- NGHIÊN CỨU
VỀ
- THIỀN
UYỂN TẬP ANH
Tiến sĩ Lê Mạnh
Thát
Nhà
Xuất Bản TP.HC1999
--o0o--
PHẦN
II
BẢN
DỊCH THIỀN UYỂN TẬP ANH
--o0o--
BÀI TỰA
IN LẠI THIỀN UYỂN TẬP ANH
(1a1)
Thiền uyển tập anh, sao
dùng nghĩa đó? Xin thưa, dùng sự anh tú của nó làm nghĩa
vậy. Sao thế?
Người theo Thiền tôn cố nhiên
là nhiều, nhưng kẻ biết lẽ huyền thật ra lại hiếm: chính
như một con phụng giữa bầy gà, một cây lan trong đám cỏ.
Nếu chẳng phải phú bẩm anh dị, tri kiến siêu quần, làm
sao thấu được ý chí huyền vi, để có thể làm lãnh tụ
cho kẻ hậu học và mô thức cho người đời sau?
Ðáng tin thay! Trong vườn Thiền,
người anh kỳ là hiếm, nhân đấy trích lấy những bậc danh
công, thạc đức để làm tỏ sự tổ thuật của Thiền học.
Nên cái nghĩa của Tập anh chính do đó mà có tên.
Kể từ hỗn độn bắt đầu,
bấy giờ có Phật Uy Âm xuất thế (1), sáng làm tị tổ của
Thiền tôn. Nhưng thời ấy, tục còn thuần hậu, người nhiều
chất phác, kinh giáo ở tại hư không (1b1), không cần nói
ra để làm máy hóa độ. Kẻ nào lấy ma làm Phật kẻ đó
trá ngụy ngày càng sinh, gian dâm ngày càng dấy, nghiệp nợ
kết đầy, chướng tội thêm thẳm. Nếu chẳng dùng đến
thuyền từ cứu vớt, thì chẳng thể được.
Cho nên cha cả Thích Ca xuất
hiện ở Ta Bà (2), vì họ mà nói ra kinh kệ, dạy dỗ chúng
sanh, chín kiếp vượt tu(3), công thành quả mãn. Do thế, Phật
giáo đại hành, Thiền tôn tiếp nối, như gió thổi qua sáu
nẻo (4), để đem mát lành, tuyết rơi trên ba đường (5) để
dẹp nóng dữ. Bí quyết thành Phật làm Tổ, từ đó mới
mở được mối manh.
Nước Ðại Việt ta, lời Phật
thấm nhuần khắp cả, mưa pháp sóng gội nhiều nơi, cắt
tóc xuất gia, chứng ấn ngộ không thì cũng có người. Về
hành tích, lòng Thiền họ sáng như mặt trời, gương đạo
trong như giá băng. Có người ra đời để giúp nước an dân,
có kẻ nhập thế để đỡ ngã, vớt chìm. Có người sớm
ngộ ấn tâm, chống gậy làm thần diệu cơ mầu của Ðạt
Ma (6) (2a1). Có kẻ muộn vào cửa Thiền, chú sen (7) khiến
hiển hiện bí quyết của Ðồ Trừng. Còn những vị, chim
rừng chuộng niềm đức, nghe kinh trong cửa, dã thú mến lòng
nhân, cửa bếp dâng cơm. Ðó là lòng thành cảm cách đã hiệp,
chỗ học thần hóa được xong, há chẳng là sự mầu nhiệm
của bốn mắt nhìn nhau ư ! Thật đã đủ để làm bậc anh
tú trong vườn Thiền vậy.
Ôi ! Phật đạo chí huyền,
mà lòng lại huyền ở trong huyền (8). Phật đạo rất lớn
mà lòng lại lớn ở trong lớn. Lòng ư ! Lòng ư ! Nó là cái
chủ tể của sự tu đạo ư !
Một sách Thiền uyển này,
bắt đầu từ Thiền sư Vô Ngôn Thông truyền đạo, đèn đèn
nối nhau, ánh ánh huy hoàng, song rút gọn lời dài, làm ngắn
chuyện rộng thì cũng đều cái lòng ấy là Chánh giác vô
thượng vậy. Xét nguyên do nó, nếu chẳng phải gột rửa
sáu trần, rời bỏ bốn tướng (9) mà có thể được như
thế sao?
Tôi ròng học sách Nho, xem(2b1)
thêm kinh Phật, xét về lý hữu vô của chúng, tuy nói là hai
đường, nhưng khảo về chỗ quy kỉnh thì tợ cùng một lẽ.
Nhân khi rảnh rỗi giảng dạy ở trường (10), gặp một bạn
thiền đến bàn lời Phật, đối thoại hồi lâu, là những
vấn đề lông rùa sừng thỏ. Ông nhân đó lấy ra từ trong
tay áo, có Tập anh một tập nhờ tôi chỉnh cú, để tiện
in lại, nhằm khỏi sai lầm. Tôi xem trong sách ấy có nhiều
cao thiền, danh tổ, học tu hết sức, chứng ngộ rất thiêng
bất giác ttrong lòng vừa kính vừa phục. Họ bàn không, nói
giác, đấy đương nhiên không phải nằm trong phần việc của
tôi.
Nhưng kinh Dịch có nói: "Trẻ
nhỏ cầu ta"(11). Cho nên, tôi không thể không theo lời xin
của ông để sửa lại những chữ thiếu và mất, thêm vào
những chỗ sót và thoát lạc. Trong khoảng tuần nhật, lời
văn nghĩa lý của sách này rõ ràng trở lại như xưa, không
kém gì ánh trăng thêm sáng. Ông nhân đó xin tôi một bài tựa
dùng để khắc vào đầu sách, nhằm hiển dương Phật giáo
(3a1). Tôi không tiếc công, cho gọi đứa ở đến trước mặt,
bảo lấy bút giấy, chuẩn bị viết lách, rồi thảo một
thiên lời quê. Ông nhân đó vái chào mà nhận. Cẩn tự.
In lại vào ngày tốt tháng
tư năm Lê Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715).
(3b1) Thác tích của Thiền tôn:
Thích tử Như Trí
Môn đồ: Sa di Tính Nhu
Tính Xuyến
Tính Trung
Tính Huy
Tính Kiến
Tính Bổn
Thiện nam tử Tính Phận
Tính Thành
Tính Từ
Tính Hưng
Tính Minh
Tính Băng
Thiện nữ nhân hiệu Diệu
Tặng
hiệu Diệu Ðạo
Tính Phụng
(4a1)
THIỀN UYỂN TẬP ANH
NGỮ LỤC
QUYỂN
THƯỢNG
1. THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG (1)
(759 – 826)
Chùa Kiến sơ, làng Phù đổng,
Tiên du (2). Sư vốn người Quảng châu, họ Trịnh, nhỏ đã
mộ đạo, không màng gia sản, đến thọ nghiệp tại chùa
Song lâm ở Vũ châu (3). Tính tình trầm hậu, ít nói, im lặng
mà biết, rõ hiểu mọi việc một cách tổng quát. Cho nên,
người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông {Truyền đăng gọi
Bất Ngữ Thông}.
Một hôm vào lúc Sư lễ Phật,
có một Thiền khách đến hỏi: "Tọa chủ lễ cái gì đó?"
Sư đáp: "Lễ Phật"
Thiền khách chỉ tượng Phật
hỏi: "Cái này là cái gì?" Sư không đáp được.
Ðêm đó Sư y phục nghiêm chỉnh
đến lạy thiền khách, thưa rằng: "Ðiều ngài hỏi khi nãy
tôi chưa biết ý chỉ như thế nào?"
Thiền khách hỏi: "Tọa chủ
xuất gia đến nay trải được mấy hạ?"
Sư thưa: "Mười hạ".
Thiền khách hỏi: "Lại từng
xuất gia chưa?"
Sư trở thành hoang mang.
Thiền khách bảo: "Nếu không
hiểu điều đó, thì dù có trăm hạ cũng chẳng ích gì !"
Rồi đem Sư cùng đến tham
vấn Mã Tổ (5). Ði tới Giang tây (6), thì Tổ đã tịch (4b1),
bèn đến yết kiến Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (7).
Bấy giờ có vị tăng hỏi:
"Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Ðại thừa?"
Bách Trượng đáp: "Ðất lòng
nếu không,
Trời tuệ tự chiếu (8).
Nghe xong Sư tỉnh ngộ.
Trở về Quảng châu, trụ trì
chùa Hoà an. Có người hỏi: "Thầy phải là Thiền sư chăng?"
Sư đáp: "Bần đạo không từng
học thiền"
Im lặng giây lâu, Sư gọi,
Người đó đáp: "Dạ".
Sư chỉ cây soan. Người đó
không trả lời.
Thiền sư Ngưỡng Sơn (9), khi
còn là sa di, có lần Sư gọi: "Tịnh con, đem cái giường lại
đây cho ta". Nguỡng Sơn đem giường đến. Sư bảo: "mang lại
chỗ cũ". Nguỡng Sơn vâng theo.
Sư lại hỏi: "Tịch, bên này
có cái gì?"
"Không vật".
"Còn bên kia?"
"Không vật".
Sư lại hỏi: "Tịch con !"
Nguỡng Sơn thưa: "Dạ".
Sư bảo: "Ði đi".
Tháng chín mùa thu năm Canh tý
Ðường Nguyên Hoà thứ 15 (820), Sư đến trác tích chùa đấy
(10). Ngoài việc cơm cháo, vui cái vui thiền, thường ngồi
quay mặt vào vách, không bao giờ nói năng, suốt mấy năm mà
không ai biết. Chỉ có thầy Cảm Thành chùa đó (5a1) lòng
càng tôn kính, hầu hạ hai bên, âm thầm rõ thấu huyền cơ,
được hết yếu chỉ.
Một hôm Sư không bệnh, tắm
rửa thay y phục, gọi Cảm Thành đến dạy rằng: "Ngày xưa,
Tổ ta là Nam Nhạc Nhượng Thiền sư (11), khi ngài sắp tịch,
có dạy:
"Tất cả các pháp
Ðều từ tâm sinh
Tâm không chỗ sinh
Pháp không chỗ trụ
Nếu đạt đất lòng
Chỗ làm không ngại
Không gặp thiện căn
Cẩn thận chớ nói" (12)
Dạy xong, Sư chắp tay mà mất.Cảm
Thành làm lễ trà tì thu xá lợi (13), dựng tháp thờ Sư tại
núi Tiên du, bấy giờ là nhằm ngày12 tháng giêng năm Bính
ngọ Ðường Bảo Lịch thứ 2 (826), Sư thọ sáu mươi tám
tuổi" (14)
Ðến năm Khai Hựu Ðinh sửu
(1337) phàm có năm trăm mười hai năm (15). Thiền học nước
Việt ta bắt đầu từ Sư vậy(16).
Pháp tự của Thiền sư (Vô
Ngôn) Thông ở Kiến sơ.
THẾ HỆ THỨ NHẤT (MỘT NGƯỜI)
2. THIỀN SƯ CẢM THÀNH (? –
860)
Chùa Kiến sơ, đời thứ 2.
Người Tiên du, họ Thị (1). Ban đầu Sư (5b1) xuất gia, tên
đạo là Lập Ðức, ở tại núi Tiên du (2) của quận mình.
