗi lần cầu mưa đều có linh ứng, người ta đặt tên
Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Ðiện và Pháp Lôi. Thập Di ký của
Lý Tế Xuyên nói người Cổ châu mỗi năm đến ngày mừng
Phật đản thì hội họp tại chùa Thiền định. Trần Nghệ
Tôn có ban mỹ hiệu. Sử nhà Lê chép: Năm Thái Hòa thứ 6
đời Nhân Tôn sai Lê thái úy đến Cổ châu rước Phật Pháp
vân về đến chùa Báo thiên ở kinh thành để cầu mưa".
Chùa Pháp vân ở Cổ châu,
Long Biên tức chùa Diên ứng hay chùa Dâu tại xã Khương tự
huyện Thuận thành tỉnh Bắc ninh ngày nay.
(3) Tức nam Ấn. Nhưng các tư
liệu Trung Quốc, đã dẫn đều nói người bắc Thiên trúc,
tức bắc Ấn.
(4) Nguyên bản viết "Nhâm ngọ"
là sai, Trần Ðại Kiến thứ 6 năm Giáp ngọ.
(5) Phật tổ lịch đại thông
tải 10 tờ 557a: Năm Giáp ngọ, Chu Vũ Ðế, niên hiệu Kiến
Ðức thứ 3 (574), tháng 5, ngày 17, xuống chiếu hủy Phật.
(6) Nghiệp, bây giờ là kinh
đô nhà Bắc Tề.
(7) Tổ Tăng Xán, sau khi được
truyền pháp, đến ẩn cư trong núi Hoàn công, Thư châu. Gặp
lúc Chu Vũ Ðế phá diệt Phật pháp, ngài lánh sang núi Tư
không, huyện Thái hồ sống không nhất định một nơi nào,
trải qua 10 năm…Ðến Tùy Khai Hoàng 12 (592), truyền pháp cho
Ðạo Tín. Xem Truyền đăng lục 3, ÐTK 2078, tr. 221c.
(8) Các tư liệu Trung Quốc,
xem chú thích (1) trên đều ghi như nhau. Sư dịch 2 tác phẩm:
(a) Tượng đầu tinh xá kinh
1 quyển (xem ÐTK.466). Chú thích của Trường Phòng (sđd. 102c1):
"Năm Khai Hoàng thứ 2 (502), tháng 2 dịch. Bản dịch lần thứ
2, cùng nguyên bản với kinh Già da sơn đỉnh (xem ÐTK.465)".
(b) Ðại phương quảng tổng
trì kinh, 1 quyển (xem ÐTK.275). Ghi chú của Trường phòng (sđd):
"Khai Hoàng, năm thứ 2, tháng 7, dịch".
(9) Nghiệp báo sai biệt kinh,
1 quyển; gọi đủ là: Phật thuyết thủ trưởng giả nghiệp
báo sai biệt kinh, đời Tùy, Cù Ðàm Pháp Trí dịch (xem ÐTK.80)
Ghi chú của Trường Phòng: "Khai Hoàng năm thứ 2, tháng 2, dịch…"
Bản dịch của Tỳ Ni Ða Lưu Chi phải chăng đã mất và chắc
chắn nội dung không phải thuộc loại kinh này. Bởi vì học
lý của Tỳ Ni Ða Lưu Chi xuyên qua hai bản dịch trên, không
thể nào để cho ông dịch một tác phẩm với một học lý,
như nó thể hiện trong bản dịch Nghiệp báo sai biệt kinh
ngày nay.
(10) Tăng Xán, Tín tâm minh tờ
376b 22-23:
Viên đồng thái hư
Vô khuyết vô dư
Lương do thủ xả
Sở dĩ bất như.
Cũng xem Truyền đăng lục
30 tờ 457a 21-22.
(11) Kiến văn tiểu lục
4 tờ 13a1-3 chép:
Phi Tích lai Nam
quốc
Văn quân cửu tập thiền
Ứng khai chư Phật tín
Viễn hiệp nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng già nguyệt
Phần phần bát nhã liên
Hà thời tái đắc kiến
Tương dự thoại trùng huyền.
