Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Lịch Sử Phật Giáo


...... ... .

 

TOÀN TẬP 
MINH CHÂU HƯƠNG HẢI 

Tiến sĩ Lê Mạnh Thát
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành 2000 

--o0o--

BÁT NHÃ VÔ TẬN TẠNG CHÂN NGÔN

 

Nạp mô bạc già phạt đế bát nị nhã ba la mật đa dậy. Đát điệt tha. A? lột rị địa rị thất rị tuất rô tri tam mật lật tri Phật xả dậy. Sa ha .

Phật rằng Vô tận tạng chân ngôn thật là mẹ chư Như lai. Dầu hay trì tụng thần chú ấy, hết thảy tội nghiệp đều cũng tiêu diệt. Lại được chính trí, biết quá khứ kiếp túc mạng nhân duyên, chỗ nghe chính pháp hằng nhớ chẳng quên. Bèn kíp chứng được vô thượng bồ đề .

KIM CƯƠNG TÂM CHÂN NGÔN

Án ô luân ni. Sa bà ha

Trước hết lại dạy trì Kim cương tâm chú là bản tâm vậy. Quá khứ chư Phật cũng lấy Kim cương tâm làm nhân, mà tu, bèn mới chứng nên Phật quả. Dẫu nhẫn ra đời giáo hoá chúng sinh, dạy chư Bồ tát cũng lấy Kim cương tâm mà tu, mới được vào đại thừa pháp. Trước hiển, sau mật, dầu tụng Kim cương kinh, hằng niệm chân ngôn, ấy ắt chẳng thối chuyển vậy .

TÁN

Tán là lời khen ngợi pháp bát nhã này, lấy làm mẹ hết thảy chư kinh. Quá khứ chư Phật cũng nương pháp này mà được thành tựu. Hiện tại chư bồ tát cũng lấy pháp này mà độ chúng sinh. Vị lai hành nhân cũng nhờ pháp này, mà được kiến tính vậy .

Đoạn nghi sinh tín

Tuyệt tướng siêu tôn

Tồn vong nhân pháp giải chân không

Bát nhã vị trùng trùng

Tứ cú dung thông

Phước đức thán vô cùng

Đoạn nghi sinh tín là Tu Bồ Đề nhân Phật phá nghi, bèn minh tự kỷ chân tâm, dứt rồi chúng sinh phiền não vọng tưởng. Kinh này một vị, chỉn thật đoạn nghi sinh tín, lấy làm chủ vậy. Như lai chỗ truyền niết bàn diệu tâm chính pháp nhãn tạng, lấy Kim cương bảo kiếm đoạn trừ tình hoặc vi tế tứ tướng, biết được chân như, lý nhân pháp đều không, mới chứng chân không vậy. Bát nhã nguyên tùng chân như tâm lưu ra. Hết thảy muôn pháp chư kinh lấy kinh Kim cương làm cốt tủy. Kinh Kim cương lại lấy tứ cú kệ làm cốt tủy. Dầu hay liễu đạt dung thông sự lý, vì người diễn thuyết tự lợi, lợi tha, ắt thật thành tựu pháp thân, chứng nên hà sa phước đức. tán thán vô cùng vô tận vậy .

Nam mô Kỳ viên hội thượng Phật bồ tát

Diễn thuyết đại bộ Bát nhã kinh khi Phật trụ vương xá thành non Thứu Phong. Hội thứ nhất diễn thuyết 400 quyển. Hội thứ hai diễn thuyết 78 quyển. Hội thứ ba diễn thuyết 59 quyển. Hội thứ tư diễn thuyết 18 quyển. Hội thứ năm diễn thuyết 10 quyển. Hội thứ sáu diễn thuyết 8 quyển .

Khi Phật trú Thất la phiệt thành, viện Cấp cô viên, hội thứ bảy diễn thuyết 2 quyển, hội thứ tám diễn thuyết 1 quyển, hội thứ chín diễn thuyết 1 quyển .

Khi Phật lên tha hoá tự tại thiên cung, trên điện Mạt ni bảo tạng, hội thứ mười diễn thuyết 2 quyển .

Khi Phật lại về trú Thất la phiệt thành, viện Cấp cô viên, hồi thứ mười một diễn thuyết bố thí ba la mật 5 quyển, hội thứ mười hai diễn thuyết giới ba la mật năm quyển, hội thứ mười ba diễn thuyết nhẫn nhục ba la mật 1 quyển, hội thứ mười bốn diễn thuyết tinh tấn ba la mật 2 quyển .

Khi Phật lại trú Vương xá thành non Linh Thứu phong, hội thứ mười lăm diễn thuyết thiền định ba la mật 3 quyển. Hội thứ mười sáu Phật lại trụ Vương xá thành viện Trúc lâm viên diễn thuyết trí tuệ la la mật tám quyển .

Trước sau hết thảy vừa mười sáu hội, kể được sáu trăm hai quyển. Khi thì Phật dạy thanh diễn thuyết. Khi thì Phật dạy bồ tát diễn thuyết. Một quyển Kim cương bát nhã này, lời Phật kim khẩu thân truyền, diễn thuyết vừa khi hội thứ chín ở nơi Thất la phiệt thành, viện Kỳ thọ Cấp cô độc viên, kể từng quyển, năm trăm thứ bảy mươi bảy.

Kinh này là đại thừa giáo. Như lai vì người phát đại thừa tối thượng thừa, mà diễn thuyết. Vì vậy khi tụng kinh rồi, bèn niệm rằng :

Nam mô Kỳ viên hội thượng Phật bồ tát .

KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH

Hoàn

GIỚI THIỆU

GIẢI DI ĐÀ KINH

Kinh A Di Đà, kể từ ngày Cưu Ma La Thập (Kumarajìva) dịch vào năm 402 từ bản tiếng Phạn Sukhavatìyùhà, hiện còn được bảo tồn, chắc chắn đã được các Phật tử Việt Nam biết tới và đọc tụng. Nhưng các tư liệu hiện thấy, ta không có bất cứ một thông tin nào ghi nhận về sự xuất hiện của nó, cho đến khi Minh Châu Hương Hải viết Giải Di Đà kinh. Cho nên để hiểu cụ thể lịch sử phát triển của tư tưởng tịnh độ ở nước ta, Giải Di Đà kinh có vị thế xung yếu .

I.TÌNH TRẠNG VĂN BẢN

Văn bản chúng tôi hiện sở hữu là bản in năm Minh Mạng thứ 14 (1833), khổ 13*27, gồm 43 tờ, trong đó 2 tờ đầu in bài tựa cho việc khắc lại các kinh (Trùng san chư kinh tự), 39 tờ đánh số liên tục từ 1 đến 39 in Giải Di Đà kinh, và 2 tờ cuối cùng đề trên gáy là Di Đà kinh mạt ghi tên những người ủng hộ tinh thần và vật chất cho việc in lại bản giải kinh này. Mỗi tờ 2 mặt, mỗi mặt 8 dòng chữ cỡ lớn và 16 dòng cho cỡ chữ in nhỏ. Chữ cỡ lớn in chính văn chữ Hán, còn chữ cỡ nhỏ để in lời giải bằng tiếng Việt quốc âm. Mỗi dòng chữ lớn có 17 chữ, còn chữ nhỏ có 16 chữ. Đây là một bản in đẹp, chữ khắc rõ ràng dễ đọc, tương đối không có sai sót gì nhiều, tuy nhiên đôi khi cũng có khắc lộn chữ này qua chữ kia mà dễ thấy nhất là chữ cùng hay cũng ( ) thường hay bị khắc thành chữ kỳ ( ).

Người đứng bản in này căn cứ bài tựa Trùng san chư kinh tự là Thiền sư Từ Tường, thuộc chùa Linh Sóc, xã Hà Hồi. Theo bản in của bài tựa đây thì tên xã là Hà Huýnh, nhưng căn cứ vào danh sách những người cúng bản gỗ để in kinh thì ta có tên Hà Hồi xã. Hơn nữa theo Các tổng trấn xã danh bị lãm, trong các làng xã Việt Nam ở miền Bắc vào đầu thế kỷ 19, không có xã nào tên Hà Huýnh cả, mà chỉ có tên xã Hà Hồi, thuộc tổng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng (tức thuộc huyện Thường Tín, Hà Tây ngày nay). Vì chưa có điều kiện điều tra thực địa về ngôi làng Hà Hồi này, cho nên chúng tôi không biết làng này có ngôi chùa nào tên Linh sóc không. Do thế, về vị thiền sư Từ Tường, ta hiện chưa biết rõ lai lịch .