Sư lấy việc đọc kinh làm sự nghiệp. Có hương hào họ
Nguyễn mến Sư đức hạnh cao cả, muốn đổi nhà làm chùa
mời Sư tới ở, bèn đến lấy tình mời Sư, Sư chẳng chịu
nhận. Ban đêm mộng thấy thần nhân mách: "Nếu theo ý của
Nguyễn, thì chẳng mấy năm sẽ được điều lành lớn", bèn
đáp lại lời mời. {Nay là chùa Kiến sơ ở Phù đổng}.
Chẳng bao lâu thì Thiền sư
Vô Ngôn Thông đến. Sư biết Thông là người phi thường,
sớm hôm phục dịch, chưa từng biếng nhác. Thông cảm động
trước lòng thành của Sư, bèn đặt tên là Cảm Thành. Một
hôm, Thông gọi Sư đến dạy: "Xưa, Ðức Thế Tôn vì một
nhân duyên lớn , mà xuất hiện ở đời (3), hóa duyên xong
xuôi, ngài vào Niết bàn. Chân tâm vi diệu như thế gọi là
Chánh pháp nhãn tạng, thật tướng vô tướng, tam muội pháp
môn, chính ngài tự thân trao cho đệ tử là tôn giả Ma Ha
Ca Diếp làm Sư tổ (4), đời đời truyền nhau, đến Ðại
sư Ðạt Ma từ Ấn Ðộ sang, trải bao hiểm nguy, để truyền
pháp này cho đến Lục tổ Tào Khê, đắc pháp với Ngũ tổ.
Khi Ðạt Ma (6a1) mới đến, vì người đời chưa biết tin,
nên lấy sự truyền y để làm rõ việc đắc pháp. Nay đức
tin đã chín muồi, thì y bát là đầu mối của tranh chấp,
phải dừng lại ở nơi ông, không nên truyền nữa (5). Từ
đó, lấy tâm truyền tâm, không truyền y bát. Bấy giờ Nam
Nhạc Nhượng đầu tiên được tâm truyền, rồi Nhượng trao
cho Mã Tổ Nhất, Nhất lại trao cho Bách Trượng Hải (6). Ta
nhờ ở Bách Trượng mà được tâm pháp đó. Lâu nghe phương
này, hâm mộ Ðại thừa cũng nhiếu, nên ta xuôi Nam để tìm
thiện tri thức. Nay gặp được ngươi, ấy bởi duyên xưa.
Hãy lắng nghe ta nói kệ:
"Các nơi đồn đãi
Dối tự rao truyền
Rằng thủy tổ ta
Gốc tự Tây thiên
Truyền pháp nhãn tạng
Gọi đấy là Thiền
Một hoa năm lá (7)
Hạt giống liên miên
Ngầm hợp mật ngữ
Muôn ngàn có duyên (8)
Tam tông đều gọi
Thanh tịnh bản nhiên
Tây Thiên cõi này
Cõi này Tây Thiên
Xưa nay nhật nguyệt
Xưa nay sơn xuyên
Ðụng đâu cũng vướng (9)
Phật tổ thành oan
Sai một mảy may
Ði mất trăm ngàn
Ngươi khéo quan sát
Chớ lửa cháu con
Dẫu có hỏi ta
Ta vốn Vô Ngôn (10)
(6b1) Nghe xong lời đó, Sư liền
tỉnh ngộ.
Một lần có vị Tăng đến
hỏi: "Thế nào là Phật?"
Sư đáp: "Khắp hết mọi nơi."
Lại hỏi: "Thế nào là tâm
Phật?"
Sư đáp: "Chẳng từng che dấu"
Lại thưa: "Người học không
hiểu".
Sư bảo: "Ði quá xa rồi"
Về sau, Sư không bệnh mà mất.
Bấy giờ là năm Canh thìn Ðường Hàm Thống thứ nhất (860).
THẾ HỆ THỨ HAI (MỘT NGƯỜI)
3. THIỀN SƯ THIỆN HỘI (? –
900)
Chùa Ðịnh thiền (1) làng Siêu
loại (2). Người Ðiển lãnh (3). Lúc nhỏ xuất gia với sư
Tiệm Nguyên chùa Ðông lâm (4) cùng làng, tự gọi là Tổ Phong.
Sư rảo khắp cõi ngoài, cầu học Thiền chỉ. Sau gặp Cảm
Thành chùa Kiến sơ, bèn xin ở lại hầu hạhơn mười năm,
mà hoàn toàn không mỏi mệt. Một hôm Sư vào thất hỏi: "Trong
kinh (5) nói: "Ðức Thích Ca Như Lai, nhân địa tu hành trải
qua ba a tăng kỳ kiếp mới được thành Phật"(6). Nay Ðại
đức lại luôn luôn bảo: "Tức tâm tức Phật". Tôi thật
chưa hiểu, xin một phen khai thị cho".
(7a1) Thành hỏi: "Trong kinh đó
là do ai nói?"
Sư thưa: "Há chẳng phải Phật
nói sao?"
Thành hỏi: "Nếu là Phật nói
thì tại sao trong kinh Văn Thù bảo: "Ta ở đời 49 năm, chưa
từng nói một chữ cho ai" (7). Vả lại cổ đức nói: "Người
tìm văn lấy chứng, thì thêm vướng mắc. Người khổ hạnh
cầu Phật thì đều lầm mê. Người lìa tâm cầu Phật là
ngoại đạo. Người chấp tâm tức Phật là ma". (8)
Sư hỏi: "Như vậy tâm này
là cái gì? Cái chẳng phải Phật là cái gì?"
Sư tiếp: "Như vậy tâm này
là Phật gì?"
Thành đáp: "Xưa có người
hỏi Mã Tổ: "Tâm tức là Phật, cái nào là Phật?" Mã Tổ
dạy: "Ông nghĩ cái nào không phải là Phật chỉ ra xem?". Người
ấy không trả lời. Tổ dạy"Hiểu được khắp nơi có, không
hiểu mãi xa sai" (9)
Chỉ một câu thoại đầu nầy,
ngươi lại hiểu chưa?"
Nghe lời đó xong, Sư thưa:
"Con đã hiểu rồi".
Thành hỏi: "Ngươi hiểu như
thế nào?"
Sư thưa: "Khắp cả mọi nơi,
không chỗ nào là chẳng phải tâm Phật".
Sư liền sụp xuống lạy.
Thành bảo: "Cần (7b1)phải
làm thế a?"
Nhân đó đặt tên là Thiện
Hội. Về sau, Sư mất tại chùa mình, tức năm Canh thân Ðường
Quang Hoá thứ 3 (900).
THẾ HỆ THỨ BA (MỘT NGƯỜI)
4. THIỀN SƯ VÂN PHONG *{Một
tên nữa là Chủ Phong} (? – 956)
Chùa Khai quốc (1), kinh đô
Thăng Long, người Từ liêm, quận Vĩnh Khương (2), họ Nguyễn.
Khi mẹ mang thai, bà thường ăn chay, tụng kinh, lúc sinh có
ánh sáng lạ chiếu khắp nhà. Cha mẹ thấy điềm lạ, nên
cho Sư đi xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu sư Thiện Hội ở
Siêu loại làm đệ tử nhập thất (3), lặng nắm huyền chỉ,
thiền học ngày thêm càng tiến triển. Hội có lần bảo Sư:
"Sống chết là việc lớn, cần phải giải quyết ngay".
Sư hỏi: "Khi sống chết đến,
làm sao tránh khỏi?"
Hội đáp: "Hãy nắm lấy chỗ
không sống chết mà tránh".
Sư hỏi: "Thế nào là chỗ
không sống chết?"
Hội đáp: "Ngay trong sống chết
nắm lấy nó mới được".
Sư hỏi: "Làm sao mà hiểu?"
Hội đáp: "Ngươi hãy đi, chiều
nay sẽ đến".
Chiều Sư (8a1) lại vào, như
đã hẹn, Hội bảo: "Ðợi đến sáng mai đông đủ, sẽ chứng
minh cho ngươi".
Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền
sụp lạy.
Hội hỏi: "Ngươi thấy đạo
lý gì?"
Sư thưa: "Con đã lĩnh hội".
Hội hỏi: "Ngươi hiểu như
thế nào?".
Sư đưa nắm tay lên, thưa:
"Bất tiếu là cái này đây".
Hội liền bảo thôi.
Về sau, Sư mất vào năm Bính
thìn Hậu Chu Hiển Ðức thứ 3 (956).
THẾ HỆ THỨ TƯ (HAI NGƯỜI,
MỘT NGƯỜI KHUYẾT)
5. ÐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT * {Trước
tên là Chân Lưu}(933 - 1011)
Chùa Phật đà, làng Cát lợi,
Thường lạc(1). Người Cát lợi, họ Ngô, thuộc dòng dõi
Ngô Thuận Ðế. Sư tướng mạo khôi ngô, tính tình phóng khoáng,
nhỏ theo học Nho, lớn lên quy y Phật. Sư cùng bạn học Trụ
Trì đến Thiền Sư Vân Phong chùa Khai quốc, thọ giới Cụ
túc(2).từ đó, Sư đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ
của Thiền. Năm bốn mươi tuổi, danh Sư vang tới triều đình.
Vua Ðinh Tiên Hoàng mời đến, Sư đối đáp hiệp chỉ, bènphong
làm Tăng thống (3). Năm Thái Bình thứ hai (917). Vua ban hiệu
Khuông Việt đại sư(4).
Hoàng đế Lê Ðại Hành càng
kính trọng Sư hơn, phàm việc quân, việc nước ở triều
đình, Sư dều dự vào.
Một lần Sư đi chơi núi Vệ
linh(5) ở quận Bình lỗ,(6) thích phong cảnh vắng đẹp, bèn
muốn lập am để ở. Ðêm xuống nằm mộng thấy một vị
thần, mình mặc áo giáp vàng, tay trái cầm thương vàng, tay
phải đỡ bảo tháp, hơn mười người theo hầu, hình tướng
dễ sợ, đến nói rằng: "Ta là Tỳ Sa Môn thiên vương(7),
những người theo ta là Dạ xoa(7). Thiên đế(7) có sắc sai
ta đến nước này để giữ gìn biên giới, khiến cho Phật
pháp thịnh hành. Ta có duyên với ngươi, nên đến đây báo
cho ngươi biết". Sư kinh hãi thức dậy, nghe trong núi có tiếng
kêu la ầm ĩ, lòng rất lấy làm lạ. Ðến sáng Sư vào núi,
thấy một cây to, cao khoảng mười trượng, cành lá sum sê,
bên trên lại có mây xanh bao phủ, nhân đó sai thợ đến chặt.
Ðem về, khắc tượng như đã thấy trong mộng, để thờ.
Năm Thiên Phúc thứ 1 (981),
binh Tống đến quấy nước ta. Vua biết rõ việc đó, liền
sai Sư đến bàn thờ cầu đảo. Quân giặc kinh hãi, rút về
giữ sông Hữu ninh(8), lại thấy sóng gió nổi lên, giao long
nhảy nhót, giặc bèn (9a1) tan vỡ(9).