Những chữ in nghiêng là
khác với chữ trong bản in 1715 ở đây.
41.THIỀN
SƯ
PHÁP
HIỀN
(1)
Tức
núi
Tiên
du
ở
xã
Phật
tích,
huyện
Tiên
du,
tỉnh
Bắc
ninh.
Xem
chú
thích
(1)
truyện
Thiền
Lão.
(2)
Cương
mục
tiền
biên
2
tờ
10b1-2
nói:
"Huyện
Chu
diên,
đời
Hán
đặt
thuộc
quận
Giao
chỉ,
đời
Ðường
đổi
làm
Diên
châu,
đời
Lê
ở
phủ
Tam
đái,
nay
tức
đất
phủ
Vĩnh
tường,
tỉnh
Sơn
tây".
Nhưng
cả
Tùy
thơ
21
tờ
7b8
lẫn
Cựu
Ðường
thư
41
tờ
42b11
đều
nói
Chu
diên
là
đất
Vũ
bình
thời
trước.
Ngoài
ra,Nguyên
hòa
quận
huyện
đồ
chí
38
tờ
13a1
và
Thái
bình
hoàn
vũ
ký
170
tờ
10a5
lại
ghi
Chu
diên
ở
về
phía
đông
nam
của
trị
phủ
Giao
châu,
mà
sau
này
Ðộc
sử
phương
dự
kỷ
yếu
112
tờ
8a3
chép
lại,
nghĩa
là
Chu
diên
ở
về
phía
đông
nam
của
thủ
đô
Hà
Nội
ngày
nay.
Phần
đất
của
nó
như
vậy
bao
gồm
trong
tỉnh
Hưng
yên.
Kết
luận
này
tỏ
ra
hợp
lý,
bởi
vì
đất
Quận
Bình,
chúng
ta
đã
đồng
nhất
với
đất
những
huyện
Tiên
lữ,
Ân
thi,
Khoái
châu,
Kim
động,
Phù
Cừ,
tỉnh
Hưng
Yên.
Xem
chú
thích
(2)
truyện
Tịnh
Lực.
Hơn
nữa
truyện
Ðạo
Lâm
tờ
66b3
nói
Lâm,
người
Cửu
cao,
Chu
diên.
Cứ
Ðại
Việt
lịch
triều
đăng
khoa
lục
2
thì
Cửu
cao
là
tên
một
ngôi
làng
thuộc
"hạt
Gia
lâm",
nơi
xuất
thân
của
những
tiến
sĩ
Trần
Văn
Bính
khoa
năm
1505,
Vũ
Hữu
Nghiêm
khoa
năm
1514
v.v…,
và
khoảng
đến
năm
1706
thì
đổi
thành
làng
Thượng
tốn,
khi
có
Ðỗ
Công
Ðỉnh
đỗ
đệ
tam
giáp
đồng
tiến
sĩ
xuất
thân.
Như
thế,
địa
phận
của
Chu
diên
đời
Lý
phải
gồm
luôn
tối
thiểu
phần
đất
phía
đông
nam
của
huyện
Gia
lâm,
tỉnh
Bắc
ninh
ngày
nay.
Từ
đó,
quê
của
Pháp
Hiền
tất
phải
nằm
khoảng
huyện
Gia
lâm,
tỉnh
Bắc
ninh
cho
đến
những
huyện
phía
bắc
tỉnh
Hưng
yên.
(3)
Tham
chiếu
Truyền
đăng
lục
về
cuộc
đối
thoại
đầu
tiên
giữa
Ðạo
Tín
và
Hoằng
Nhẫn:
"Một
hôm
Tín
đến
huyện
Hoàng
mai,
giữa
đường
gặp
một
đứa
trẻ
cốt
tướng
kỳ
vĩ,
khác
với
trẻ
thường.
Sư
hỏi:
"Con
họ
gì?"
Trẻ
đáp:
"Là
họ
Phật."