Trong 2 tờ cuối ghi tên những người ủng hộ tinh thần và vật chất cho việc in lại Di Đà kinh (Trùng san Di Đà kinh) ta thấy liệt kê một loạt tên những vị "chứng san" như đại đức Thanh Hoà chùa Hoa Lâm, đại đức Trí Thủy chùa Sùng Phúc, tỷ kheo Từ Tạng, tỷ kheo Từ Dung, tỷ kheo Chiếu Huyên, tỷ kheo Thanh Nhã, tỷ kheo Bảo Đỉnh, tỷ kheo Thanh Khê, v.v…Nhưng những người này hiện tại cũng chưa rõ lai lịch, nên cũng không giúp gì được việc truy tìm lại tiểu sử của thiền sư Từ Tường .

Người viết tựa cho lần in này có tên là Đặng Hy Hiến. Hy Hiến rõ ràng là tên chữ, tên thật là gì ta hiện chưa biết. Ông viết lời tựa ở tại thư xá của ông gọi là Tiên thị. Và tự nhận mình là một nhà Nho. Ông chỉ giữ chức trách viết tựa, mà không có tham gia vào việc chỉnh cú hay sửa lại sai sót của những bản in trước. Việc chỉnh cú này theo ông là do thiền sư Từ Tường thực hiện. Về nhân vật Đặng Hy Hiến này, cũng trong bảng danh sách những người ủng hộ in kinh, có ghi tên một cử nhân khoa Tân mão tên là Đăng Văn Kham, thuộc thôn Cự Đình, xã Lộc Đình, huyện Văn Giang, phủ Thuận An (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Theo Quốc triều hương khoa lục 1 tờ 49a7, thì đúng là năm Minh Mạng thứ 12 Tân mão (1831) trong những người đậu cử nhân tại trường thi Thăng Long có tên Đặng văn Kham. Và cũng theo sách này thì Đặng Văn Kham làm quan đến chức A? sát ở Quảng Nam, sau đó bị tội, nhưng không cho biết ông có tên hiệu là gì, nên cũng không thể đồng nhất Đặng Hy Hiến với Đặng văn Kham. Về sự việc này cũng cần điều tra thêm mới làm rõ được .

Ngoài Đặng văn Kham, bản danh sách này cũng có ghi thêm tên đường huynh của Kham là tú tài Đặng văn Chính. Song một lần nữa, về Đặng văn Chính ta cũng không biết gì hơn, nên không thể bình luận gì về quan hệ với Đặng Hy Hiến .

Dẫu vậy, lời tựa của Đặng Hy Hiến đã cho ta biết ít nhiều về bản đáy, mà thiền sư Từ Tường đã dùng để in lại Giải Di Đà kinh. Theo Đặng Hy Hiến, do việc khi đem in thì các bản gỗ xưa bị thiếu, nứt và sứt nát, vị thiền sư đã bổ xuyết vào những chỗ thiếu và mất, để đem khắc bản (cổ bản khuyết liệt, hoán mạn chi dư, bổ xuyết lậu đật, phục phó kỷ quyết). Tuy nhiên, bản in chúng ta có hiện nay không có dấu hiệu gì để giả thiết có 2 loại bản gỗ khác nhau, tức bản khắc cũ và bản khắc mới do Từ Tường bổ sung vào. Nói khác đi, đây là một bản khắc hoàn toàn mới. Vậy khi khắc bản gỗ cho lần in này, Từ Tường chắc đã có trong tay một văn bản của lần in trước, và lần in trước này có khả năng cách Từ Tường khá lâu, bởi vì lối chữ quốc âm thường có những chữ giả tá của thế kỷ 18. Ví dụ như chữ đến, viết là điển, không có chữ chí cạnh bên; chữ suốt viết là …v.v. Hiện ta không biết trước lần in này còn bao nhiêu lần in nữa, nhưng chắc chắn ta biết bản in củaTừ Tường là dựa vào 1 bản in trước đó, vì nó có nói đến bản gỗ khắc cũ .

Văn bản này có mấy tên gọi khác nhau. Từ tờ 1 trở đi, tên gọi chính là Phật thuyết A Di Đà kinh sớ sao tự. Rồi tờ 7 có tên là Phật thuyết A Di Đà kinh. Nhưng trên gáy tất cả từ tờ 1 đến tờ 39, trừ tờ 4 đến tờ 6 đều gọi là Di Đà kinh thích giải hoa ngôn. Còn tờ 4 đến tờ 6, trên gáy chỉ có Di Đà kinh. Hai tờ ghi danh sách những người cúng kinh cũng ghi là Di Đà kinh. Như thế, ở đây ta có những tên gọi khác nhau của bản văn giải thích này. Tuy nhiên, cứ vào Hương hải thiền sư ngữ lục, ta có tên Giải Di Đà kinh. Tên này được ghi vào trong số các tác phẩm của Minh Châu Hương Hải và được lưu hành để những người khác chép lại, thì rõ ràng nó tương đối phổ thông. Hơn nữa, vì nó được ghi vào trong Hương hải thiền sư ngữ lục, mà cuốn ngữ lục này lại in vào năm 1847. Vì thế, nó phần nào có tính cổ sơ khi so với tên của bản in chúng ta hiện có. Chúng tôi do thế đề nghị gọi văn bản mà chúng ta hiện sở hữu trong tay bằng tên gọi Giải Di Đà kinh .

II.NĂM BIÊN SOẠN VÀ NGUỔN TÀI LIỆU

Theo Hương hải thiền sư ngữ lục thì các tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đều viết tại chùa Nguyệt Đường, nghĩa là từ những năm 1685 trở về sau cho đến khi ông mất vào năm 1715. Thế thì trong gần 30 năm này, ông đã viết Giải Di Đà kinh vào thời điểm nào. Theo chúng tôi nghĩ vì Minh Châu Hương Hải đánh giá rất cao phương pháp niệm Phật tịnh độ, đặc biệt là khi ông ra ở tại viện Thiền tịnh của núi Quy Thái, tỉnh Thừa Thiên bây giờ, tức vào khoảng năm 1665, chắc chắn ông đã quan tâm đến các văn hiến liên hệ với phương pháp tu hành này, trong đó có bộ A Di Đà kinh sớ sao của Châu Hoằng (1535-1615). Thực tế như sẽ thấy dưới đây, Giải Di Đà kinh là một bộ thích giải chủ yếu dựa vào A Di Đà kinh sớ sao vừa nói. Điểm lôi cuốn là sau khi Châu Hoằng mất không lâu, tác phẩm của ông đã được truyền qua nước ta và được Minh Châu Hương Hải biết tới. Có khả năng ông đã biết đến tác phẩm này từ những ngày ông còn ở miền Nam, tức vùng Thuận hoá và Quảng nam. Dẫu sao đi nữa, dù biết trước khi ra Bắc hay sau đó, điều chắc chắn là trong thế kỷ thứ 17, tác phẩm của Châu Hoằng đã phổ biến rộng rãi bên ngoài Trung quốc. Sự kiện này cho chúng ta một nhận định khá hấp dẫn về tình trạng giao lưu văn hoá giữa các dân tộc vào thế kỷ ấy. Đó là đã có sự giao lưu thường xuyên và đồng thời giữa các nền văn hoá của các dân tộc khác nhau thời đó, đặc biệt trong đó có cả văn hoá Phật giáo .

Theo phân tích hiện nay về Giải Di Đà kinh, thì tuy Minh Châu Hương Hải đã dựa vào A Di Đà kinh sớ sao, nhưng ông đã không hoàn toàn bám sát tác phẩm của Châu Hoằng. Tác phẩm của Châu Hoằng gồm 4 quyển, giải thích rất dông dài từng đoạn văn 1. Bây giờ nếu ta so sánh giữa 2 tác phẩm của Châu Hoằng và Minh Châu Hương Hải thì không thấy có sự bám sát sít sao. Chẳng hạn, ngay câu đầu của bài tựa :"Linh minh động triệt, trạm tịch thường hành, phi trọc phi thanh, vô bối vô hướng. Đại tai chân thể, bất khả đắc như tư nghị giả, kỳ duy tự tánh du", Châu Hoằng đã dùng đến 1026 chữ để giải thích, tức "sớ sao". Trong khi đó, Minh Châu Hương Hải chỉ dùng hơn 100 chữ Việt để vừa dịch vừa giải thích câu đó. Nói thế có nghĩa là Minh Châu Hương Hải đã tóm tắt A Di Đà kinh sớ sao và giải thích lại bằng tiếng Việt .