Năm Thiên Phúc thứ 7 (986),
người Tống là Nguyễn Giác sang sứ nước ta. Bấy giờ pháp
sư Ðỗ Thuận cũng có tiếng tăm lừng lẫy. Vua sai Pháp sư
cải trang làm người lái đò để nghinh đón Giác ở Giang
khúc. Giác thấy Pháp sư giỏi bàn văn chương, bèn đem thơ
tặng, có câu: "Ngoài trời lại có trời soi rạng". Vua đưa
hỏi Sư. Sư thưa rằng: "Ðây nó muốn tôn kính Bệ hạ cùng
với chúa nó không khác ". Khi Giác trở về, Sư làm một bài
thơ nhan đề
Vương lang qui(10) để tiễn đưa. Bài từ
như sau:
Trời lành gió thuận, gấm
buồm dương
Thần tiên về để hương
Muôn trùng vạn dặm biển mênh
mang
Trời xanh xa dặm trường
Tình ray rứt chén lên đường
Bịn rịn sứ tinh lang
Nguyện đem thâm ý vì Nam
bang
Phân minh tâu Thượng hoàng(11).
Sau Sư lấy cớ già yếu, xin
từ về núi Du hí ở quận mình(12), lập chùa trụ trì; người
học tìm tới đông đảo. Một hôm, đệ tử nhập thất là
Ða Bảo hỏi: "Thế nào là chung thủy của sự học đạo".
Sư đáp: "Thủy chung không vật,
diệu hư không
Hiểu được chân hư, thể
tự đồng".
Bảo tiếp: "Làm sao đảm bảo
được?".
Sư đáp: "Không có chỗ cho
nguời xuống tay".
(9b1) Bảo nói: "Hòa thượng
nói xong rồi".
Sư lại hỏi: "Ngươi hiểu
gì".
Bảo bèn hét lên.
Ngày 15 tháng hai năm Thuận
Thiên thứ 2 (1011) triều Lý, khi sắp cáo tịch, Sư dạy Ða
Bảo kệ rằng:
Trong cây vốn có lửa
Có lửa, lủa mới bừng
Nếu bảo cây không lửa
Cọ xát do đâu bùng.
Nói kệ xong, sư ngồi kiết
già mà mất, thọ 82 tuổi*{Có nơi nói thọ 79 tuổi} (13).
THẾ HỆ THỨ NĂM (HAI NGƯỜI,
KHUYẾT MỘT)
6. THIỀN SƯ ÐA BẢO
Chùa Kiến sơ, làng Phù đổng,
Tiên du. Khôngbiết người đâu, và cũng không biết họ gì.
Khi Ðại sư KhuôngViệt giảng dạy tại chùa Khai quốc, Sư
đến tham học. Ðại sư khen là người gặp việc thì chóng
hiểu, xử sự cẩn thận, nên riêng cho thập thất.
Sau khi đắc pháp, Sư chỉ một
mình một bát, tiêu dao ngoại vật. Sau được chùa Kiến sơ,
bèn đến ở đó.Lý Thái Tổ lúc chưa lên ngôi, Sư thấy tướng
mạo đẹp đẽ khác thường, bèn bảo: "Chú này cốt tướng
khác phàm, ngày kia làm vua ắt là nó đây". Vua cả kinh, thưa:
"Hiện nay(10a1) đức Thánh thượng anh minh còn đó, trong ngoài
cả nước yên vui, thầy ta sao lại nói lời phải tội tru
di này?".
Sư bảo: "Mệnh trời đã định,
người dù muốn trốn cũng chẳng được nào. Giả như lời
này mà đúng, thì mong chớ bỏ nhau".
Khi Vua lên ngôi, nhiều lần
triệu Sư vào cung, hỏi bàn yếu chỉ của Thiền và lễ Sư
rất hậu. Cả đến công việc chính trị của triều đình,
Sư đều dự phần giải quyết. Vua xuống chiếu trùng tu chùa
Sư (1). Sau không biết Sư tịch ở đâu.
THẾ HỆ THỨ SÁU (BA NGƯỜI,
MỘT NGƯỜI KHUYẾT LỤC)
7. TRƯỞNG LÃO ÐỊNH HƯƠNG
(?- 1075)
Chùa Cảm ứng, Ba sơn(1), phủ
Thiên đức(2), Sư họ Lã, người Châu minh(3), gia thế dòng
tịnh hạnh. Thuở nhỏ thọ giáo với Thiền sư Ða Bảo tại
chùa Kiến sơ. Trải qua 24 năm, môn đồ của Bảo có hơn trăm
người , chỉ có Sư cùng với Quốc Bảo Hòa được chọn
làm thủ lãnh, nhưng Sư thấu rõ nhất tôn chỉ của Bảo.
Một hôm Sư hỏi Bảo: "Làm
thế nào để thấy được chân tâm?"
Bảo dạy: "Chính ngươi tự
phát hiện".
Sư bỗng nhiên hiểu được
yếu chỉ, liền thưa: "Hết thảy đếu như thế, chứ có riêng
gì tôi".
Bảo hỏi: "Ngươi đã hiểu
chưa?".
Sư đáp: "Khi đệ tử hiểu
rồi, cũng giống như lúc chưa hiểu".(4)
Bảo dạy: "Nên đem tâm đó
mà quyết chắc"
Sư bưng tai, đứng quay lưng
lại. Bảo liền quát "Ði". Sư sụp lạy.
Bảo dạy: "Từ nay ngươi hãy
như một kẻ đui điếc trong việc tiếp người".
Ðô tướng thành hoàng sứ
là Nguyễn Tuân khâm phục tài đức của Sư, nên mời về
chùa đó ở. Người học vân tập, dạy dỗ dắt dìu, công
Sư không ít.
Ngày mồng 3 tháng 3 năm Canh
dần (5) Sùng Hưng Ðại Bảo thứ 2 (1050) triều Lý Thái Tôn,
Sư nhuốm bệnh, họp chúng để từ biệt, đọc kệ:
"Bản lai không xứ sở(6)
Xứ sở ấy chân tông
Chân tông huyễn như vậy
Huyễn hữu tức không không"(7).
Nói kệ xong, Sư lặng lẽ viên
tịch.
8. THIỀN SƯ THIỀN LÃO(1)
Chùa Trùng minh, núi Thiên phúc(2),
Tiên du. Ban đầu Sư đến tham bái Thiền sư Ða Bảo tại chùa
Kiến sơ, lãnh được tâm yếu rồi đến trác tích tại núi
ấy (3). Gió thiền càng nổi, kẻ học hàng nghìn, đông đảo
làm cho tòng lâm thịnh vượng.
Vào khoảng Thông Thụy (1034
– 1038), Lý Thái Tôn có lần đến (11a1) chùa và hỏi Sư rằng:
"Hoà thượng ở núi này đến nay được bao lâu?".
Sư thưa: "Chỉ biết tháng ngày
này
Ai hay xuân thu trước" (4)
Vua hỏi: "Hàng ngày làm việc
gì?"
Sư đáp: " Trúc biết hoa vàng
đâu cảnh ngoại (5)
Trăng trong mây bạc hiện toàn
chân"
Vua hỏi: "Có ý chỉ gì?"
Sư đáp: "Lắm lời không ích
về sau"
Vua hoát nhiên như có sở đắc.
Khi sắp sai sứ rước Sư về
triều làm cố vấn, thì Sư đã viên tịch trước đó (6).
Vua rất buồn tiếc, làm thơ thương khóc, sai trung sứ ban nhiều
lễ hậu, lập đàn trà tỳ, thu linh cốt, xây tháp ở cửa
núi, lại sửa sang rộng rãi chùa Sư, đặt môn đồ lo việc
hương hỏa.
THẾ HỆ THỨ BẢY (BẢYNGƯỜI
KHUYẾT MỘT)
9. Thiền sư VIÊN CHIẾU (999
– 1090)
Chùa Cát tường, kinh đô Thăng
Long, Sư họ Mai, tên Trực, người Long đàm(1) Phúc đường(2),
là con người anh bà Linh Cảm thái hậu nhà Lý(3). Thuở nhỏ
thông minh hiếu học, nghe đồn vị trưởng lão tại chùa Mật
nghiêm(4) quận mình xem tướng giỏi, nên đến xem thử cho
biết. Vị trưởng lão nhìn kỹ (11a1) rồi bảo: "Ngươi có
duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là người trong hàng
thiện Bồ tát, bằng không thì việc thọ yểu khó bảo toàn".
Sư cảm ngộ, giã từ cha mẹ, đến núi Ba tiêu theo học với
Ðịnh Hương, hầu hạ nhiều năm, nghiên cứu Thiền học,
Sư thường trì kinh Viên giác, rõ thấy được phép Tam quán(5).
Một tối trong lúc thiền định, Sư thấy Bồ tát Văn Thù
cầm dao mổ bụng, rửa ruột rồi dùng thuốc rịt lại. Từ
ấy, những gì đã học trong lòng, trở thành rõ ràng như từng
biết(6), sâu rõ ngôn ngữ tam muội(7), thuyết giảng lưu loát.
Sau đó, Sư đến bên tả kinh thành dựng chùa để ở. Người
học qui tụ đông đảo.
Có tăng hỏi: "Phật với Thánh,
nghĩa ấy thế nào?"
Sư đáp: "Cúc trùng dương dưới
dậu
Oanh thục khí đầu cành (8)"
Lại hỏi: "Cảm ơn, nhưng người
học này không hiểu xin thầy dạy lại".
Sư đáp: "Ngày thì ác vàng
dọi
Ðêm đến thỏ bạc soi"
Tăng lại hỏi: "Chân ý Sư
đã rõ,
Máy huyền ấy thế nào?"
Sư đáp: "Bưng chậu nước
đầy không cẩn thận
Một phen vấp ngã hối
mà chi?"
Vị tăng nói: "Cảm ơn thầy".
Sư chỉ nói: "Sóng sông chìm
chớ tát
(12a1) Gieo mình tự đắm
thôi".
Lại hỏi: "Thiếu Thất, Ma kiệt
rất huyền, từ xưa đến nay, ai nối nhau làm chủ?"(9).
Sư đáp: "Sáng tối tượng
trời do quạ thỏ
Lõm lồi hình đất nọ núi
sông"(10)
Lại hỏi: "Thế nào là căn
nguyên đại đạo thẳng đường đi?"
Sư đáp: "Gió lộng bờ cao
hay cỏ cứng
Nhà tan nước mất biết
trung lương"(11).
Lại hỏi "Tất cả chúng sanh
từ đâu mà đến? Trăm năm sau sẽ về đâu?"
Sư đáp: "Rùa đui chui vách
đá
Trạch què bò núi cao"
Lại hỏi: "Xanh xanh trúc biếc
thảy chân như (12). Thế nào là dụng của chân như?".
Sư đáp: "Tặng anh ngàn dặm
xa
Cười mang trà một bình"(13)
Tăng thưa: " Ðến suông có
ích gì là sao?"(14).
Sư đáp: "Ai biết đi Ðông
a
Nửa đường đầu đã bạc"(15)
Lại hỏi: "Ðã hiên một cửa
vắng
Thong thả gõ ai hay" (16)
Sư đáp: "Kim cốc đìu hiu hoa
cỏ rối
Mà nay hôm sớm thả trâu dê".
Tăng thưa: "Vì sao như vậy?"
Sư đáp: "Giàu sang cùng kiêu
thái
Lầu chợ khiến tan hoang"(17)
Lại hỏi: "Long nữ (12b1) dâng
châu thành Phật quả,
Ðàn na bố thí phước ra sao?"(18).
Sư đáp: "Trong trăng quế muôn
thuở
Rậm, thưa vẫn một vành".
