| Tiếng Việt |
|
Kinh Điển Phật Giáo |
| ...... ... | . |
Phần
7 Chương
VII : Tương Ưng Bà La Môn I.
Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất I. Dhananjàni (S.i,160) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn Dhananjàni, vợ một người Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, có lòng tín thành đối với Phật, Pháp và Tăng. 3) Rồi nữ Bà-la-môn Dhananjàni, trong khi bưng cơm cho Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, hứng khởi thốt lên ba lần lời cảm hứng: "Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác ấy!" 4) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja nói với nữ Bà-la-môn Dhananjàni: - Như vậy, trong mọi thời, mọi dịp, kẻ hạ tiện này nói lời tán thán vị Sa-môn trọc đầu ấy. Này kẻ Hạ tiện kia, ta sẽ luận phá bậc Đạo Sư của Ngươi." 5) Thưa Bà-la-môn, tôi không thấy trong thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn hay Bà-la-môn, giữa chư Thiên hay loài Người, không một ai có thể luận phá Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Vậy này Bà-la-môn, Ông hãy đi. Sau khi đi, Ông sẽ biết. 6) Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. 7) Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn: Sát vật gì,
được lạc? Sát vật gì,
không sầu? Có một pháp
loại gì, Ngài tán đồng
sát hại, Tôn giả Gotama?
(Thế Tôn): 8) Sát phẫn
nộ, được lạc Sát phẫn nộ,
không sầu, Phẫn nộ với
độc căn, Với vị ngọt
tối thượng, Pháp ấy, bậc
Hiền Thánh, Tán đồng sự
sát hại. Sát pháp ấy,
không sầu, Này Bà-la-môn
kia. 9) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới! 10) Và Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja được xuất gia trước mặt Thế Tôn, được thọ đại giới. 11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa". 12) Và Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. II. Phỉ Báng (S.i,161) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. 3) Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn. 4) Được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja: - Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không? 5) Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi. 6) Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không? 7) Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm. 8) Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai? 9) Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi. 10) Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! 11) Nhà vua và vương cung, vương thần nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama là vị A-la-hán". Tuy vậy Tôn giả Gotama nay đã phẫn nộ. (Thế Tôn): 12) Với vị không
phẫn nộ, Phẫn nộ từ
đâu đến? Sống chế
ngự, chánh mạng, Giải thoát,
nhờ chánh trí. Vị ấy sống
như vậy, Đời sống
được tịch tịnh. Những ai bị
phỉ báng, Trở lại phỉ
báng người, Kẻ ấy làm ác
mình, Lại làm ác
cho người. Những ai bị
phỉ báng, Không phỉ báng
chống lại, Người ấy đủ
thắng trận, Thắng cho mình,
cho người. Vị ấy tìm
lợi ích, Cho cả mình và
người. Và kẻ đã
phỉ báng, Tự hiểu,
lắng nguôi dần. Bậc Y sư cả
hai, Chữa mình,
chữa cho người, Quần chúng nghĩ
là ngu, Vì không hiểu
Chánh pháp. 13) Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama!...,... Con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia tu học với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới. 14) Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới. 15) Được thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Akkosaka Bhàrahvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa". 16) Và Tôn giả Akkosaka Bhàradvàkja trở thành một vị A-la-hán nữa. III. Asurindaka (S.i,163) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nghe như sau: " Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". 3) Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn. 4) Được nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. 5) Rồi Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nói với Thế Tôn: -- Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục. Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục! (Thế Tôn): 6) Kẻ ngu nghĩ
mình thắng, Khi nói lời ác
ngữ, Ai biết chịu
kham nhẫn, Kẻ ấy thật
thắng trận. Những ai bị
phỉ báng, Trở lại phỉ
báng người, Kẻ ấy làm ác
mình, Lại làm ác
cho người. Những ai bị
phỉ báng, Không phỉ báng
đối lại, Người ấy đã
thắng trận, Thắng cho mình
cho người. Vị ấy tìm
lợi ích, Cho cả mình và
người, Và kẻ đã
phỉ báng, Tự hiểu,
lắng nguội dần. Bậc y sư cả
hai, Chữa mình,
chữa cho người, Quần chúng nghĩ
là ngu, Vì không hiểu
Chánh pháp. 7) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn: Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...,"... không còn trở lại đời sống này nữa." 8) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. IV. Bilangika (S.i,164) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja được nghe: "Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Sa-môn Gotama, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". 3) Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, giữ yên lặng, đứng một bên. 4) Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja, liền nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja: Ai hại người