Tuy nhiên, không phải bao giờ Minh Châu Hương Hải cũng tóm tắt một cách trung thành những lời giải thích của Châu Hoằng. Lấy thí dụ, khi giải thích về tên Cấp Cô Độc, thì ai cũng biết đây là tên dịch tiếng Hán của Anathapindika, một cư sĩ đệ tử nổi tiếng của Đức Phật và nổi tiếng vì ông thường hay bố thí cho những người cô và độc tức những trẻ em không cha mẹ và người già không vợ con. Thế mà trong Giải Di Đà kinh, Minh Châu Hương Hải đã giải thích Cô Độc như sau :"Cô Độc là thầy tu, trên từ lục thân gọi là Cô, dưới xả thê tử gọi là Độc". Đây là lời giải thích mà ta không tìm thấy trong A Di Đà kinh sớ sao của Châu Hoằng. Thực tế về vị cư sĩ nổi tiếng này, Châu Hoằng viết :"Cấp Cô Độc, trẻ mà không cha gọi là Cô, già mà không con gọi là Độc, nay chỉ nơi không nương tựa, không nuôi dưỡng, thì gọi là Cô Độc", như A Di Đà kinh sớ sao 2 tờ 376a8-9 (188c8-9) đã ghi. Nói khác đi, ta không tìm đâu ra cách giải thích Cấp Cô Độc liên hệ với thầy tu như Minh Châu Hương Hải đã có .

Nói tóm lại, khi viết Giải Di Đà kinh, Minh Châu Hương Hải đã dựa vào A Di Đà kinh sớ sao, lấy đây làm nguồn tư liệu chủ yếu, nhưng rút gọn bớt tới gần 90 % và thêm vào những kiến giải riêng của mình. Chính những kiến giải thêm này đã làm nên bộ mặt riêng của Giải Di Đà kinh .

III. PHÂN TÍCH NỘI DUNG

Giải Di Đà kinh được tổ chức trong bản in lần này thành 3 phần. Trong 39 tờ đánh số liên tục, ta thấy 6 tờ đầu dành cho phần giải thích lời tựa của A Di Đà kinh sớ sao. Tờ thứ 6 ghi lại nghi thức đọc kinh, 33 tờ còn lại hoàn toàn dành cho việc giải thích A Di Đà kinh, bản dịch của La Thập và dựa vào A Di Đà kinh sớ sao. Vì dựa vào A Di Đà kinh sớ sao, cho nên cách giải thích của Minh Châu Hương Hải bị ảnh hưởng của Châu Hoằng. Thứ nhất, khi viết A Di Đà kinh sớ sao, Châu Hoằng đã nói rõ ông dựa vào Hoa Nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao của Trừng Quán (738-840) để có tên là "sớ sao". Sớ là để giải thích kinh và sao để tóm tắt ý nghĩa của những giải thích đó. Vì chịu ảnh hưởng của Trừng Quán, tức tư tưởng Hoa Nghiêm nên Châu Hoằng mới đề ra lối giải thích đặc thù của riêng mình gọi là xứng lý, mà Minh Châu Hương Hải đã tiếp thu và cải biên. Một trong những nét cải biên dễ thấy nhất là Minh Châu Hương Hải đã gộp sớ và sao vào một, bằng chính việc ông ghi lời sớ sao rằng. Trong khi đó, Châu Hoằng phân chia ra rành rẽ giữa sớ và sao. Thông thường, sao còn được viết dài hơn sớ nữa.

Mặt khác, thời kỳ A Di Đà kinh sớ sao ra đời là thời kỳ phong trào tâm học của Vương Dương Minh (1472-1529) phát triển rầm rộ, vì thế khi viết A Di Đà kinh sớ sao, Châu Hoằng đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ lý luận tâm học của phong trào ấy. Điều này ta có thể thấy rõ ngay câu đầu của lời tựa, khi Châu Hoằng viết :"Linh minh động triệt, trạng tịch thường hằng". Linh minh là một phạm trù đặc biệt của tư tưởng tâm học Vương Dương Minh. Trong Truyền tập lục quyển hạ, Vương Dương Minh đã xác định :"Linh minh của ta là chúa tể của trời đất quỷ thần…Trời đất quỷ thần vạn vật, mà rời linh minh của ta, thì không có trời đất quỷ thần vạn vật và linh minh của ta, mà rời trời đất quỷ thần vạn vật, thì không có linh minh của ta nữa". Cho nên, khi viết Giải Di Đà kinh, Minh Châu Hương Hải cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng tâm học Vương Dương Minh .

Bố cục của A Di Đà kinh sớ sao gồm 3 phần . Phần thứ nhất trình bày tổng quát, thể hiện qua bài tựa nói lý do tại sao viết bản giải thích này. Đó là vì các bản sớ xưa quá giản lược và ít lưu hành ở đời, cho nên phải viết lại. Phần thứ hai là giải thích văn nghĩa, gồm 10 vấn đề. Một là lý do xuất hiện của Phật giáo nói chung và Kinh A Di Đà nói riêng. Hai là vấn đề phán giáo, tức xếp loại kinh này thuộc loại gì. Ba là vấn đề đốn tiệm, tức xếp phương pháp tu hành của kinh này thuộc dạng tông phái nào. Bốn là nói về đối tượng nhắm tới của kinh này, tức những ai có thể thực hành được. Năm là bản chất giáo lý của kinh. Sáu là chủ trương của kinh. Bảy là bộ loại của kinh. Tám là vấn đề dịch giải và trì tụng. Chín là giải thích tên kinh. Và mười là giải thích văn bản của kinh. Trong 10 vấn đề này, Châu Hoằng còn chia làm nhiều đoạn nhỏ. Riêng 2 vấn đề cuối cùng tức giải thích tên kinh và giải thích văn bản kinh, thì Châu Hoằng còn chia thành nhiều tiểu đoạn nữa. Đặc biệt về vấn đề giải thích văn bản kinh, Châu Hoằng đã sử dụng lại lối phân đoạn của các nhà chú giải xưa nay, tức là chia nó làm 3 đoạn nhỏ, gồm đoạn tựa, đoạn chính tông và đoạn lưu thông. Riêng trong đoạn lưu thông, một nét khác của Châu Hoằng là gồm vào trong kinh bài A Di Đà chú .

Nội dung và quan điểm của A Di Đà kinh sớ sao là thế. Minh Châu Hương Hải khi viết Giải Di Đà kinh cũng đã bám sát tuy sơ lược như đã nói. Điểm cần chú ý là tại sao Minh Châu Hương Hải lại chọn A Di Đà kinh sớ sao, trong số các bản giải thích về kinh A Di Đà được biết ở thời ông. Ví dụ A Di Đà kinh sớ của Trí Viên (1177-1022) và xưa hơn nữa là của Khuy Cơ (632-682), của Nguyên Hiểu (618-686) v.v… Nói khác đi, trước khi Châu Hoằng viết A Di Đà kinh sớ sao, ta có nhiều bản giải thích khác nhau về kinh A Di Đà của những nhà chú giải nổi tiếng như Khuy Cơ , Nguyên Hiểu v.v…Trả lời câu hỏi trên, ta cần chú ý đến tình hình học thuật và tư tưởng thời Minh Châu Hương Hải tại Trung quốc cũng như nước ta. Ở Trung quốc như đã thấy, phong trào tâm học của Vương Dương Minh đang phát triển mạnh mẽ. Còn ở nước ta, tại vùng đất Minh Châu Hương Hải sống trước khi ra Bắc, tức khoảng từ năm 1647 trở đi, 1 trong những người theo thuyết Vương Dương Minh nổi tiếng là Chu Thuấn Thủy đã đến nước ta. Chu Thuấn Thủy đã sống ở nước ta 10 năm nhưng không được các chúa Nguyễn trọng dụng, nên sau đó qua Nhật và nhập tịch vào nước này năm 1657. Chính Chu Thuấn Thủy đã truyền tư tưởng tâm học của Vương Dương Minh cho học giới Nhật bản, đặt nền móng cho sự phát triển nền tâm học, mà sau này đã tác động mạnh mẽ đến phong trào duy tân thế kỷ 19 do Minh Trị lãnh đạo. Thời gian 10 năm sống tại Quảng Nam và Thuận hoá, Chu Thuấn Thủy dù không thuyết phục các chúa Nguyễn theo tư tưởng của mình, chắc hẳn có một số tác động lên học giới Việt Nam, trong đó nhất định có cả Minh Châu Hương Hải. Có lẽ do những tác động ấy, mà sau này ông đã chọn A Di Đà kinh sớ sao làm nguồn tư liệu tham khảo để viết nên Giải Di Đà kinh .