Tăng thưa: "Nhọc mà vô ích
là sao?"(19).
Sư đáp: "Như gương treo trên
trời
Nhân gian soi khắp nơi".
Lại hỏi: "Qua sông phải dùng
bè
Ðến bến hết cần ghe
Khi không qua sông thì sao?"(20).
Sư đáp: " Ao khô cá lên cạn
Sống cả vạn năm xuân".
Tăng thưa: "Thế nào là "Theo
dòng mới đạt được Diệu lý?"(21).
Sư đáp: "Nghe nói bạn Kinh
Kha
Một đi không trở lại"(22).
Lại hỏi: "Lẫn lộn quặng
vàng cùng một chất
Xin thầy phương tiện luyện
tinh ròng"(23).
Sư đáp: "Không phải khách
Tề quân
Sao biết biển cá lớn"(24).
Tăng thưa: "Quách quân nếu
không nhận
Can gián chẳng làm chi"(25).
Sư đáp: "Nếu muốn bưng uống
trước
Vẽ rắn khéo hãy thôi"(26).
Lại hỏi: "Rắn chết giữa
đường
Xin thầy cứu sống"(27).
Sư đáp: "Ngươi là người
phương nào?".
Tăng đáp: "Vốn người ở
núi".
Sư dạy: "Mau về (13a1) non cũ
ẩn
Chớ gặp Hứa Chân Quân"(28).
Lại hỏi: "Hải tạng mênh
mông không nên hỏi
Tào khê từng giọt
nghĩa ra sao?"(29).
Sư đáp: "Rừng tùng tiếng gió
thê lương thổi,
Mưa tạnh bùn nhơ ngập lối
đi".
Tăng thưa: "Không khác với
ngày nay, là thế nào?"(30).
Sư đáp: "Cúc trùng dương dưới
giậu
Oanh ngày nắng đầu cành".
Lại hỏi: "Sờ sờ ở khoảng
mắt lòng
Rành rành trong chốn sắc thân
Nhưng lý không thể phân
Tướng không thể thấy
Vì sao không thấy được?"(31).
Sư đáp: "Trong vườn hoa rực
rỡ
Trên bờ cỏ tràn lan".
Tăng thưa: "Năm lạnh mầm non
rụng
Lấy gì để thưởng công".
Sư đáp: " Mừng cho ông tự
rõ
Sung sướng biết chừng nào
!"
Tăng thưa: "Hôm nay, may nghe
giải
Từ nay hết hoang mang ".
Sư dạy: "Ðắm cạn vừa vớt
ra
Ngoảnh đầu đầm muôn trượng".
Lại hỏi: "Trong thành Niết
bàn vẫn còn nguy hiểm(32) Thế nào là chỗ không nguy hiểm?".
Sư đáp: "Trên rèm che làm tổ
Cành lau xõa tóc mai".
Tăng thưa: "Nếu gặp lúc cấp
bách
Ðôi đường xử lẽ nào ?".
(13b1)Sư đáp: "Trượng phu theo
phóng khoáng
Trăng gió hãy vui chơi"(33).
Lại hỏi: "Hết thảy chúng
sanh đều bảo là Phật, lẽ ấy chưa tường, mong thầy chỉ
dạy?".
Sư đáp: "Nông trang hãy gắng
khuyên anh thế
Ðợi thỏ người kia chớ nhọc
theo"(34).
Tăng thưa: "May được thầy
chỉ rõ
Trọn chẳng đến ai tìm".
Sư dạy: "Khá thươngmột lần
ngẹn
Ngồi đó trót quên ăn".
Lại hỏi: "Bao năm dồn chứa
ngọc trong túi
Tận mặt hôm nay thấy rõ rành(35)".
Sư đáp: "Trăng trung thu chờ
mãi
Gặp phải mây mưa xông"(36).
Tăng thưa: "Tuy nghe thầy dạy
bảo
Lý đó vẫn chưa thông".
Sư dạy: "Cười người suông
ôm cột
Chết đuối nhắm giữa dòng
!"(37).
Tăng hỏi: "Thế nào là một
phái?"(38).
Sư đáp: "Vừa thấy xuân gieo
và hạ lớn
Gặp ngay thu chín với đông
thâu".
Tăng thưa: "Thành phật nhiều
thế là sao?".
Sư đáp: "Tổ Long thôi nghĩ
chạy
Từ Phúc luống đường xa"(39).
Tăng hỏi: "Kiến tính thành
Phật, nghĩa ấy thế nào?".
Sư đáp: "Xuân đến cây khô
hoa đua nở
Gió đưa ngàn dặm nức (14a1)
hương thần"(40).
Tăng thưa: "Học nhân không
hiểu, xin thầy dạy lại".
Sư đáp: "Muôn năm cây cà ấy,(41)
Xanh ngát tận chân mây".
Lại hỏi: "Ma ni cùng các sắc
Chẳng hợp chẳng phân ly"(42).
Sư đáp: "Hoa xuân cùng bươm
bướm
Lúc luyến lúc ruồng nhau".
Tăng hỏi: "Theo người xen lẫn
là sao"
Sư đáp: "Chẳng phải mắt
Hồ tăng(43)
Uổng công dâng ngọc Biện"(44).
Lại hỏi: "Thế nào là chạm
mắt là Bồ đề?"(45).
Sư đáp: "Cây cong chim mãi sợ
Dưa nguội người thổi hoài".
Tăng thưa: "Học nhân không
hiểu, xin thầy cho ví dụ khác".
Sư đáp: "Kẻ điếc nghe tiếng
đàn
Người mù ngắm bóng trăng".
Lại hỏi: "Vốn đã có hình
thêm có ảnh
Có lúc ảnh cũng lìa hình sao?".
Sư đáp: "Trăm sông đổ về
đông kìa, muôn dòng đua chảy.
Ngàn sao chầu Bắc đẩu kìa,
thiên cổ quy tâm".
Lại hỏi: "Thế nào là một
câu tỏ ngộ, vượt muôn ngàn?"(46).
Sư đáp: "Xa kẹp Thái sơn qua
biển Bắc
Ngửa quăng gậy chống vào
cung trăng."
Lại hỏi: "Chỉ một sự này
thật,
(14b1) Còn hai chẳng phải chân(47)
Thế thì, chân là gì?".
Sư đáp: "Gió dễ lay đầu
gậy
Mưa thành nẩy trên đường".
Lại hỏi: "Không nhắm Như
Lai xin Diệu tạng
Không mong lửa tổ nối đèn
chong
Ýchỉ rốt ráo thế nào?".
Sư đáp: "Trời thu lúa xào
xạt
Cảnh tuyết mẫu đơn cười".
Lại hỏi: "Thế nào là câu
tối diệu?"
Sư đáp: "Một người ngoảnh
mặt khóc
Cả tiệc uống không vui"(48).
Lại hỏi: "Xưa nay việc lớn
xin không hỏi
Ðiểm lạ Tây lai ý thế nào?"(49).
Sư đáp: "Kẻ khéo lời đẹp
mặt(50)
Phường đập ngói hong rùa"(51)
Lại hỏi: "Tâm, pháp đều
quên, thì tính tức chân(52)
Thế nào là chân?".
Sư đáp: "Ðàn Bá Nha gió khua
sân trúc(53)
Lệ Nữ Thần mưa rắc
hoa non(54)
Lại hỏi: "Thế nào là câu tối
diệu?".
Sư đáp: "Yếu hầu còn mắc
nghẹn
Yên ở chẳng vui gì".
Lại hỏi: "Có tu có chứng,
khơi bốn bệnh(55)
Ló đầu sao được thoát hồng
trần".
Sư đáp: "Núi cao chất nhất
dung muôn vật
Biển rộng bao la chứa vạn
sông".
Lại hỏi: "Chỉ có Phật với
Phật mới biết (15a1) việc đó(56). Thế thì việc đó là
thế nào?".
Sư đáp: "Ðường hẹp chi chít
trúc
Gió thổi nhạc tự thành".
Lại hỏi: "Chẳng cần bình
thường, chẳng cần thiên nhiên, chẳng cần tác dụng, thì
nay làm gì đây?".
Sư đáp: "Cỏ bồng én đậu
thấp
Biển rộng ẩn cá lân".
Lại hỏi: "Tứ đại mang về
từ nhiều kiếp
Xin thầy phương tiện thoát
luân hồi".
Sư đáp: "Loài thú trên đời
Tê là quý
Nó ăn gai góc mẹp bùn nhơ"(57).
Lại hỏi:"Mọi thứ thủ, xả
đều luân hồi, không thủ không xả thời thế nào?"(58)
Sư đáp: "Giềng hồng đẹp
đẽ xưa nay vậy
Có lá sum sê chẳng có hoa".
Lại hỏi: "Dứt hết nói năng
ý ấy thế nào?"(59).
Sư đáp: "Theo gió tiếng còi
luồn bụi trúc
Kèm trăng trái núi quá đầu
tường".
Lại hỏi: "Chư Phật thuyết
pháp là để giáo hóa mọi loài, nếu hiểu được bản ý
thì gọi là xuất thế, bản ý là gì?".
Sư đáp: "Xuân dệt hoa như
gấm
Thu sang lá tựa vàng".
Lại hỏi: "Thế nào là một
đường nhắm thẳng?"(60).
Sư (15b1) đáp: "Ðông tây xe
ngựa ruỗi
Hôm sớm bụi mờ bay".
Lại hỏi: "Có pháp, có tâm,
sinh vọng thức
Làm sao tâm, pháp thảy tiêu
vong?".
Sư đáp: "Ví được lá tùng
xanh cao ngất
Sá gì sương tuyết lả tả
rơi".
Lại hỏi: "Ý tổ và ý kinh
thế nào?".
Sư đáp: "Chống trượng lên
mây khi thích chí
Mệt buông rèm trúc ngủ giường
tre".
Lại hỏi: "Tổ tổ truyền
nhau là truyền những gì?".
Sư đáp: "Ðói đến tìm thức
ăn
Rét thời xin áo mặc"(61).
Lại hỏi: "Thế nhân đều
thuê nhà
Người dột ở đâu ta?".
Sư đáp: "Vầng ô cùng ngọc
thố
Tròn khuyết dối nhọc chia".
Lại hỏi: "Thế nào là con
đường duy nhất đến Tào khê?".
Sư đáp: "Khá thương kẻ khắc
thuyền (62).
Rốt cuộc ý hoang mang".
Sư từng soạn Dược sư thập
nhị nguyện văn(63). Vua Lý Nhân Tôn lấy bản thảo của Sư,
sai sứ đem sang Triết Tôn(64). Triết Tôn cho mời Pháp sư Cao
tòa chùa Tướng quốc đến xem(65). Xem xong liền chắp tay lạy,
mà nói rằng: "Phương Nam có bậc Ðại sĩ nhục thân ra đời,
ấy là vị Pháp sư khéo giảng kinh điển vậy. (16a1) Bần
đạo đâu có thể dám thêm bớt". Nhân đó chép lại một
bản, rồi giao trả bản cũ. Sứ giả trở về thuật lại
vua nghe, vua rất khen thưởng.