Sư
hỏi:
"Ngươi
không
có
họ
sao?"
Trẻ
đáp:
"Tánh
không
vậy".
Sư
lặng
biết
nó
là
một
bậc
tài
giỏi
của
đạo,
liền
sai
người
hầu
đến
nhà
nó
gặp
cha
mẹ,
xin
cho
nó
xuất
gia.
Cha
mẹ
cho
là
có
duyên
xưa,
nên
không
có
chút
vẻ
làm
khó
khăn,
liền
cho
đi
làm
đệ
tử,
có
tên
gọi
Hoằng
Nhẫn".
Xem
Truyền
đăng
lục
3
tờ
222b10-16.
(4)
Tục
Cao
tăng
truyện
18
tờ
573b25-c14
trong
truyện
của
Ðàm
Thiên
ghi
rõ
là
vua
Tùy
Cao
Tổ
ban
xá
lợi
gồm
cả
thảy
ba
lần.
Lần
đầu
cho
30
châu
chỗ
ở
hơn
ba
mươi
châu
vào
tháng
6,
năm
Nhân
Thọ
thứ
nhất
(601).
Lần
thứ
hai
cho
51
châu
khác
vào
tháng
giêng
năm
sau.
Và
lần
thứ
ba
vào
tháng
giêng
năm
Nhân
Thọ
thứ
4
(604),
ra
lệnh
các
châu
lớn
xây
thêm
hơn
một
trăm
bảo
tháp,
để
nhận
thêm
xálợi.
Cứ
Xá
lợi
cảm
ứng
ký
trong
Quảng
hoằng
minh
tập
17
tờ
216b10
thì
lần
ban
xá
lợi
thứ
nhất,
chùa
Thiền
chúng
của
Giao
châu
được
chọn
làm
một
trong
30
chỗ
xây
tháp
của
Cao
Tổ.
Nhưng
năm
đó,
cứ
Ðại
Việt
sử
ký
ngoại
kỷ
toàn
thư
4
tờ
23a1-8
và
Tùy
thư
2
tờ
10a6-7,
nước
ta
hiện
đang
là
một
nước
độc
lập
dưới
quyền
lãnh
đạo
của
Lý
Phật
Tử,
thì
làm
sao
Cao
Tổ
có
thể
ban
xá
lợi
qua
được.
Hơn
nữa,
nếu
việc
dẫn
Pháp
sư
Ðàm
Thiên
truyện
ở
trên
của
Thông
Biện
có
thể
tin
được,
thì
hai
năm
sau,
tức
504,
khi
mà
chính
quyền
dân
tộc
của
Lý
Phật
Tử
đã
bị
Lưu
Phương
đánh
dẹp,
và
khi
mà
Cao
Tổ
có
những
báo
cáo
rõ
ràng
về
tình
hình
Giao
châu,
Cao
Tổ
đang
còn
lo
cho
việc
Giao
châu
được
giáo
hóa
theo
Phật
giáo.
Nếu
vậy,
Giao
châu
làm
gì
mà
được
chọn
làm
một
chỗ
thanh
tịnh
giữa
30
mươi
chỗ
khác
của
Trung
Quốc?
Cho
nên,
chắc
phải
sau
năm
602
khi
Lưu
Phương
đã
dụ
hàng
thành
công
Lý
Sư
Lợi,
người
con
nối
nghiệp
của
Lý
Phật
Tử,
thì
mới
có
chuyện
ban
xá
lợi
cho
Giao
châu.
Việc
ban
năm
hòm
xá
lợi
cùng
một
lần
do
thế
là
một
có
thể,
và
việc
Pháp
Hiền
chọn
chùa
Pháp
vân,
chứ
không
phải
chùa
Thiền
chúng
của
Xá
lợi
cảm
ứng
ký
làm
nơi
xây
bảo
tháp
là
một
sự
thực.
(5)
Xá
lợi
cảm
ứng
ký
của
Quảng
hoằng
minh
tập
17
tờ
216b10
nói
xây
tháp
tại
chùa
Thiền
chúng
để
cúng
dường
xá
lợi
ở
Giao
châu.