Như vậy, nội dung Giải Di Đà kinh tuy lấy nguồn tư liệu từ A Di Đà kinh sớ sao của Châu Hoằng, nhưng thực chất về mặt tư tưởng, khi phân tích ta thấy nó nằm trong quỹ đạo chung của tư tưởng thiền Tịnh độ của Phật giáo Việt Nam. Quả thực quan niệm tự tánh Di Đà duy tâm tịnh độ mà Châu Hoằng chủ trương và Minh Châu Hương Hải nêu lại bằng câu tiếng Việt "tự tính Di Đà, một lòng tịnh độ", ta không cần tìm đâu xa, chỉ cần đọc lại Hội thứ 2 Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông :

Tịnh độ là lòng trong sạch

Chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương

Di Đà là tính sáng soi

Mựa phải nhọc tìm về Cực lạc

Ta thấy ngay trước Châu Hoằng và Minh Châu Hương Hải mấy thế kỷ, nó đã được nêu lên và xác định một cách rõ ràng. Điểm lôi cuốn hơn nữa là Minh Châu Hương Hải còn nhắc tới kinh Pháp đàn, mà khi tra lại A Di Đà kinh sớ sao 2 tờ 389b16 (195b16) thì đúng là Pháp bảo đàn, để phê phán việc Pháp bảo đàn ghi lộn thế giới Cực lạc chỉ cách ta mười vạn 8 ngàn dặm. Trong Sự lý dung thông, Minh Châu Hương Hải đã nói tới việc mình"vui về bề diệu dược liên bang". Do thế, trước sau như một, nội dung thiền của tư tưởng Minh Châu Hương Hải là tư tưởng thiền tịnh, coi việc niệm Phật như một phương tiện hành thiền mà vào thời ông đã trở nên rất phổ biến. Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644) viết Bồ đề yếu nghĩa để xiển dương tư tưởng thiền tịnh. Rồi một đồng đại trẻ tuổi của ông là Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647-1726) đã viết Tịnh độ yếu nghĩa [Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập, tập 1, Tp.Hồ Chí Minh, 1979, tr.159-190] cũng nhắm cùng một mục đích .

Và qua Giải Di Đà kinh ta ít nhiều nhận ra quan điểm của Minh Châu Hương Hải, dù có ảnh hưởng của Châu Hoằng, về giá trị của việc trì chú. Ông viết :"Chuyện trì danh hiệu thắng hơn trì chú, thắng hơn hết thảy chư dư công đức". Rõ ràng khi viết thế, ông đã không che giấu thái độ cũng như cách đánh giá không cao vị thế và vai trò của việc trì chú. Nếu đọc Hương hải thiền sư ngữ lục, với nhiều mô tả dài dòng mà kỹ càng về việc ông đối phó với những hiện tượng ma quái, về việc trị bệnh nổi tiếng của ông, ta tưởng Minh Châu Hương Hải quí trọng việc trì chú. Thế mà khi đọc Giải Di Đà kinh, với câu vừa dẫn trên, ta mới thấy quan điểm của ông thế nào đối với việc trì chú. Điều này giải thích cho chúng ta rất nhiều vai trò của mật giáo trong đời sống thực tiễn của Phật giáo Việt Nam .

Người Phật giáo Việt Nam có thể niệm Phật, tụng kinh, trì chú, nhưng họ vẫn nhận mình là những môn đồ của thiền một cách tự nhiên mà không gượng ép. Đôi khi những sinh hoạt niệm Phật tụng kinh, trì chú ấy có vẻ nổi bật, dễ dẫn người ta đến ấn tượng rằng sinh hoạt Phật giáo Việt Nam chủ yếu bao gồm những hình thức như thế. Thực tế qua lịch sử, ta thấy những vị thiền sư danh tiếng nhất một thời đều ít nhiều liên hệ đến những sinh hoạt kiểu đó, như Vạn Hạnh, Đạo Hạnh v.v…Và những vết tích khảo cổ còn lại như hàng loạt cột kinh tìm thấy tại cố đô Hoa Lư, đều thể hiện sâu đậm nếu không nói là toàn bộ ảnh hưởng của mật giáo. Điều này gây thắc mắc cho một số người, rằng tại sao thiền tông của Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ mật giáo như thế. Sự thật căn cứ vào những mô tả về cuộc đời những con người ấy cùng những vết tích còn lại, người ta nêu lên câu hỏi trên thực tế ở Việt Nam có tồn tại một hình thức Phật giáo gọi là thiền tông hay không? Hay thiền tông chỉ là"một tiếng đồn từ tu viện"v.v…Những vị như Vạn Hạnh, Đạo Hạnh v.v…ngày nay ta không còn những tác phẩm liên hệ để có thể biết thái độ của họ. Nhưng với Minh Châu Hương Hải, qua Giải Di Đà kinh, ta thấy thái độ, quan điểm của ông như thế nào. Sự việc này giải thích dứt khoát vì sao ông vẫn tự nhận mình là một thiền sư, và các thế hệ tiếp theo vẫn xác định ông trong tư cách ấy, mà cụ thể là quyển Hương Hải thiền sư ngữ lục .

Việc ông nhấn mạnh trì danh niệm Phật này như một phương pháp thiền, như đã thấy, là nằm trong quỹ đạo thiền của tư tưởng thiền Phật giáo Việt Nam. Ta đã nhắc tới Trần Nhân Tông, nhưng trước Minh Châu Hương Hải không bao lâu, ngay một người Phật tử như Đào Duy Từ (1572-1634) đã mô tả lại phần nào nhận định vừa nêu trong Tư dung vãn của ông :

Một bầu chi cũng thú yên hà,

Nghi ngút hương bay cửa Đại la

Ngày vắng đỉnh đang chuông bát nhã

Đêm khuya dắng dõi kệ Di Đà

Nhặt khoan đàn suối ban mưa tịnh

Eo óc cầm ve thuở ác tà

Mựa rảng đạo xa hoà nhọc kiếm

Bồ đề kết quả ở lòng ta

Ngôi chùa Việt Nam vào thời Đào Duy Từ ở miền Nam vẫn luôn luôn "dắng dõi kệ Di Đà". Nói khác đi, tư tưởng tự tính Di Đà là một tư tưởng Tịnh độ đã bị thiền hoá, mà Trần Nhân tông trước đó đã diễn tả bằng câu :"Di Đà là tính sáng soi", đã lưu hành rộng rãi trong giới Phật giáo Việt Nam, nghĩa là Thiền tông Việt Nam. Cho nên ta có giả thuyết mà không sợ sai lầm, việc Minh Châu Hương Hải giải thích kinh A Di Đà theo hướng A Di Đà kinh sớ sao của Châu Hoằng không phải là một cái gì hoàn toàn xa lạ với truyền thống Phật giáo Việt Nam, nằm ngoài quỹ đạo phát triển của dòng Phật giáo này. Nó chỉ làm rõ hơn nữa những mặt đặc biệt mà nền Phật giáo này thể hiện .

IV.PHÂN TÍCH VĂN HỌC

Giải Di Đà kinh, như nhan đề nêu lên là một bản giải thích về kinh A Di Đà, lấy nguồn cảm hứng từ tác phẩm A Di Đà kinh sớ sao của Châu Hoằng. Có thể nói nó là một trong số ít tác phẩm xưa nhất hiện biết về lối văn giải thích này. Trước nó ta chỉ có những bản văn xuôi dịch đuổi theo bản chữ Hán của Viên Thái và Nguyễn Thế Nghi. Loại văn xuôi này thường bị nguyên bản chữ Hán khống chế, nên không cho ta biết bộ mặt đích thực của tiếng nói dân tộc hàng ngày của đồng bào ta. Chính qua lối văn giải thích của Minh Châu Hương Hải, ta bước đầu có những bản văn xuôi đích thực do người Việt Nam viết. Cần chú ý là vào thế kỷ này cũng đã có một số bản văn xuôi tiếng Việt được ghi lại, như của Majorica và Alaxandre de Rhodes. Nhưng đây là những tác phẩm do người ngoại quốc ghi lại, và chắc chắn không thể phản ánh đầy đủ và trung thực tiếng nói hàng ngày của nhân dân ta. Vì thế, những bản văn xuôi như Giải Di Đà kinh xuất phát từ một ngòi bút Việt Nam, dứt khoát phản ánh trung thực, trọn vẹn tiếng nói của chính dân tộc mình. Ngoài ra như đã nói trên, Minh Châu Hương Hải có được những lợi điểm mà ít người Việt Nam vào thời ông sở hữu. Đó là ông thuộc tầng lớp trên, tầng lớp trí thức của xã hội Việt Nam thời đó, có dịp tiếp xúc với những nhà lãnh đạo quân sự cao cấp nhất của đất nước, và đặc biệt hơn hết, Minh Châu Hương Hải đã sống và làm việc lâu dài ở hai miền khác nhau của đất nước. Nền văn xuôi do ông ghi lại, từ đó có thể coi như một đại biểu trung thành cho tiếng nói của 1 dân tộc thống nhất. Chỉ chừng ấy đặc điểm thôi cũng đã làm cho ta trân trọng những tác phẩm của Minh Châu Hương Hải, và dành cho chúng vị trí xứng đáng trong lịch sử phát triển văn học dân tộc .