Vào một ngày tháng chín năm
Canh ngọ Quảng Hựu thứ sáu (1090), Sư không bệnh, gọi chúng
đến dạy rằng: "Trong thân ta đây, thịt xương gân cốt,
tứ đại giả hợp, đều là vô thường, ví như ngôi nhà
kia khi sụp đổ, cột kèo đều đổ. Cùng các con giã từ,
hãy nghe bài kệ ta đây:
Thân như tường vách đổ xiêu
rồi,
Thiên hạ bồn chồn xót dạ
thôi,
Nêu rõ tâm không, không tướng
sắc,
Sắc không ẩn hiện mặc xoay
dời.
Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng
viên tịch, thọ 92 tuổi đời, và 56 tuổi hạ(66). Có để
lại tập Tán viên giác kinh, Thập nhị bồ tát hành tu chứng
đạo trường vàTham đồ hiển quyết một quyển(67) ngày nay
còn truyền ở đời(68).
10. THIỀN SƯ CỨU CHỈ
Chùa Diên linh, núi Long đội(1),
Yên lãng(2), Người Phù đàm, Châu minh(3), họ Ðàm. Thuở nhỏ
hiếu học, sách Nho, sách Phật, không thứ gì là không quán
xuyến. Một ngày nọ ôm (16b1) sách than rằng: "Khổng Mặc
chấp có, Trang Lão chấp không, sách vở của thế tục chẳng
phải là phương giải thoát. Chỉ có Phật pháp không kể có,
không, có thể dứt sanh tử, nhưng phải siêng năng giữ giới,
cầu bậc thiện tri thức ấn chứng cho mới được". Nhân
đó bỏ tục, đến chùa Cảm ứng ở Ba sơn thọ Cụ túc với
Ðịnh Hương trưởng lão. Ngày cầu đạo, Trưởng lão hỏi:
"Thế nào là nghĩa của cứu cánh?".
Sư đáp: "Chưa"
Sơn nói: "Ta với ngươi là
nghĩa của cứu cánh rồi !".
Sư ngẫm nghĩ.
Sơn nói: "Qua mất rồi".
Nhờ lời nói đấy, Sư rõ
được yếu chỉ. Nhân đó lất tên Cứu Chỉ. Sau Sư vào chùa
Quang minh ở núi Tiên du, tu khổ hạnh đầu đà(4) sáu năm
không bước chân xuống núi. Tiếng tăm giáo hóa của sư vang
đến tai vua. Vua Lý Thái Tôn nhiều lần cho mời, Sư không
đến, nên ba lần thân hành đến chùa Sư, lấy lời an ủi
thăm hỏi. Thái Sư Lương Văn Nhậm(5) cũng rất kính trọng.
Trong khoảng Long Thụy Thái
Bình (1054 - 1058) Tể tướng Dương Ðạo Gia đem chùa mình,
mời Sư về trụ trì. Sư quyết từ không được, đành phải
làm theo. Ngày Sư xuống núi (17a1) bèn nói với mọi người
rằng: "Ta không trở lại đây nữa". Chim muông trong rừng kêu
thương ba tuần không dứt.
Ở vừa ba năm,vào một ngày
tháng, năm nào đó của niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059
- 1065), khi sắp thị tịch, Sư họp môn đồ dạy rằng:
Tất cả pháp môn
Vốn từ tính ngươi
Tất cả pháp tính
Vốn từ tâm ngươi
Tâm, pháp như một
Vốn chẳng hai pháp
Phiền não trói buộc
Tất cả đều không
Phải quấy, tội phứơc
Tất cả đều huyễn
Không đâu chẳng quả, chẳng
nhân
Ở trong nghiệp không phân biệt
Ở trong báo không phân biệt
Nếu có phân biệt đối với
nghiệp
Thì không tự tại
Tuy thấy tất cả pháp
Mà không chỗ thấy
Tuy biết tất cả pháp
Mà không chỗ biết
Biết tất cả pháp
Nhân duyên làm gốc
Thấy tất cả pháp
Chính tâm làm tôn
Tuy nhiễm thực tế
Hiểu rõ thế gian
Ðều như biến hóa
Thấu rõ chúng sanh
Chỉ là một pháp
Không có hai pháp
Không bỏ nghiệp cảnh
Phương tiện thiện xảo
Ðối giới hữu vi
Bày pháp hữu vi
Mà không phân biệt
(17b1) Tướng của vô vi
Vì muốn dứt trừ
Vọng niệm so đo
Của ta ấy vậy.
Rồi nói kệ rằng:
"Rõ biết thân tâm vốn lặng
yên,
Thần thông biến hóa hiện
mọi tướng
Hữu vi vô vi từ đây hiện
Thế giới hà sa không thể
lượng
Tuy dù biến khắp cả hư không
Mỗi mỗi xem ra chẳng hình
dạng
Ngàn năm muôn năm khó sánh
đó
Xứ xứ nơi nơi thường tỏ
rạng(6).
Ðúng ngọ hôm ấy, dựng đàn
trà tì, đồ chúng thu linh cốt của Sư xây tháp phụng thờ.
11-12 HAI THIỀN SƯ
BẢO TÍNH (?- 1034), MINH TÂM
(?- 1034)
Chùa Cảm ứng, Ba sơn, phủ
Thiên đức. Ðều là người Châu minh(1), Bảo Tính họ Nhgiêm,
Minh Tâm họ Phạm. Thuở nhỏ cùng sớm xuất gia, là bạn đồng
chí.
Lúc đầu, cùng với Thiền
sư Viên Chiếu, đều thờ Ðịnh Hương thượng nhân, sâu hiểu
chỗ cốt tuỷ của Hương. Về sau mỗi người mang tâm ấn,
tuỳ phương giáo hóa, nổi tiếng là bậc thượng thủ của
tòng lâm. Viên Chiếu thường có ca, thơ gởi tặng Bảo Tính
ngợi khen cái chí hướng cao thượng của Sư.* {Có đủ ở
tập của Chiếu, ở đây không phiền chép}.
Hai Sư sống chung thường lấy
việc trì tụng kinh Pháp hoa làm phận sự. Trải mười lăm
năm, chưa từng trễ nãi tí nào. Mỗi lần tụng đến phẩm
Dược Vương(1), (18a1) họ đều rơi nước mắt, bảo nhau:
"Nhân địa(2) của Bồ tát nhiều kiếp huân tu, mà đối với
tâm Ðại thừa, còn phải phát đại dũng mãnh tinh tấn, không
tiếc thân mạng. Huống gì bọn chúng ta ở trong đời mạt
pháp, là người mới phát tâm. Nếu chẳng chí thành như vậy,
thì đối với chân tâm đại bồ đề của Ðại thừa làm
sao có thể mong thấy được !".
Ðến tháng tư năm Thiên Thành
thứ bảy (1034) hai Sư sắp thiêu thân thì được mời vào
triều, bèn mở hội giảng kinh. Họ cùng vào trong tam muội
hỏa quang(3). Những hài cốt còn lại đều thành thất bảo.
Có chiếu lưu ở chùa Trường thánh để cúng dường. Lý Thái
Tôn cho là linh dị, cải nguyên Thông Thụy(4) dựng tháp thờ.
13. THIỀN SƯ QUẢNG TRÍ
Chùa Quán đảnh, núi Không
lộ(1). Người Kinh sư, họ Nhan, anh của Hoàng phi Chương Phụng,
đạo tháo cao khiết, không thích hoa lệ.
Năm đầu Chương Thánh Gia Khánh
(1059), Sư bỏ tục đến tham bái Thiền Lão núi Tiên du. Nhờ
một câu nói, Sư ngộ được yếu chỉ. Từ đó ngày tháng
miệt mài, dốc chí tu thiền, không đầy một năm mà phong
độ tiếng tăm truyền xa. Sau đến núi ấy, (18b1) trác tích,
thường mặc áo vá, ăn hạt thông, cùng với sơn tăng Minh
Huệ kết bạn phương ngoại. Người ta nói Hàn Sơn, Thập
Ðắc(2) tái thế. Công bộ thượng thư Ðoàn Văn Liễm(3) tôn
kính, thường tặng thơ rằng:
Chống gậy non cao trút sáu
trần
Lặng nương mộng huyễn hỏi
phù vân
Ân cần khôn ngỏ tham Trừng
Thập(4)
Trói buộc bầy cò lớp áo
khăn(5).
Vào ngày tháng, năm nào đó
của niên hiệu Quảng Hựu (1085 - 1091), Sư quy tịch. Ông Liễm
khóc than thảm thiết, rồi đi viếng bằng bài thơ:
Mán rừng đầu bạc lánh thành
đô
Hương ngát non cao áo vẫy mờ
Những muốn khăn sồng hầu
chiếu giảng
Bỗng nghe của viện khép dày
trơ
Sân chùa chim vẳng trăng suông
dõi
Tháp mộ minh ghi ai viết chừ
Bạn đạo thôi đừng buồn
vĩnh biệt
Ngoài am non nước đó hình
xưa(7).
14. LÝ THÁI TÔN(1)
Lúc bấy giờ vua Lý Thái Tôn
thường đến thăm vấn thiền chỉvới Thiền Lão(2) núi Thiên
phúc. Kim chùy(3) vừa giáng thì đầu óc đều thông. Những
lúc rảnh rỗi việc nước, vua lấy thiền duyệt làm vui, nhân
đó, cùng với các bậc kỳ túc(19a1) khắp nơi giảng cứu
chỗ dị đồng. Vua bảo trước: "Trẫm nghĩ đến nguồn tâm
của Phật tổ, từ xưa Thánh hiền chưa khỏi bị chê bai,
huống gì người hậu học !Nay, Trẫm muốn cùng các đại
đức, sơ tỏ ý mình, mỗi vị thuật một bài kệ, để xem
chỗ dụng tâm ra làm sao". Tất cả đều bái tạ nhận lệnh.
Trong lúc mọi người đang tìm
ý, vua đã làm xong bài kệ rằng:
Bát nhã thật không tôn
Nhân không, ngã cũng không
Quá, hiện vị lai Phật
Pháp tính bản lai đồng.(4)
Mọi người đều phục sự
nhanh trí của nhà vua.
THẾ HỆ THỨ TÁM (SÁU NGƯỜI,
THIẾU BA NGƯỜI)
QUỐC SƯ THÔNG BIỆN (?- 1134)
Chùa Phổ ninh, Từ liêm(1).
Người Ðan phụng(2), họ Ngô, con dòng Phật tử. Bẩm tính
thông tuệ, rất giỏi tam học. Ban đầu đến tham bái Thiền
Sư Viên Chiếu, chùa Cát tường. Khi rõ được yếu chỉ bèn
đến ở tại Quốc tư ?ủa Thăng kinh(4), tự gọi hiệu là
Trí Không.
Ngày 15 tháng 2, mùa xuân năm
Hội Phong thứ 5 (1016) Phù Thánh Linh Nhân hoàng thái hậu(5)
có lần (19b1) đến trai tăng ở chùa Sư, cùng với các bậc
kỳ túc thăm hỏi ý nghĩa Phật và Tổ, có gì hơn thua ? Phật
trú phương nào? Tổ ở nơi đâu? Ðến đất nước này từ
lúc nào? Trao truyền đạo đây, ai trước ai sau. Còn niệm
tên Phật, đạt tâm Tổ, tuần tự truyền nhau, thì chưa biết
cái nào là tôn chỉ?