Nhưng
đây
nói
là
"xây
ở
chùa
Pháp
vân
của
Luy
lâu",
thì
tỏ
ra
đúng
sự
thực
hơn.
Cứ
Ðại
Việt
sử
lược
2
tờ
6a5-7
thì
vào
năm
1034
"các
nhà
sư
Pháp
vân
ở
Cổ
châu
dâng
thư
nói
rằng
trong
chùa
phóng
ánh
sáng
ra
vài
luồng,
theo
ánh
sáng
đó
mà
đào
lên
thì
được
hòm
đá
một
hòm,
trong
hòm
có
hòm
bạc,
trong
hòm
bạc
có
hòm
vàng,
trong
hòm
vàng
có
bình
lưu
ly,
trong
bình
có
xá
lợi".
Cái
hòm
nói
đến
đến
đây
dĩ
nhiên
là
cái
hòm
xá
lợi
mà
Tùy
Cao
Tổ
đã
ban,
bởi
vì
theo
Xá
lợi
cảm
ứng
ký
của
Quảng
Hoằng
minh
tập
17
tờ
213a18-22
đã
mô
tả
với
một
sai
khác
không
quan
trọng
là,
thay
vì
bình
bạc,
nó
có
bình
đồng
bên
trong
bình
đá.
(6)
Cương
mục
tiền
biên
1
tờ
1b7-2a3
viết:
"Phong
châu,
sử
cũ
chua
là
Bạch
hạc.
Ðịa
lý
chí
đời
Ðường
nói
Phong
châu
gồm
năm
huyện.
Thái
Bình
hoàn
vũ
ký
của
Nhạc
sử
chép
quận
Thừa
hóa
của
Phong
châu
tức
nước
Văn
lang
xưa.
Thế
thì,
Phong
châu
tức
nay
thuộc
địa
hạt
cả
phủ
Vĩnh
Tường
và
Lâm
thao,
tỉnh
Sơn
tây.
(7)
Cương
mục
tiền
biên
4
tờ
15b2-6
viết:
"Hoan
châu
xưa
là
bộ
Hoài
hoan
đời
Hùng
Vương,
đời
Tần
thuộc
Tượng
quận,
đời
Hán
thuộc
quận
Nhật
Nam,
đời
Lương
đổi
Ðức
châu.
Ðời
Tùy
Khai
Hoàng
đổi
Hoan
châu,
khoảng
Ðại
Nghiệp
đổi
Nhật
nam,
Ðời
Ðường
Trinh
Quán
lại
đặt
Hoan
châu.
Ðời
Ðinh
Lê
nhân
theo.
Ðời
Lý
đổi
làm
châu
Nghệ
an.
Ðời
Trần
cải
trấn
Lâm
Giang.
Ðời
thuộc
Minh
là
các
phủ
Nghệ
An
và
Diễn
Châu.
Ðời
Lê
Quang
Thuận
đặt
Nghệ
An
Thừa
tuyên.
Nay
là
tỉnh
Nghệ
An".
Ðất
Hoan
châu
hiện
nay
thuộc
tỉnh
Nghệ
tĩnh.
(8)
Cương
mục
tiền
biên
4
tờ
20b1-2
nói:
"Trường
châu,
xưa
là
bộ
Vũ
định,
nay
là
tỉnh
Tuyên
quang".
Nhưng
Cựu
Ðường
thư
41
tờ
42a11-12
nói
Trường
châu
ở
phía
Tây
nam
của
giao
châu,
còn
Ái
châu
ở
phía
tây
của
châu
đó.
Ngoài
ra,
ở
tờ
44b8-9
nó
viết:
"Trường
châu,
thổ
tục
nó
giống
với
Cửu
chân.
Ðời
Ðường
đặt
Trường
châu.
Năm
tháng
bắt
đầu
nó
nay
đã
mất.
Năm
Thiên
bảo
thứ
nhất
(742)
đổi
làm
quận
Văn
dương.