Không những thế, bản thân các tác phẩm văn xuôi của Minh Châu Hương Hải, trong đó có Giải Di Đà kinh, đã đạt được một số thành tựu, vươn lên xây dựng được vẻ đẹp mang tính văn học. Thử đọc lại một đoạn văn sau:"Nghe chim kêu hoa nở thì gọi là ngày, chim đỗ hoa hiệp thì gọi là đêm. Hoa có hai giống, một là thiên hoa, hai là thọ hoa. Bốn phương tự nhiên gió thổi, đều ra chủng chủng âm thanh thuyết pháp. Hoa thơm tùy phong, tán cúng chư bồ tát. Hết thảy thanh văn cùng chư đại chúng tán hoa, rắc xuống kim địa, đầy hơn 4 tấc, hoa quang sáng rỡ, hơi thơm lạ lùng…". Ta có thể cảm thụ một cách dễ dàng những hình tượng được miêu tả một cách trong sáng và rõ ràng. Tiếng nói của dân tộc ta gần 400 năm trước đây là vậy .

Tất nhiên, ta không thể đòi hỏi Minh Châu Hương Hải mở rộng lĩnh vực chuyên môn của mình để đi qua những địa hạt khác của văn học như viết tiểu thuyết bằng văn xuôi chẳng hạn. Những gì ông để lại cho chúng ta hôm nay qua Giải Di Đà kinh, tối thiểu cũng đã giúp cho ta phác họa lại diện mạo tiếng nói thường ngày của cha ông ta cách ta mấy trăm năm. Và đó là những đóng góp to lớn đối với dân tộc ta. Nền văn xuôi do Minh Châu Hương Hải gầy dựng vì thế cần được trân trọng và nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, để ta có thể nhận diện chân dung và khuôn mặt nó rõ ràng và đúng đắn .

BÀI TỰA IN LẠI CÁC KINH

Hễ sắp dựng gác xây nhà với vẻ đẹp khác thường hơn người, thì trước tất phải lo cột kèo cây gỗ. Và để cho cột kèo cây gỗ có được chạm trổ thì phải dùng đến búa, rìu, cưa, đục, dây thước…Há chỉ xem sơ sơ thôi sao? Phải chuyên mắt xem xét, phải thẳng tay ngắm nghía mới được thế. Kẻ sĩ học đạo thánh nhân tất cũng phải bàn kinh sửa truyện, khảo xem trăm nhà, tìm những điều sâu xa, rõ những mối manh tổng quát, sau đó mới đạt được chỗ hiểu. Nhưng điều này há chỉ đặc biệt với nhà nho ta sao?

Cái học họ Thích cũng vậy, nay có thiền sư Từ Tường chùa Linh Sóc, xã Hà Hồi, gọi ta nói:"Người xưa của tông phái tôi vì chúng sanh có căn cơ chậm lụt, đã mở bày sự thật nhiệm màu về ý nghĩa chân thật của pháp môn để giải thoát cho họ, đã viết đủ trong các kinh luật. Nhưng lo về sau bị buông bỏ, nên các bậc hiền đức cổ xưa lại phải bắt đầu nối thêm mà làm ra có luận giải. Từ khi chánh pháp bị suy phế, ý chỉ nhĩ căn của Lăng nghiêm bị che khuất, phương tiện văn chương chảy tới các nước lân cận, thì tệ nạn này càng nổi bùng lên. Ngu tôi từ khi xuất gia đến nay, lòng luôn luôn nghĩ tới chuyện xiển dương chánh giáo, thỉnh thoảng lấy các kinh Lương hoàng, Thủy sám và Dược sư cùng với các bộ chú giải Di Đà, Phổ Môn, Kim cương ở những bản gỗ xưa bị thiếu hư tản mạn còn lại, bổ sung vào những chỗ sót mất, lại giao cho khắc in, để công bố cho những hàng xuất gia, nhằm mở rộng sự nghiệp trí tuệ, rồi luôn luôn thắp hương lễ sám chắp tay đảnh lễ nam mô, để cùng với Phật xưa thánh trước, theo sát không bỏ một phút giây, những mong những pháp môn quảng đại từ bi, không thể nói, không thể bàn, bao dung mà không trở ngại tôi. Than ôi, chúng ta thật có sức để làm Phật ư !

Người ta thường hay khó chịu về cái học không chuyên nhất, nên ngơ ngác không có chỗ thâu hoạch được. Ta nghe đạo Phù Độ nhiều kệ thuyết, lắm giới luật. Việc học nó cũng rất cực khổ, còn việc hiểu được nó thì ta không thể biết. Nhưng việc chấp hành cái học đó để có tiến bộ nhằm nối tổ truyền đèn, tiếp tục tuệ mạng của chư Phật, thì chí hướng của chúng ta cũng gần thế ư. Nếu không vậy, chỉ luống giao vào tay đốt Phật của Đan Hà (?) thì lòng chúng ta càng quặn đau, lại càng nhân thế mà càng cảm thấy thêm nữa. Cái học của nhà nho ta gọi là cái chứa nhóm nhân nghĩa lễ nhạc, là cái học làm sáng tỏ văn chương đạo đức, thì so với cái học của nhà Phật, rất là dễ biết dễ làm. Thế mà đám tụ nho vờ vĩnh, không chịu quan tâm đến thơ truyện, đem văn chương mà khắc in, lại tự xén cắt câu kéo, tước bỏ ý nghĩa, làm cho con đường chính đại đàng hoàng ngày càng nhỏ hẹp lại. Ta há không ra sức có chí như những vị kia mươi chục người để cùng bàn luận về đạo của thánh nhân ta sao. Nên viết bài tựa này .

Hạ tuần tháng mùa thu năm Minh Mạng thứ 14 (1833) của Hoàng Triều

Tường Nguyên Hy Hiến họ Đặng viết ở Thư xá Tiên Thị

Nguyễn Đắc Trung xã Hồng lục khắc chữ.

 

PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH SỚ SAO TỰ

Huyền Cơ Thiện Giác pháp

Tự Minh Châu thích giải

Pháp tử Chân Lý khâm thuật

Chân Quý phụng san

Sơ thông tự đại ý

Linh minh động triệt, trạm tịch thường hằng, phi trược phi thanh, vô bối vô hướng. Đại tai chân thể, bất khả đắc nhi tư nghì giả, kỳ duy tự tính dư?

Linh là linh giác, minh là minh hiển, trạm là bất nhiễm, tịch là bất giao, thiêng biết sáng suốt, thông thâu trong sạch, phẳng lặng hằng bền. Phi trược là chẳng từng thọ nhất trần. (1b) Phi thanh là chẳng từng xả nhất pháp. Vô bối là dầu buông đi, ắt chẳng có thửa mà tùng khứ. Vô hướng là dầu rước tới, ắt chẳng có thửa mà tùng lai. Lớn thay chân thật thể, rộng rãi mãn khắp mười phương, cao thẳm khỏi hết tam tế, lại chẳng có pháp nào mà ví cùng. Há phải đối tiêu rằng đại chân thể là tượng có nhiều danh, ắt gọi là bản tâm bản giác, ắt gọi là chân thức chân tru, chủng chủng dị danh, đương nơi tự giác linh quang, vốn thật nhất tâm cụ túc, chỉn bằng chẳng khá tư nghì được. Thửa một tự tánh vậy vây .

Thường trược nhi thanh, phản bối nhi hướng, việt tam kỳ ư nhất niệm, tề chư thánh u phiến ngôn. Chí tai diệu dụng, diệt bất đắc nhị nhi tư nghì giả, kỳ duy Phật thuyết A Di Đà kinh dư?

Trừng là trừng tịnh, chuyển ngũ trược bèn nên thanh thái. Phản là qui hoàn bỏ sa bà bèn tới cực lạc. (2a) Việt tam kỳ là tự Cổ Thích Ca đến Thi Khí Phật, trải qua bảy muôn năm ngàn Phật xuất thế. Từ Thi Khí đến Nhiên Đăng Phật, trải qua bảy muôn sáu ngàn Phật xuất thế. Từ Thiên Đăng đến Bà Thi Phật, trải qua bảy muôn bảy ngàn Phật xuất thế. Ấy là vượt tam kỳ. Chưng nơi nhất niệm tề chư thánh là Phật cùng chư Bồ tát, nhân chưng phiến ngôn hằng niệm A Di Đà Phật, chực quyết vãng sinh, nhất tâm bất loạn, chẳng còn thối chuyển, bèn nên Vô thượng Bồ đề. Ấy là nhất niệm đến siêu, phiến ngôn tức chứng. Rốt ráo thay, diệu dụng ắt khôn tư nghì được, nhân bởi Thích Ca diễn thuyết A Di Đà kinh vậy vây .

Cố ngã Thế Tôn, sạ thuyết tam thừa, chung quy nhất bảo, đẳng ban trân tứ, tiện tích thù ân .