Mọi người đều không lên
tiếng, Sư bèn đáp rằng: "Thường trụ thế gian, không sanh
không diệt thì gọi là Phật. Hiểu rõ Tâm tôn của Phật,
hạnh giải đều hiệp nhau, thì gọi là Tổ(6). Phật và Tổ
là một. Bởi bọn lạm xưng học giả tự dối nói là có
hơn thua vậy. Vả Phật nghĩa là giác ngộ,và sự giác ngộ
đó xưa nay vắng lặng thường trú. Hết thảy hàm sinh, đều
cùng một nguyên lý đấy. Nhưng bởi bụi lòng che khuất, theo
nghiệp nổi trôi, mà chuyển nên các cõi. Ðức Phật vì lòng
từ bi,nên thị hiện đản sanh đất Trúc. Bởi vì nó là nơi
được gọi trung tâm của trời đất(7). Năm 19 tuổi xuất
gia, năm 30 thành đạo. Ở đời thuyết pháp 49 năm, mở bày
các phương tiện, khiến người ngộ nhập đạo đó. Ấy gọi
là sự hưng khởi của một (20a1) thời đại kinh giáo(8). Khi
sắp nhập Niết bàn, sợ người sau mê chấp sinh tệ, nên
bảo với Văn Thù rằng: "Suốt 49 năm, ta chưa từng nói một
chữ, sao bảo là có điều để nói". Rồi cầm một cành hoa
đưa lên, mọi người đều ngơ ngác, chỉ có Tôn Giả Ca Diếp
nở mặt mỉm cười(9), Phật biết Ca Diếp đã tỏ ngộ, liền
đem Chánh pháp nhãn tạng giao cho, ấy là vị Tổ thứ nhất.
Ðó gọi là Tâm tôn, truyền riêng ngoài giáo điển.
Về sau, Ma Ðằng(10) đem kinh
pháp truyền vào đất Hán, và Ðạt Ma đem tâm chỉ truyền
sang Lương và Nguỵ. Việc truyền kinh pháp đến Thiên thai(11)
thì thịnh, gọi là Giáo tôn. Ðược yếu chỉ của Ðạt Ma
thì đến Tào khê(12) mới sáng, gọi là Thiền tôn. Hai tôn
ấy truyền đến nước Việt ta đã nhiều năm. Giáo thì lấy
Mâu Bác, Khương Tăng Hội(14) làm đầu. Thiền thì lấy Tỳ
Ni Ða Lưu Chi làm phái trước, Vô Ngôn Thông làm phái sau. Ðó
là những vị Tổ của hai phái".
Hậu nói: "Hãy để Giáo tôn
đó đã, còn hai phái Thiền có gì bằng chứng?".
Sư đáp: "Xét Ðàm Thiên pháp
sư truyện (15) thì vua Tùy Cao (20b1) Tổ gọi Pháp sư nói: "Trẫm
nghĩ đến lời dạy từ bi của đức Ðiều Ngự, muốn báo
đền công đức, không biết làm sao. Trẫm trộm làm bậc nhân
vương, rộng giúp Tam bảo, đã khắp ban di thể xá lợi, đồng
thời ở trong nước dựng bảo tháp phàm 49 cái để làm bến
cầu giác ngộ cho đời, còn hơn 150 tự tháp ngoài do các xứ
kiến lập mong tạo phước nhuận thấm tới đến cả thế
giới đại thiên. Song xứ Giao Châu kia tuy đã nội thuộc,
nhưng còn ky my, nên phải chọn những sa môn danh đức, đến
các xứ của châu ấy để dạy dỗ, hầu khiến cho tất cả
đều giác ngộ"(16).
Pháp sư đáp: "Một phương
Giao châu, đường thông Thiên trúc, Phật pháp lúc mới tới,
thì Giang Ðông chưa có, mà Luy lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi,
độ tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước
vậy. Vào lúc ấy, thì đã có Khâu Ðà La(17), Ma La Kỳ Vực(18),
Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. nay lại
có Pháp Hiền thượng sĩ, đắc pháp với Tỳ (21a1) Ni Ða Lưu
Chi, truyền tông phái của tam Tổ, là người trong hàng Bồ
tát, đang ở chùa Chúng thiện dạy dỗ học trò. Trong lớp
học đó không dưới 300 người, cùng với Trung quốc không
khác. Bệ hạ là cha lành của thiên hạ, muốn bố thí một
cách bình đẳng thì chỉ riêng khiến sứ đưa xá lợi đến,
vì nơi ấy đã có người, không cần đến dạy dỗ(19).
Lại bài tựa Truyền pháp của
tướng quốc Quyền Ðức Dư (20) đời Ðường, nói: "Sau khi
Tào Khê mất đi, Thiền pháp thịnh hành đều có thừa kế.
Chương Kính Uẩn thiền sư (21) dùng tâm ấn của Mã Tổ hành
hóa ở Ngô, Việt. Vô Ngôn Thông đại sĩ đem tôn chỉ của
Bách Trượng khai ngộ tại Giao châu". Ðó là những chứng
cứ vậy".
Thái hậu lại hỏi về thứ
tự truyền thọ của hai phái trên.
Sư đáp: "Phái của Tỳ Ni Ða
Lưu Chi, tức nay Lâm Huệ Sinh, Vương Chân ấy vậy (22). Kỳ
dư chia chẻ ra bao la không thể kể hết".
Thái hậu rất vui, bèn phong
Sư làm Tăng lục(24), ban cà sa tía (25) và hiệu (21b1) Thông
Biện đại sư, cùng thêm hậu thưởng để tỏ lòng yêu chuộng.
Không lâu, Hậu triệu Sư vào cung, phong làm Quốc sư (26), hỏi
han yếu chỉ của thiền. Bà sâu hiểu tôn chỉ nó.*{Thái hậu
đã từng có bài kệ Ngộ đạo rằng: sắc là không, không
tức sắc, không là sắc, sắc tức không, sắc không đều
không bận, mới hiểu được chân tông}.
Tuổi già, Sư dời đến ở
chùa mình, mở pháp hội lớn, mưa cơn mưa pháp. Sư dạy người
sửa mình, thường dùng đến kinh Pháp hoa, cho nên người bấy
giờ gọi Sư là Ngộ Pháp Hoa.
Ngày 12 tháng 2 năm Giáp dần
Long Chương Bảo Tự thứ hai (1134), Sư cáo bệnh.
16. ÐẠI SƯ MÃN GIÁC (1052 –
1096)
Chùa Giác Nguyên, Cửu liên
(1). Người Lũng chiền, làng An cách (2) họ Nguyễn tên Trường.
Cha là Hoài Tổ làm quan đến chức Trung thư viên ngoại lang
(3). Vua Lý Nhân Tôn, lúc còn làm thái tử, xuống chiếu mời
con em các danh gia vào hầu hai bên. Sư nhờ nghe nhiều, nhớ
kỹ học thông cả Nho, Thích nên được dự tuyển. Sau những
lúc việc quan, thường chú tâm vào Thiền học.
Ðến khi vua lên ngôi, vì rất
mến chuộng Sư, ban cho Sư tên Hoài Tín
Trong khoảng Anh Vũ Chiêu Thắng
(1076 – 1084), Sư dâng biểu xin xuất gia. Khi đã được tâm
ấn nơi Quảng Trí chùa Quán đảnh, (22a1) bèn cầm gậy vân
du, khắp tìm bạn đạo, đến đâu học giả thường vân tập
đến đấy. Sư xem Ðại tạng kinh, được Vô sư trí (4), là
lãnh tụ Giáo hội của một thời vậy. Vua cùng với Linh Nhân
hoàng thái hậu lúc mới lưu tâm đến Thiền học, liền xây
chùa bên cạnh cung Cảnh hưng(5), mời Sư đến ở, để tiện
hỏi han. Nói chuyện với Sư, vua chẳng gọi tên mà thường
gọi là Trưởng lão.
Một hôm vua gọi Sư nói: "Bậc
chí nhân thị hiện, tất lo việc cứu đời, không hạnh nào
chẳng đủ, không việc gì chẳng làm, không phải chỉ có
sức định huệ, mà cũng có công phò tá. Vậy xin kinh bổ
nhiệm ngài".
Bèn trao Sư chức Giáo nguyên
thiền viện Hoài Tín đại sư truyền tổ vô tu vô chứng tâm
ấn phụng chiếu nhập nội đạo tràng tứ tử đại sa môn
đồng tam ti công sự. Trong lúc nhận chức này, Sư được
lấy thuế hộ năm mươi người.
Ngày 30 tháng 11 năm Hội Phong
thứ 5 (1096), Sư cáo bệnh, có kệ dạy chúng rằng:
"Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười
Việc đời qua trước mắt
Già đến trên đầu rồi !
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng
hết,
Ngoài sân đêm trước một
cành mai."
(22b1)
Tối đó, Sư ngồi kiết già
mà mất, thọ 45 tuổi đời, 19 tuổi hạ. Vua tặng hậu lễ,
công khanh mỗi mỗi đến dâng hương, trà tỳ xong, thu xá lợi
xây tháp ở chùa Sùng nghiêm, làng An cách. Vua sắc thụy là
Mãn Giác.
17. THIỀN SƯ NGỘ ẤN (1020
–1088)
Chùa Long ân, Ninh sơn (1), phủ
Ứng Thiên, người Từ lý, làng Kim bài (3), họ Ðàm tên Khí.
Mẹ là Cù Thị, lúc chưa lấy chồng, nhà ở bên cạnh rừng
Mộ, thấy người bẫy chim đêm bà buồn bã nói: "Thà chịu
chết làm lành, chứ không chịu sống làm ác".
Một hôm, bà bắt đầu dệt
gấm, có một con khỉ lớn từ trong rừng ra, đến ôm lưng
bà, trọn ngày mới bỏ đi. Cù Thị biết mình có thai. Ðến
khi sinh con, bà ghét lắm, đem bỏ trong rừng. Có người Chiêm
thành cùng làng là Cụ Sư (4) họ Ðàm lượm đem về nuôi,
nhân đó đặt tên là Khí.
Ðến năm 10 tuổi, theo học
nghiệp Nho. Học vấn càng ngày càng tiến, rất giỏi chữ
Hán và Phạn. Năm19 tuổi xuất gia, đầy đủ giới định.
Ðối với nghĩa của hai kinh Viên Giác, Pháp hoa (23a1) Sư nghiên
cứu rất tinh tường. Khi đã được tâm ấn nơi Quảng Trí
chùa Quán đảnh, Sư vào thẳng Ninh sơn dựng am tranh tu hành,
gọi là Ngộ Ấn.
Có lần vị tăng hỏi: "Thế
nào là đại đạo?"
Sư đáp: "Ðường lớn".
Vị tăng thưa: "Kẻ học đạo
này hỏi đại đạo, mà thầy đáp là đường lớn, vậy không
hiểu ngày nào mới đạt được đại đạo?".
Sư đáp: "Mèo chưa biết bắt
chuột?".
Tăng thưa: "Con mèo có Phật
tánh không?".
Sư đáp: "Không"(5).
Tăng liền hỏi: "Hết thảy
hàm linh đều có Phật tính, sao riêng Hoà thượng lại không?".
Sư đáp: "Không, ta không phải
hàm linh".
Tăng thưa: "Ðã không phải
hàm linh, vậy có phải Phật không?"
Sư đáp: "Ta không phải Phật,
cũng không phải hàm linh"(6).
Có người hỏi: "Phật là gì?
Pháp là gì? Thiền là gì?".