Năm
Càn
Nguyên
thứ
nhất
(758)
lại
đặt
Trường
châu,
gồm
bốn
huyện
Văn
dương,
Ðồng
thái,
Trường
Sơn
và
Kỳ
thường,
đều
cùng
đặt
với
châu
một
lần".
Cứ
vào
báo
cáo
đó
của
Cựu
Ðường
thơ
thì
Trường
châu
rõ
ràng
phải
rơi
vào
địa
phận
những
tỉnh
Ninh
bình,
Nam
định
ngày
nay,
chứ
có
thể
nào
lại
ở
tại
tỉnh
Tuyên
quang,
như
Cương
mục
đã
có.
Bởi
vì
không
những
thổ
tục
ở
Trường
châu
giống
Ái
châu,
mà
ngay
cả
vị
trí
của
chúng
cũng
liên
tiếp
nhau,
đây
là
Trường
châu
ở
phía
tây
nam
tị
phủ
Giao
châu,
trong
khi
Ái
châu
ở
phía
tây.
(9)
Cựu
Ðường
thư
41
tờ
43b8
nói:
"Ái
châu,
đời
Tùy
là
quận
Cửu
chân.
Năm
Vũ
Ðức
thứ
5
(622)
đặt
Ái
châu,
gồm
bốn
huyện
Cửu
chân,
Tùng
nguyên,
Dương
sơn
và
An
Ðịnh".
Ðại
nam
nhất
thống
chí
16,
tỉnh
Thanh
hóa,
mục
Kiến
trí
diên
cách
nói:
"Tỉnh
Thanh
hóa,
xưa
thời
Hùng
Vương
là
quận
Cửu
chân,
Ðời
Lưỡng
Hán
nhân
theo
tên
quận
cũ
thuộc
Giao
chỉ.
Ðời
Ngô
năm
Nguyên
Hưng
thứ
1
(264)
phân
một
huyện
của
quận
Cửu
chân,
mà
đặt
quận
Cửu
đức.
Ðời
Tấn
và
Tống
nhân
theo.
Ðời
Nam
Tề
lúc
đầu
ở
quận
Cửu
chân
đặt
thêm
Cao
an,
Quân
an
và
Ðô
lung
mà
làm
thành
10
huyện.
Vua
Vũ
Ðế
lấy
quận
Cửu
chân
làm
Ái
châu,
và
tên
Ái
châu
bắt
đầu
từ
đây.
Ðời
Tùy
lúc
đầu
thì
gọi
Ái
châu,
sau
đổi
tên
gọi
là
quận
Cửu
chân
gồm
7
huyện.
Ðời
Ðường
gọi
Ái
châu
gồm
huyện
Cửu
chân
6
huyện.
Ðời
Minh
phân
làm
đạo.
Ðời
Lê
đổi
làm
lộ.
Ðời
Lý
năm
Thuận
Thiên
thứ
1
(1010)
đổi
làm
trại,
sau
cải
làm
phủ
Thanh
hóa…Xem
việc
ghi
thời
Lý
Nhân
Tôn,
tên
Thanh
hóa
bắt
đầu
từ
đây.
Ðời
Trần
năm
Thiên
Ứng
Chính
Bình
11
(1242)
định
làm
lộ
Thanh
hóa.
Năm
Nguyên
Phong
thứ
3
(1253)
đổi
làm
trại.
Trong
khoảng
Thiệu
Long
lại
làm
lộ
gồm
sở
thuộc
ba
lộ
Thanh
hóa,
Cửu
chân
và
Ái
châu,
sau
gọi
là
trấn…Ðời
thuộc
Minh
gọi
là
phủ
Thanh
hóa.
Lê
Quang
Thuận
năm
thứ
1
(1460)
thuộc
đạo
Hải
tây.
Năm
Quang
Thuận
thứ
7
(1466)
đặt
Thanh
hóa
thừa
tuyên.
Năm
thứ
10
(1469)
cải
làm
Thanh
hóa