Vì vậy đức Phật Thế Tôn, trước bèn khai quyền, tạm thuyết tiểu thừa dạy chư Thanh văn, trung thừa dạy chư Duyên giác, đại thừa dạy chư Bồ tát, tùy thuận chúng sinh, nhân có lợi độn, phải diễn tam thừa vậy. Sau chúng sinh liễu ngộ, bèn lập nhất phá tam, hội quyền về thật, đều cho tối (2b) thượng đại xa. Vì vậy rằng ban cho đẳng chư trân bảo, lại thêm ơn lạ. Một cửa niệm Phật này, chẳng luận đại căn tiểu căn, dầu tin niệm Phật, nhất tâm bất loạn, ắt được vãng sinh. Hai là trì danh trong nơi ơn lạ, lại thêm lạ mầu vậy .

Chỉ tứ thập bát chi nguyện môn, khai nhất thập lục chi quán pháp, nguyện nguyện quy hồ phổ độ, quán quán tôn hồ diệu tâm .

Dẫn bốn mươi tám lời phát nguyện, chưng cửa nguyện môn; mở 16 đường mật tưởng, chưng pháp quán tưởng. Chu hoằng nguyện đều về phổ độ, đẳng quán tôn chẳng khỏi diệu tâm .

Hựu dĩ nguyện môn quảng đại, quí tại tri tiên, quán pháp thâm huyền, vưu ưng thủ ước. Tri tiên tắc vụ sinh bỉ quốc. Thủ ước tắc duy sự trì danh. Cử kỳ danh hê, kiêm chúng đức nhi câu bị, chuyên hồ trì dã, thống bách hạnh dĩ vô di .

(3a) Lại bèn cửa nguyện môn rộng lớn, ắt rất tôn quý chưng nơi tri tiên. Phép quán tưởng sâu nhiệm, càng lắm trọng, hợp đương thủ ước. Tri tiên ắt vụ bề vãng sinh bỉ quốc. Thủ ước ắt vui hay cần sự trì danh. Cử thửa Phật hiệu, gồm no chúng đức, mà đều đủ. Chuyên thọ trì vậy, thống hết muôn hạnh, bèn chẳng khuy .

Tùng tư nhi vạn lự hàm hưu, cứu cực hồ nhất tâm bất loạn .

Nếu từ đây mà muôn lọ đều rỗi, xét rốt ráo bởi nhất tâm bất loạn .

Nãi tri phỉ ly khuể bộ, bảo trì dũng tứ sắc chi hoa. Bất xuất hộ đình, xin địa nhiễu thất trùng chi thọ. Xứ xứ di đà thuyết pháp, thời thời liên nhụy hoá sinh. Trân câm dự già điểu giai âm. Quỳnh viện cộng mão đường tịnh thái .

Bèn hay (3b) chẳng dời khỏi nước bước, trong bảo trì trổ chen bổn sắc liên hoa, chưa ra ngoài cửa sân, dưới kim địa nhiễu quanh bầy trùng hàng thọ. Mỗi chốn Di Đà đều thuyết pháp, đòi khi liên nhụy cùng hoá sanh, trân cầm già điểu hằng diễn thuyết đồng thanh, ngọc viên hoa đường đều trang nghiêm mọi vẻ .

Cái do niệm không chân niệm, sinh nhập vô sinh, niệm Phật tức thị niệm tâm, sinh bỉ bất ly sinh thử, tâm Phật chúng sinh, nhất thể, trung lưu lưỡng ngạn bất cư, cố vị tự tính di đà duy tâm tịnh độ .

Tượng bởi niệm không, chân niệm sinh, bèn ngộ nhập vô sinh. Niệm Phật ấy thật niệm tâm. Sinh bỉ nào khác sinh thử. Tâm, Phật cùng chúng sinh một thể , chẳng trụ lưỡng ngạn, trung lưu. Vì vậy, rằng tự tính Di Đà, một lòng tịnh độ .

Thử tác lý chi nhất tâm toàn qui thượng trí, diệc phục thông hồ sự tướng, khúc (4a) vị độn căn .

A? pháp chưng lý nhất tâm đều về những người thượng trí. A? lại dung thông sự tướng, chiều vì những kẻ độn căn .

Nại hà thủ ngu chi bối, trước sự nhi lý vô văn, tiểu huệ chi lưu, chấp lý nhi sự toại phế. Trước sự nhi mê lý, loại mông đồng đọc cổ thánh chi thư, chấp lý nhi di sự, tỉ bần sỹ hoạch hào gia chi khoản .

Nài bao những bậc thủ ngu, chấp lấy sự mà chẳng nghe lý. Những đông tiểu huệ, chấp lấy lý mà phê rẫy sự. Chấp sự mà mê lý, chẳng khác chi chúng trẻ thơ đọc lấy chưng sách tiên thánh. Chấp lấy lý mà bỏ rẫy sự, dường bằng học trò khó bèn được sổ nhà trưởng giả .

Nhiên trước sự nhi niệm năng tương kế, bất hư nhập phẩm chi công, chấp lý nhi tâm thật vị minh, phản thọ lạc không chi họa .

Vậy bèn chấp sự mà hay niệm Phật tương kế, chẳng luống chưng công (4b) vào phẩm vị, chấp lý mà lòng thật chưa minh, lại phải chịu chưng họa lạc không .

Toại sử thùy thủ đồ cần, ỷ môn không vọng, thượng cô phật hoá, hạ phụ kỹ linh, kim sinh dĩ cập đa sinh, nhất ngộ nhi thành bách ngộ, cam tâm khổ thú, thúc thủ tử môn, vô cứu vô quý, khả bi khả thống .

Bèn khiến uổng vội rũ tay, luống trông dựa cửa, trên quả đức chẳng vâng Phật dạy, dưới phụ mình bỏ rẫy kỷ linh, kiếp này đến nhẫn đa sinh, một phen lầm nên trăm phen lỡ. Lòng cam chịu chưng nơi khổ thú, bó tay vào trong cửa tử môn, chẳng ai cứu trợ, chẳng về nương đâu, cực khá thương, cực khá thiết .

Châu hoàng mạt pháp hạ phàm, cùng tưu vãn học, võng thông huyền lý, tố bỉ không đàm, họa bỉnh hà ích cơ trường, yên thạch nam vu cổ mục .

Lời thề nguyền quảng đại, đời mạt pháp (5a) dưới trần phàm, cùng ngung xem chưa khắp, văn học trí chưa sâu, chưa hiểu thông lẽ màu nhiệm, vốn thiển liệt luống đàm không, dường bằng bánh vẽ, nào hay ích chi dạ đói, khác chi yến thạch, khôn dối được mặt chủ thương .

Kỳ thừa tiên sắc, đốc phụng tư kinh, vọng lạc quốc vi gia hương, ngưỡng từ tôn như hổ thị .

Kính vâng lời Phật dạy, đốc phụng sự kinh này, mong về cực lạc quốc, lấy làm chốn gia hương. Ngưỡng vọng đức Từ Tôn, bằng trông cậy mẹ cha .

Nhưng dĩ tâm hoài khiêm lợi, đạo quí hoằng thông, khái cổ sớ tiễn kiến kỳ toàn, duy sổ giải cẩn hành ư thế, từ tuy thiết nhi thái giản, lý vi lộ nhi bất chương, bất cực luận kỳ hoằng công, trù phát khởi hồ chân tín, đốn vong phu (5b) kiến, ký kiệt tâm tư, tổng thu bộ loại ngũ kinh, trực cứ Văn Thù nhất hạnh, nhi phục hội quy huyền chỉ, tắc phân nhập tạp hoa, quán xuyến chủ môn tắc bác tổng quần điển, vô nhất bất tiểu quy tự kỷ, hữu nguyện giai hồi hướng bồ đề, triển thử tinh thành, khất cầu gia bị .

Nhân dùng lòng tư duy lưỡng lợi, đạo tôn quý vì bởi rộng thông. Tin lời xưa, lời bày thấy ít. Vui kể biết chưng thế liệt hành. Lời tuy chí thiết, mà rất ít hiển ra, chưa sáng lẽ nhiệm màu, chẳng cùng luận chưng thửa đại công, chúng phát hành vi nhân chính tín. Bỏ rẫy bì phu ngoại kiến, lòng rỗi hết sự lo toan. Tổng thâu nơi bộ loại năm kinh, chực quyết nương Văn Thù một hạnh, bèn lại hội về huyền chỉ, đại ý ắt thông vào tính hải Hoa Nghiêm. Thấu suốt khắp hết chư môn, ắt máy rộng chưng nơi quần điển. Nào một đâu chẳng tiêu về nơi tự kỷ, hễ có nguyện chưa khuây hồi hướng bồ đề, ấy mở nơi nhất niệm tinh thành, xin cầu gia bị cho thấu khắp .