Sư đáp: "Ðấng Pháp vương
vô thượng, ở thân là Phật, ở miệng là Pháp, ỡ tâm là
Thiền. Tuy là ba phần, nhưng điểm kết là một. Ví như nước
của ba con sông kia, tuỳ chỗ đặt tên, tên gọi tuy không
giống, nhưng tính của nước thì không khác"(7).
Ngày 14 tháng 6 năm Quảng hựu
thứ 4 (1088) (23b1)khi sắp thị tịch, Sư nói bài kệ sau:
Diệu tính rỗng không chẳng
thể bâu
Rỗng không tâm ngộ có gì
đâu
Trên non ngọc đốt màu thường
đẹp
Sen nở trên lò ướt chưa khô.
Nói kệ xong, Sư vui vẻ ra đi,
thọ 69 tuổi. Môn đồ để tâm tang ba năm.
THẾ HỆ THỨ CHÍN (TÁM NGƯỜI,
BA NGƯỜI KHUYẾT LỤC)
18. THIỀN SƯ ÐẠO HUỆ (? –
1073)
Chùa Quang Minh, núi Thiên phúc,
Tiên du(1). Người Chân hộ(2), Như nguyệt (3), họ Âu. Tướng
mạo đoan chánh, tiếng nói rổn rảng. Năm 25 tuổi đến xuất
giavới Ngô Pháp Hoa(4), tại chùa Phổ ninh nắm thấu lẽ huyền
, hiểu sâu áo chỉ của Hoa. Sau đến chùa Quang minh trác tích,
tu luyện giới luật, tập tành thiền định, lưng không dính
chiếu, ròng rã sáu năm, bèn đạt được "Tam quán tam ma địa"(5).
Môn đồ có hơn nghìn người. Ngày đêm trì kinh, cảm hóa
được các loài khỉ vượn trong núi. Chúng tụ họp kéo nhau
đến nghe pháp. Do đó tiếng Sư vang tới kinh đô.
Năm Ðại Ðịnh thứ 20(1159),
Thụy Minh hoàng cơ đau (6), vua sai sứ triệu Sư đến xem bệnh.
Lúc ra đi (24a1) khỉ vượn buồn kêu như biết lưu luyến.
Ðến cung, lúc Sư còn đang ở ngoài cửa phòng, thì bệnh của
Hoàng cơ liền bớt. Vua Lý Anh Tôn hết sức vui mừng, mời
Sư đến ở chùa Báo thiên(7). Trong vòng một tháng, các quan
viên và bạn đạo khâm phục phong cách của Sư, kéo đến
đông không kể xiết, Sư liền mở trường dạy dỗ, không
trở về núi nữa. Cháu con nối dõi, thịnh thành một phái.
Ngày mồng một tháng tám năm
Nhâm thìn Chánh Long Bảo Ứng thứ 10 (1172) (8) Sư thị bệnh
than rằng:
"Loạn lạc tứ tung
Do đâu mà đến?"
Rồi nói kệ:
Ðất, nước, gió, lửa, thức.
Nguyên lai tất cả không
Như mây tan rồi hợp,
Trời Phật chiếu vô cùng.
Lại nói:
Sắc không cùng diệu thể,
Chẳng hợp chẳng lìa xa,
Nếu ai muốn rõ biết,
Trong lò một cành hoa.
Vào canh ba đêm đó, Sư lặng
lẽ đi luôn. Môn đồ là Quách tăng thống, sắm đủ lễ vật,
đem về quận mình làm lễ trà tỳ. Khi chịu tâm tang xong,
bèn xây tháp tại chùa Bảo khám núi Tiên du, rồi rước xá
lợi về tôn trí.
19. THIỀN SƯ BIỆN TÀI
Chùa Vạn tuế (1), kinh đô
Thăng long. Người Quảng châu, đến nước ta vào thời vua
Lý Thánh (24b1) Tôn (2), là người nối pháp của Quốc sư Thông
Biện, vâng lịnh vua biên sửa "Chiếu đối lục".(3)
20. THIỀN SƯ BẢO GIÁM (? –
1173)
Chùa Bảo phúc, Quân chương,
Mỹ lương (1). Người làng Trung thụy (2), họ Kiều tên Phù,
là người trung tín, thành thực, điềm đạm, giản dị. Nhỏ
theo Nho nghiệp: Thi, Thư, Lễ, Dịch (3) không thứ gì là không
khảo cứu, lại viết đẹp, vẽ khéo, làm quan dưới triều
Lý Anh Tôn, chức Cung hầu xá nhân. (4)
Năm 30 tuổi Sư từ quan, đến
xuất gia với vị chủ chùa Bảo phúc, tại Ða vân. Cả tạng
kinh chùa đó đều tự tay Sư chép ra. Ðến khi vị chủ chùa
mất, Sư kế chân làm trú trì, tự sống đời đạm bạc,
mình thường mặc áo vải, không dùng tấc lụa, nhiều năm
như thế, lòng không thối chí. Thường bảo đồ chúng rằng:
"Bước lên chiếc xe của Phật là nhờ siêng năng, thành tựu
Chánh giác của Phật là do trí tuệ. Giống như mũi tên bắn
đi, nó tới được ngoài trăm bước, là nhờ cái lực, nhưng
trúng được đích, không phải nhờ vào lực vậy"(5).
Ngày mồng 7 tháng 5 năm Chánh
Long Bảo ứng thứ 11 (1173) khi sắp viên tịch, Sư nói kệ:
Ðược thành chánh giác ít
nhờ tu
Trí tuệ ưu tiên thoát ngục
tù
Nhận lẽ ma ni huyền diệu
ấy
Như kìa trời rộng tỏa vừng
ô.
Lại nói:
Người trí như trăng chiếu
khắp trời
Sáng trùm mọi cõi chẳng vì
ai
Nếu người muốn biết nên
phân biệt
Man mác chiều non khói toả
khơi.
Lại nói:
"Tâm ý của đức Như Lai, đều
không thể hiểu được, chỉ nên dùng Vô lượng trí (mới
hiểu nổi thôi). Cho nên, biết rằng tâm của Như Lai ví như
hư không, là nơi nương tựa của tất cả sự vật, thì trí
tuệ của Như Lai cũng như vậy".
Nói xong, Sư mất. Môn đồ
thu xá lợi xây tháp.
21. Thiền sư KHÔNG LỘ ( ? –
1119)
Chùa Nghiêm quang, Hải thanh
(1). Người Nghiêm quang, Hải thanh, họ Dương. Dòng dõi làm
nghề chài, sau bỏ nghề chài, hướng lòng theo Phật, thường
trì tụng đà la ni môn. Trong khoảng Chương Thánh Gia Khánh
(1059 – 1065) cùng bạn đạo là Giác Hải cất bước vân du,
tạm đến chùa Hà trạch (2) nương thân, mặc áo cỏ, ăn lá
cây, đến nỗi quên chính thân mình. Ngoài dứt ruỗi dong,
trong tu thiền định, tâm thần tai mắt ngày một nhẹ nhàng,
bèn bay (25b1) lên không, đi trên nước, làm cọp nép, kêu rồng
xuống, muôn quái nghìn kỳ, người không lường nổi (3).
Sau Sư về quận mình lập chùa.
Một hôm, có thị giả thưa rằng: "Từ ngày con đến đây,
chưa được thầy dạy bảo chỗ tâm yếu, nhưng con mạn phép
xin trình một bài kệ: "Rèn luyện thân tâm mới được trong
Sum suê cây thẳng ngó sân không
Có người đến hỏi không
vương pháp, (4)
Ảnh rập hình ngồi cạnh chấn
phong".(5)
Sư xem xong bảo: "Ngươi đem
kinh đến, ta vì ngươi nhận, ngươi mang nước đến, ta vì
ngươi uống, thì có chỗ nào mà ta lại không cho ngươi tâm
yếu?"(6). Bèn cất tiếng cười ha hả. Sư thường nói kệ
rằng:
"Chọn chỗ đáng nương, đất
rắn rồng,
Tình quê suốt buổi mãi vui
rong
Có khi lên thẳng đầu non quạnh
Huýt một hơi dài lạnh cõi
không"(7).
Ngày mồng 3 tháng 6 năm Kỷ
hợi, Hội Tường Ðại Khánh thứ 10 (1119), Sư viên tịch.
Môn đồ thu thập xá lợi táng trước cửa chùa.
Sau đó, vua ban chiếu sửa rộng
chùa này và đặc cách cho thuế hộ 20 người để trông coi
hương khói.*{Vị Sư này không có niên đại có thể truy cứu,
nay dựa theo thứ tự truyền pháp trong
Nam tôn đồ
mà
mô tả ra đây} (8).
22. Thiền sư BẢN TỊNH (1100
– 1176)
Am Bình dương, núi Chí linh,
Kiệt đặc(1). Người Phù Diễn, Vĩnh khương (2), họ Kiều.
Sư nhỏ hiếu học, rõ lẽ sinh tử nhà Phật, theo dấu nhân
nghĩa nhà Nho, nhận được ý chỉ nơi Thiền sư Mãn Giác chùa
Giác nguyên. Năm Ðại Ðịnh thứ 2 (1141), Sư thẳng đến núi
đó trác tích. Hữu bật Ngụy Quốc Bảo (3) hâm mộ phẩm
cách và đức độ của Sư, nên kính Sư như bậc thầy.
Sau Sư nhận lời mời của
Thành Dương công chúa(4), đến trụ trì chùa Càn an, thừơng
phát đại nguyện rằng:
"Ðời đời kiếp kiếp
Ý Phật không mê
Tự giác, giác tha,
Không chia đó đây,
Ðề huề phương tiện,
Một nẻo cùng về".
Vào một hôm trong tháng Giêng
năm Trịnh Phù thứ 1 (1176), Sư không bệnh, gọi chúng đến
dạy:
Một nẻo, một nẻo(5)
Mèo đá đuôi vẫy(6)
Xông đến vồ chuột
Hóa ra là quỷ
Nếu tỏ rõ được
Vàng từ lệ thủy(7).
Rồi nói bài kệ sau:
Thân huyễn vốn từ không tịch
sinh,
Giống như trong kính hiện ra
hình,
Hiểu rành hết thảy đều
không huyễn,
Thật tướng phút giây thân
huyễn thành(8).
Nói kệ xong, Sư tịch, thọ
77 tuổi.
THẾ HỆ THỨ MƯỜI
( GỒM MƯỜI HAI NGƯỜI , HAI
NGƯỜI KHUYẾT LỤC)
23. THIỀN SƯ MINH TRÍ {Trước
tên Thiền Trí} (? - 1196)
Chùa Phúc thánh, Ðiển lãnh(1).
Người làng Phù cầm(2), họ Tô. Sư bẩm tính thông tuệ, đọc
khắp các sách. Ðến tuổi 20, gặp Ðạo Huệ thượng sĩ,
bèn bỏ tục xuất gia, gõ trúng bảng huyền. Hiểu rõ tôn
chỉ các kinh Viên giác, Nhân Vương (3), Pháp hoa và sách
Truyền
đăng.
Sư giảng dạy đồ chúng không biết mệt mỏi, nên
được ban hiệu Minh Trí.
Một hôm, Sư cắt cỏ, có một
vị Tăng khoanh tay đứng bên trái. Sư ném chiếc liềm đến
trước mặt vị Tăng, cắt đứt một gốc cỏ.