 

 

 

 

 

 

 

(6a1) PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH

Cử tán

Lô hương sạ nhiệt

Pháp giới mông huân

Chư Phật hải hội tất diêu văn

Tùy xứ kiết tường vân

Thành ý phương ân

Chư Phật hiện toàn thân

Nam mô Hương Vân Cái bồ tát ma ha tát

(tam biến)

Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn

A? tu rị tu rị ma ha tu rị tu tu rị tát bà ha

Tịnh tam nghiệp chân ngôn

A? sa phạ bà phạ truật đà sa phạ đạt ma sa

Phạ bà phạ (6b) truật độ hám

An thổ địa chân ngôn

Nam mô tam mãn đa một đà nẫm,

A? độ rô độ rô địa vỹ tát bà ha

Phổ cúng dường chân ngôn

A? nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hộc

(tam biến)

Khai kinh kệ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì

Nguyện giải Như Lai chân thiệt nghĩa

Nam mô Khai Bảo Tạng bồ tát ma ha tát

 

(7a) PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH

Phật là Thích Ca, diễn thuyết A Di Đà kinh

Lời sớ sao rằng :

Phật là Ta bà giáo chủ bổn sư Thích Ca, thập hiệu cụ túc, tam giác tề viên. Tự giác ắt khác phàm phu, giác tha ắt khác nhị thừa, giác mãn ắt khác bồ tát. Lại rằng không vọng tâm, danh là tự giác, khỏi huyễn sắc, danh là giác tha. Rồi vọng tâm, rồi huyễn sắc, lòng hằng thanh tịnh, danh là giác mãn .

Kinh có thông biệt dị nghĩa. Một chữ kinh này, thật danh là thông. Phật thuyết A Di Đà năm chữ, thật gọi là biệt. Chư kinh đều đủ giáo, hành, lý vậy. Vốn lý lập giáo, nương giáo tu hành, tùng hành hiển lý, chuyên chỉ kinh này, Phật thuyết ắt thật là giáo. Chấp trì danh hiệu, thật là hành. A Di Đà ắt thật là lý. Lại rằng dung thông tam đức, lý ắt pháp thân đức, giáo ắt bát nhã đức, hạnh ắt giải thoát đức. A Di Đà công đức vô lượng, lại sánh cùng tam đại, ắt Phật thật là thể đại, vô lượng thọ, thật là tướng đại, vô lượng quang, thật là dụng đại .

Xứng lý ắt tự tánh giác là Phật nghĩa, tự tánh giác vô lượng là A Di Đà nghĩa, tự tánh bổn thỉ nhị giác là lưỡng độ quả chứng nghĩa, tự (7b) tánh giác thể biến chiếu thật là thuyết kinh nghĩa .

Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên .

Bằng chân thật ta nghe, một khi Phật trụ ở Xá Vệ quốc, viện Kỳ Thọ, cấp Cô Độc viên .

Lời sớ sao rằng :

Như thị là tín thành tựu vậy. Nhất tâm bất loạn gọi là như. Một lòng chẳng khác gọi là thị. Thật tướng chi lý, thỉ chung chẳng khác, gọi là như. Thuyết thật như lý gọi là thị. Ngã văn là chân văn thành tựu vậy. Ngã là tự ngã thân văn pháp thân chân ngã vậy. Nhất thời là thành tựu chi thời, đương khi thuyết thính sự rồi ắt gọi là nhất thời vậy. Phật là viên giác thành tựu, làm tôn chủ tam thánh lục phàm hết thảy chúng sinh vậy. Tại là thường trụ ứng vô sở trụ. Xá Vệ quốc là Phong đức thành. Kỳ là Kỳ Đà thái tử. Thọ là cây Kỳ Đà thái tử cúng. Cấp là Tu Đạt Noa trưởng giả dựng làm tự vũ tinh xá, hằng thường cung cấp. Cô Độc là thầy tu, trên từ lục thân gọi là cô, dưới xả thê tử gọi là độc, cùng trụ một nơi viện ấy (8a) .

Xứng lý ắt tự tánh đổng triệt thập phương, thật ấy A Nan văn Phật nghĩa. Tự tánh bất ly đương xứ, thật ấy Phật tại Kỳ Viên nghĩa .

Dữ đại Tỳ kheo Tăng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu, giai thị đại A la hán, chứng sở tri thức .

Cùng những đại Tỳ kheo Tăng nhân, một ngàn hai trăm năm mươi người hằng đủ, đều thật những bậc đại A la hán, chúng thửa hay danh biết lòng thấy tánh, cùng làm tri thức .

Lời sớ sao rằng:

Đại tỳ kheo là nội quyền bồ tát, ngoại thinh văn hạnh. Tỳ kheo có 3 nghĩa. Một là khất sĩ, khất pháp, khất thực, cần cầu thành tựu thánh quả vậy. Hai là bố ma, phát tâm xuất gia, lòng hằng ly dục. Thú hướng vô sinh, chư ma đều bố uý vậy. Ba là phá ác, diệt trừ phiền não nghiệp cấu, lòng hằng thanh tịnh vậy. A la hán bèn có 3 nghĩa, một là ứng cúng, hai là sát tặc, ba là vô sinh. A la hán là tứ quả thinh văn. Đại A la hán là tu vô lậu nghiệp, đức cao danh mãn, làm nhân thiên nhãn mục, đạo dẫn chúng vậy .

Xứng lý ắt tự tính vô lậu, thật ấy là la hán nghĩa, tự tính vô mê (8b), thật ấy tri thức nghĩa .

Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma ha Mục Kiền Liên, Ma ha Ca Diếp, Ma ha Ca Chiên Diên, Ma ha Câu Thy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô, Phả La Đọa, Ma ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà .

O?g Xá Lợi Phất cửu tu đức trưởng, trí huệ đệ nhất. Ông Mục Kiền Liên quảng đại, thần thông đệ nhất. Ông Ca Diếp lòng quảng đại, đầu đà thượng hạnh đệ nhất. Ông Ca Chiên Diên, lòng quảng đại, luận nghị đệ nhất. Ông Câu Thy La, lòng quảng đại, ứng đáp đệ nhất. Ông Châu Lợi Bàn Đà Dà, tịnh trừ cấu hoặc đệ nhất. Ông Nan Đà, lòng hoan hỷ đệ nhất. Ông A Nan Đà, đa văn đệ nhất. Ông La Hầu La, mật hạnh đệ nhất. Ông Kiều Phạm Ba Đề, hay thọ chư (9a) thiên cúng dường đệ nhất. Ông Tân Đầu Lô Phả La Đọa, hay ứng nhân giai cúng làm đại phúc điền đệ nhất. Ông Ca Lưu Đà Di, dạ hành quang diệu đệ nhất. Ông Kiếp Tân Na, lòng quảng đại, thông hay tinh tú đệ nhất. Ông Bạc Câu La, diện mạo đoan chính, tuổi thọ trường đệ nhất.Ông A Nậu Lâu Đà, gọi là Như ý thiên nhãn đệ nhất .

Như thị đẳng chư đại đệ tử, tịnh chư bồ tát ma ha tát .

Bằng thật bấy nhiêu người chư đại đệ tử, lại có chư bồ tát cùng đại bồ tát

Lời sớ sao rằng:

A? đại đệ tử, ắt trước đại tỳ kheo, đại A la hán. Đệ tử là học ở sau thầy, gọi là đệ, hiểu biết ở nơi thầy sinh, gọi là tử. Lại rằng tiên giác hậu giác, như huynh tiên đệ hậu, hiểu biết bởi thầy sinh vậy. Mở mang dưỡng dục bèn nên pháp khí, thửa rằng tùng Phật khẩu sinh, hợp nối Phật chủng. Bồ tát là giác hữu tình, đồng Phật sở chứng, bèn gọi là giác. Vô minh vị tận, bèn gọi là tình. Bồ tát bèn dùng bi trí nhị nghiêm. Trí là trên cần cầu Phật đạo. (Bi là) dưới thì quyền độ (9b) chúng sinh. Chân thật nhất tâm, thành tựu đại đạo gọi là ma ha tát .

Xứng lý ắt tự tánh, tâm vương tâm số dung thông thật là Phật cùng đệ tử câu nghĩa, tự tính chân vọng tương dung, thật là bố tát nghĩa .

Văn thù sư lợi pháp vương tử, a dật đa bồ tát, càn đà ha đề bồ tát, thường tinh tấn bồ tát .

Văn thù là pháp vương tử, làm thượng thủ chư bồ tát. A dật đa bồ tát đương lai hạ sinh là di lặc Phật. Càn đa ha đề là bất hưu tức bồ tát, ý hằng làm phạm hạnh. lịch hằng sa kiếp chẳng từng hưu tức, thường tinh tấn bồ tát đã vô lượng kiếp hằng tùy hoá độ chúng sinh, chưa từng nhất niệm khí xả, lòng hằng tinh tấn .

Dữ như thị chư đại bồ tát .

Bằng thật các đấng đạo sư cùng chư đại bồ tát .

Lời sớ sao rằng:

Chư đại bồ tát đều cục túc tín hạnh nguyện, kinh Di Đà lấy tín hạnh nguyện làm tịnh độ nhân .

(10a) Xứng lý ắt tự tính vô bất chiếu, thật là Văn thù trí nghĩa, tự tính vô bất dung, thật là Di Lặc từ nghĩa, tự tính vô cùng vô tận, thật là bất Hưu Tức Thường Tinh Tấn nghĩa .

Cập thích đề hoàn nhân đẳng vô lượng chư thiên đại chúng câu .

Đến nhẫn nhục giới thiệu chủ các đấng, vô lượng chư thiên, hết thảy đại chúng.

Lời sớ sao rằng:

Thích Đề Hoàn Nhân là Đao Lợi Đế Thích Thiên chúa cùng 32 Đề Hoàn Thiên tử vậy. Vô lượng chư thiên là dục giới, sắc giới, vô sắc giới đẳng chư thiên vậy. Đại chúng câu là Bồ tát, thinh văn, thiên, nhân, tu la, hết thảy đại chúng vậy .

Xứng lý ắt tự tính triệt thượng triệt hạ, thật ấy bồ tát la hán chư thiên đại chúng câu nghĩa .

Dĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá Lợi Phất .

Khi ấy Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất, trí cao đức trưởng (10b)

Lời sớ sao rằng:

Nhĩ thời là khi thành tựu vậy. Phật cáo là kinh nhân chẳng ai thỉnh vấn, Phật bèn tự thuyết vậy. Xá Lợi Phất trí tuệ thâm thâm, dầu chư Phật đều dùng nhất thiết trí vậy. Di Đà trí xảo phương tiện thành tựu tịnh độ công đức, dùng trí sanh tín ắt nên chánh tín, dùng trí phát nguyện ắt nên hoằng nguyện, dùng trí khởi hạnh ắt nên diệu hạnh, thật được thành Phật vậy .

Xứng lý ắt tự tính tự nhiên trí, thật ấy Phật tự cáo Xá Lợi Phất nghĩa .

Tùng thị tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực lạc .

Thật bởi ta bà sang đến tây phương, khỏi mười muôn ức chư Phật quốc độ, có thế giới danh rằng Cực Lạc .

Lời sớ sao rằng:

Quốc độ, danh là sở y, gọi y báo. Phật là năng y, gọi rằng chánh báo. Ở Ta bà sang đến Tây phương, khỏi mười muôn ức chư Phật quốc độ, xa bèn cực xa, chẳng phải như Pháp đàn kinh thuyết có mười muôn tám ngàn dặm vậy. Phạn ngữ tu ma đề, Hoa ngôn gọi là (11a1) Cực lạc, lại gọi là an dưỡng, an lạc, lại gọi là liên bang, tịnh độ, bỉ quốc, bỉ ngạn vậy .

Xứng lý ắt thật tự tính kiên cố thanh tịnh, thật ấy Tây phương nghĩa, tự tính ly chướng tuyệt phi, thật ấy quá thập vạn ức nghĩa, tự tính hoành cai thụ triệt, thật ấy thế giới nghĩa .

Kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp .

Thửa quốc độ ấy có phật hiệu là A Di Đà, nay hằng hiện tại thuyết pháp .

Lời sớ sao rằng:

Ta bà Thích Ca hiện tại thuyết pháp tứ thập cửu niên, rày đã niết bàn, gọi là quá khứ. Tây phương Di Đà hiện tại thuyết pháp, vô lượng kiếp hằng thường diễn thuyết, gọi là hiện tại. Suốt đời chầu bên Phật, chẳng thấy kim dung, trọn ngày ngồi pháp diên, chẳng nghe diệu đạo, bèn khiến ma vương hỗn nơi Phật điện, suy pháp, quấy loạn chân tôn, dầu hay phản chiếu tâm nguyên, Phật pháp một thời lưỡng túc .

Xứng lý ắt tự tính thể tự linh tri, thật ấy kỳ độ hữu Phật nghĩa (11b). Tự tính tức kim hiển hiện, thật ấy hiện tại thuyết pháp nghĩa .

Xá Lợi Phất, bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc .

Phật bảo Xá Lợi Phất, bỉ phương quốc độ sao vậy gọi làm Cực Lạc? Rằng thửa chưng quốc độ ấy, chẳng có những sự khổ, bèn chịu những sự vui, vì vậy gọi là Cực Lạc .

Lời sớ sao rằng:

Khổ là Sa bà cực khổ, chẳng được gặp Phật, chẳng được văn pháp, ác hữu khiên triền, quần ma não loạn, luân hồi lục đạo, chưa khỏi tam đồ, nghiệp tượng chướng trọng, mệnh căn xúc đoản, hằng chịu chủng chủng chư khổ, gọi là thử phương cực khổ. Lạc là Tây phương cực lạc, hoa khai kiến Phật, thân cận thánh hiền, hội thượng thiện nhân, chư Phật đều cùng hộ niệm, chẳng có tam đồ ác đạo, thọ mệnh vô lượng vô cùng, thân tâm thanh tịnh, thế giới trang nghiêm. Vì vậy gọi là bỉ phương cực lạc .

Xứng lý ắt tự tính vô nhiễm, thật ấy vô hữu chúng khổ nghĩa. Tự tính (12a) thường tịnh, thật ấy đản thọ chư lạc nghĩa .

Hựu Xá Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan thuần, thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo châu tráp vi nhiễu .

Phật lại bảo Xá Lợi Phất :"Nơi cực lạc quốc độ, xứ xứ đều có thất trùng câu lan ngọc, đòi nơi đều có thất trùng bảo võng che muôn cây, đều có thất trùng hàng bảo thọ, ắt thật những tứ bảo khắp đòi lần vây nhiễu thật. Vì vậy bỉ phương quốc độ gọi là Cực Lạc".

Lời sớ sao rằng:

Kim ngân, lưu ly, pha lê, tứ bảo lan thuần, vô lượng thất trùng làm câu lan ngoài bảo thọ, tứ bảo là võng vô lượng thất trùng che trên bảo thọ, trùng trùng thất hàng bảo thọ, cây cao tám ngàn do tuần. Cội ngọn cành lá hoa quả dưới trên cối chen chư bảo, ngũ sắc phóng quang ngàn dặm, mùi hương thơm khắp mười phương thế giới. Vì vậy gọi là Cực Lạc .

Xứng lý ắt tự tính, vạn đức tung hoành, thật ấy lan thuẫn nghĩa, tự tính (12b) bao la pháp giới, thật ấy bảo võng nghĩa, tự tính trưởng dưỡng chúng thiện, thật ấy hàng thọ nghĩa .

Hựu Xá Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ, kim sa bố địa .

Phật lại bảo Xá Lợi Phất rằng :"Cực Lạc quốc độ có thất bảo trì, bát công đức thủy, thửa trong đìa, nước hằng đầy, dưới đáy đìa, toàn những kim sa bố địa"

Lời sớ sao rằng:

Cực lạc quốc độ, tả hữu trong ngoài, khắp thế giới vô lượng dục trì, hoặc tiểu hoặc đại, bèn đến nhẫn trăm nghìn do tuần, dường bằng biển lớn, toàn những kim ngân, lưu ly, pha lê, chân châu, xà cừ, mã não, thất bảo, thửa cùng hợp nên. Nước trong đìa, bát công đức thủy. Một là trừng tịnh trong sạch. Hai là thanh lương mát mẻ. Ba là cam mỹ ngon ngọt. Bốn là khinh nhuyễn dịu dàng. Năm là nhuận trạch nhuần nhã. Sáu là an ổn điều hoà. Bảy là trừ hết cơ khát. Tám là trưởng dưỡng chư căn. Bát công đức thủy đều cùng lợi ích chúng sanh .

(13a) Xứng lý ắt tự tính, uông danh xung dung, thật ấy bảo trì nghĩa. Tự tính tất bị nhất thiết công đức, thật ấy đức thi nghĩa .

Tứ biên giai đạo, kim ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành, thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim ngân, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não, nhi nghiêm sức chi .

Tư bề thềm bậc đường đi lại, toàn những kim ngân, lưu ly, pha lê, đều cùng hợp nên. Trên lại có lầu gác, ắt dùng những kim ngân, lưu ly, pha lê, xa xừ, xích châu, mã não trau chuốt, bèn nghiêm trang vậy .

Lời sớ sao rằng:

Trên hoàng kim địa, hết thảy trong chư báu, đều có 500 sắc, phóng hoa quang, hoá nên quang minh đài. A Di Đà Phật, giảng đường tinh xá, cung điện lầu gác, trăm nghìn muôn, đều dùng vô lượng thất bảo, thắng bội hơn nghìn muôn, trên đệ lục thiên, thiên đế sở cư. Nơi chư bồ tát trú cũng trang nghiêm như vậy. Chư thiên nhân dân, cung vũ lầu gác xứng thửa hình sắc, cao hạ đại tiểu hoặc d