Vị tăng thưa: "Cổ nhân dạy
Hoà thượng chỉ cắt được một cái đó sao?"
Sư cầm chiếc liềm đưa lên,
vị Tăng nhận lấy, bèn đứng thế cắt cỏ.
Sư nói: "Lại nhớ được câu
sau đó chăng? Ngươi chỉ cắt được cái đấy, mà không cắt
được cái kia sao?"(4)
Vị tăng nghĩ rồi bỏ đi.
Sư nói chuyện một vị Tăng,
bên cạnh có một vị Tăng khác nói: "Nói hết sức tức là
Văn Thù, im lặng hết sức tức là Duy Ma" (5)
Sư bảo: "Không nói (27a1) không
im lặng, chẳng phải là ông sao?".
Vị Tăng gật đầu.
Sư bảo: "Sao chẳng hiện thần
thông?"
Vị Tăng thưa: "Chẳng từ chối
việc hiện thần thông, chỉ sợ hoà thượng thâu vào giáo".
Sư bảo: "Ngươi chưa phải
là con mắt ở ngoài giáo điển (6). Bèn nói kệ:
"Ngoài giáo khá riêng truyền
Cao sâu vực Tổ Phật
Nếu ngươi muốn rõ đích,
Tìm khói giữa diệm dương."
(7)
Một ngày tháng nào đó của
năm Bính thìn Thiên Tư Gia Thụy thứ 11 (1196), lúc sắp tịch,
Sư nói kệ sau:
"Gió tùng trăng nước tỏ,
Không ảnh cũng không hình
Sắc thân là cái đó,
Không không tiếng vọng tìm".
Nói kệ xong, Sư yên lặng mà
mất.
24.Thiền sư TÍN HỌC (? –
1200)
Chùa Quán đỉnh, núi Không
Lộ. Người châu Minh, phủ Thiên đức, họ Tô. Ðời đời
chuyên nghề khắc kinh. Nhỏ thờ Thanh giới, không giao du bừa
bãi.
Năm 32 tuổi, theo Du thiền sư
đến núiTiên du, thế phát với Ðạo Huệ. Ở hầu hạ ba
năm. Sư sâu hiểu tôn chỉ, nhân đó một mình chống gậy
du phương, đến ở chùa Quán đỉnh.
Có lần ở trước tượng Phật
(27b1), Sư đốt ngón tay và phát nguyện rộng lớn rằng: "Trần
lao nhiều kiếp, dứt không vướng lại". Sư chuyên tu pháp
tam quán trong kinh Viên giác. Mỗi ngày chỉ ăn một bữa, hình
dung khô gầy. Nhiều năm như thế, hoàn toàn không có vẻ gì
chán nản, nên sau đạt phép Tam quán chính thọ. (1)
Công khanh sĩ thứ, rất ngưỡng
mộ phong thái cao nhã của Sư, đua nhau theo hầu. Sư thường
dạy:
Có lợi tất có nhiễm
Có nhiễm tất có lợi
Có lợi co ?hiễm
Bồ tát không làm
Không lợi không nhiễm
Bồ tát mới làm.
Ngày 9 tháng giêng năm Canh thân
(2), Thiên Tư Gia Thụy thứ 15 (1200), Sư cáo bệnh, gọi chúng
đến đọc bài kệ.
"Núi rừng cọp beo
Vằn vện lẫn lộn
Nếu muốn phân biệt
Con kêu mẹ mổ" (3).
Nói xong Sư tịch.
25. Thiền sư TỊNH KHÔNG (1091
– 1170)
Chùa Khai quốc, phủ Thiên đức.
Vốn người Phúc xuyên (1), họ Ngô. Ban đầu xuất gia và thọ
giới Cụ túc ở viện Sùng phúc tại châu minh.
Năm 30 tuổi, Sư đi hành cước
phương Nam, đến chùa Khai quốc. Trải 5, 6 năm, tu hạnh đầu
đà, mỗi ngày chỉ dùng một hạt gạo, hạt mè, ngồi hoài
không ngủ, Mỗi lần nhập định, thường trải nhiều ngày
(28a1) mới dậy. Ðàn tín bốn phương đến cúng, chất cao
như núi. Hoặc có kẻ đến rình ăn trộm, Sư tất bảo lấy
những vật Sư hiện có.
Bấy giờ Nam Khương công chúa,
ý muốn xuất trần, riêng đến xin Sư thụ giới. Sư bằng
lòng thế độ. Triều đình hay được, xuống chiếu bắt Sư.
Khi Sư tới khuyết, thần sắc thản nhiên, vua càng thêm kính,
phong làm thạc đức danh tăng. Sư cố từ không được. Một
hôm Sư thượng đường, có một vị Tăng cầm gậy đến hỏi:
"Thế nào là pháp thân?".
Sư đáp: "Pháp thân vốn vô
hình?"
Lại hỏi: "Thế nào là pháp
nhãn?".
Sư đáp: "Pháp nhãn vốn không
mờ". Rồi tiếp: "Trước mắt không pháp, ý ở trước mắt.
Pháp chẳng là chỗ của tai mắt".
Vị tăng bật cười ha hả.
Sư hỏi: "Cười điều chi?"
Vị Tăng đáp: "Hoà thượng
là bậc xuất thế số một, nhưng chưa có tôn chỉ, phải
đến tham vấn Ðạo Huệ mới được!"
Sư hỏi: "Ðến hỏi thầy kia
thì được việc gì?"
Vị Tăng bảo: "Trên không ngói
lợp; dưới không cắm dùi".
Sư bèn thay áo, thẳng đến
Ðạo Huệ ở núi Tiên Du (2).
Huệ nói: "Ờ đây không phải
không có tôn chỉ, nhưng thầy quyết chắc bằng cách nào?."Sư
ngẫm nghĩ.
(28b1) Huệ hét: "Ngay mặt quá
đà rồi !"
Sư lãnh hội yếu chỉ, nhân
đó ở lại nâng khăn, xacxh guốc cho Ðạo Huệ 3 năm. Sau Sư
trở về chùa cũ, thâu nhận đồ chúng. Một hôm Sư hội họp
đồ chúng nói kệ:
"Trên không mảnh ngói lợp
Dưới không chỗ cắm dùi.
(3)
Hoặc đổi áo thẳng đến
Hoặc xách trượng ra đi.
Ðộng chuyển chuyển nhằm
chỗ
Tợ rồng nhảy đớp mồi".
Vị Tăng hỏi: "Từ trước
"trực chỉ" là nói cái gì?"(4)
Sư đáp: "Ngày ngày đi gặt
lúa
Giờ giờ kho lẫm không"
Tăng thưa: "Con chẳng hiểu"
Sư dạy: "Trời trăng luôn sáng,
Mây nổi khuất che".
Rồi sư đọc kệ:
Người trí không ngộ đạo
Ngộ đạo tức kẻ đần
Nằm dài chân khách duỗi
Sao biết ngụy cùng chân" (5)
Lại hỏi: "Thế nào là Phật?"
Sư đáp: "Nhật nguyệt sáng
ngời muôn vạn cõi
Ai hay mây móc phủ non sông".
Sư đáp: "Mục đồng chỉ giỏi
cưỡi lưng trâu
Sĩ có anh hùng vượt được
y"
Lại hỏi: "Ý tổ và ý kinh
giống hay khác?"
Sư đáp: "Muôn dặm thuyền
tàu, đều chầu cửa khuyết".
Lại hỏi: "Hoà (29a1) thượng
có việc kỳ đặc, sao không nói cho học nhân biết?"
Sư đáp: "Ông thổi lửa, tôi
vo gạo, ông khất thực, tôi cầm bát, ai phụ ông đâu?"
Vị Tăng liền tỏ ngộ.
Vào một ngày tháng nào đó
của năm Chính Long Bảo Ứng thứ 8 (1170), khi sắp thị tịch,
Sư từ giã chúng, dặn dò: "Các con hãy khéo giữ mình như
khi ta còn sống, chớ có đắm trước mà sinh ra quyến luyến
buồn rầu". (7)
Nửa đêmhôm ấy, Sư ngồi
kiết già mà tịch, thọ trên 80 tuổi.*{Cơ duyên thoại ngữ
của truyện này cùng với chuyện của Hoà thượng Giáp Sơn
trong
Truyền đăng (8) rất hợp, song xét
Liệt tổ
yếu ngữ
(9) của Huệ Nhật thì đều đã chép đủ, không
dám cải chính}.
26. Thiền sư ÐẠI XẢ (1120
– 1180)
Chùa Báo đức, núi Vũ Ninh
(1). Người phường Ðông tác (2) họ Hứa. Nhỏ xuất gia theo
Ðạo Huệ, núi Tiên du, tập tành Thiền học, biết sơ nét
chính của nó.
Sư thường ngồi trì tụng
thần chú Diệu môn Phổ Hiền trong kinh Hoa nghiêm (3) làm công
việc hàng ngày. Có lúc Sư xỏa tóc, bỏ ăn, cư trú không
nơi nhất định. Các Vương công đua nhau đến hầu hạ Sư.
Kiến Ninh Vương (4) và Thiên Cực công chúa (5) cũng hết lòng
tôn kính. Sư thường ở Hổ nham tại Tuyên minh (6), lập chùa
giáo hóa (28b1), học trò đến học rất đông. Có vị Sư nước
Tống hiệu Nham ông, nghe tiếng cảm mộ, bèn đốt một ngón
tay để cúng dường. Người ta nghi Sư có yêu thuật, nên trong
khoảng Thiên Cảm Chí Bảo (1174 – 1175), Thái uý Ðỗ Anh Vũ
(7) ra lệnh bắt vào trong cấm, hết lời nghiêm trách. Sư vẫn
không có vẻ gì là sợ hãi. Thiên Cực tâu xin thả ra, nên
Sư được khỏi.
Một hôm, vua Lý Anh Tông cho
mời Sư vào hỏi: "Trẫm nhiều phiền hoặc, có phép thuật
gì trị chăng?"
Sư tâu: "Phép 12 Nhân duyên(8)
là căn bản của sự tiếp nối sinh tử, nếu dùng nó để
trị, thì đó là phương thuốc vậy".
Vua lại hỏi về yếu chỉ
của nó.
Sư tâu: "Vô minh nhân duyên
hành, cho đến lo, buồn, khổ, não. Muốn cầu quả Bích Chi
Phật nên nói đến 12 nhân duyên(8), để trị thân này thì
không còn nghiệp phiền não nữa". Vua nói: "Thế thì Trẫm
phải tĩnh tâm tu tập".
Sư tâu: "Khi giữ được nghiệp
thức an tịnh, tức là thanh trừng được phiền não, chớ
không còn có phép nào khác đáng tu tập cả. Ngày xưa Lương
Vũ Ðế (9) thường đem việc đó hỏi Thiền sư Bảo Chí (10),
Bảo Chí cũng đáp như thế. Nay tôi cũng xin trộm trình với
(30a1) bệ hạđiều y hệt như vậy (11).
Ðến ngày mồng 5 tháng 2 năm
Trinh Phù thứ 5 (1180) Sư dặn dò đệ tử rồi nói kệ:
"Bốn rắn cùng lồng(12) vốn
trống trơn,
Núi cao năm uẩn (13) chẳng
bà con,
Linh minh chân tính không ngăn
ngại
Sinh tử Niết bàn nỡ vấn
vương".