hiền thiện, Thanh tịnh, không
cấu nhiễm, Ác hạnh được
chín mùi, Phản lại
hại người ngu, Chẳng khác gì
ngược gió, Lại tung vãi
bụi trần. 5) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn Bilangika Bhàradvaja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama...,..., Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa". 6) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. V.. Bất Hại - Ahimsaka (S.i,164) 1) Nhân duyên tại Sàvatthi. 2) Rồi Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama! Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama!. (Thế Tôn): 4) Danh phải tương
xứng người, Người phải là
bất hại! Ai với thân,
miệng, ý, Không làm hại
một ai, Ai không hại
người khác, Người ấy
thật bất hại. 5) Khi được nghe vậy, Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...,"... không còn trở lui đời sống này nữa." 6) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. VI. Bện Tóc (S.i,165) 1) Nhân duyên ở Sàvatthi. 2) Rồi Bà-la-môn Jatabhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jatabhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn: Nội triền và
ngoại triền, Chúng sanh bị
triền phược, Con hỏi Gotama,
Ai thoát triền
phược này? (Thế Tôn) 4) Người có
trí, trú giới, Tu tập tâm và
tuệ, Nhiệt tâm và
thận trọng, Tỷ-kheo ấy
thoát triền. Với ai đã
từ bỏ, Tham sân và vô
minh, Bậc Ứng Cúng
lậu tận, Vị ấy thoát
triền phược. Chỗ nào danh và
sắc Được đoạn
tận vô dư, Đoạn chướng
ngại sắc tưởng, Chỗ ấy
triền phược đoạn. 5) Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Jatabhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... 6) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. VII. Suddhika (S.i,165) 1) Tại Sàvatthi, Jetavana. 2) Rồi Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja nói lên bài lệ này trước mặt Thế Tôn: Không Bà-la-môn
nào, Dầu giữ
giới, khổ hạnh, Có thể được
thanh tịnh, Dầu ở thế
giới nào. Chỉ vị Minh
Hạnh Túc, Mới có thể
thanh tịnh. Không một
quần chúng nào. Ngoài vị hành
như vậy. (Thế Tôn): 4) Dầu lẩm
bẩm nhiều chú, Nhưng không vì
thọ sanh, Được gọi Bà-la-môn,
Nội ô nhiễm
bất tịnh, Y cứ trên
lừa đảo, Bà-la-môn,
Phệ-xá, Thủ-đà, Chiên-đà-la,
Kẻ đổ phẩn,
đổ rác, Tinh cần và
tinh tấn, Thường dõng mãnh
tấn tu, Đạt được
tịnh tối thắng, Bà-la-môn nên
biết! 5) Khi được nghe vậy, Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... 6) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. VIII. Aggika: Thờ lửa (S.i,166) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Lúc bấy giờ, một món ăn gồm gạo và sữa đông được sửa soạn cho Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja để vị này sắp đặt: "Tôi sẽ tế lửa, tôi sẽ làm lễ cúng dường lửa". 3) Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Ràjagaha để khất thực. Trong khi đi khất thực thứ lớp ở Ràjagaha, Thế Tôn đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja; sau khi đến, Thế Tôn đứng một bên. 4) Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đi khất thực đến, thấy vậy liền nói lên bài kệ với Thế Tôn: Vị đầy đủ
ba minh, Thiện sanh và
nghe nhiều, Minh hạnh được
trọn vẹn, Hãy thọ món
ăn này! (Thế Tôn): 5) Dầu lẩm
bẩm nhiều chú, Nhưng không vì
thọ sanh, Được gọi Bà-la-môn.
Nội ô nhiễm
bất tịnh, Y cứ trên
lừa đảo, Thấy thiên
giới ác thú, Đoạn diệt
được tái sanh, Thắng trí,
bậc Mâu-ni, Đầy đủ ba
minh này, Ba minh, Bà-la-môn,
Minh hạnh được
đầy đủ, Hãy thọ món
ăn này. 6) Mong Tôn giả thọ lãnh món ăn này. Tôn giả Gotama thật là bậc Bà-la-môn. (Thế Tôn): 7) Ta không có
hưởng thọ, Vì tụng hát
kệ chú, Thường pháp
không phải vậy, Đối vị có
tri kiến. Chư Phật đã
loại bỏ, Tụng hát các
kệ chú, Chân thật
niệm Chánh pháp, Sở hành là như
vậy. Bậc Đại Sĩ
vẹn toàn, Cúng dường
phải khác biệt, Đoạn tận các
lậu hoặc, Dao động được
lắng dịu. Với những
bậc như vậy, Ăn uống phải
cúng dường, Thật chính là
phước điền, Cho những ai cầu phước. 8) Được nghe như vậy, Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!... 9) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. IX. Sundarika (S.i,167) 1) Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông Sundarika. 2) Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja tế lửa trên bờ sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa. 3) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja sau khi tế lửa, làm lễ cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung quanh tất cả bốn phương và nghĩ: "Ai có thể hưởng họ món ăn cúng tế còn lại này?" 4) Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn. 5) Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja liền tháo đồ trùm ở đầu. 6) Và Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nghĩ: "Đầu vị này trọc, vị này là người trọc đầu", nghĩ vậy, muốn trở lui. 7) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja lại suy nghĩ: "Trọc đầu ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến và hỏi vấn đề thọ sanh". 8) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn: - Thọ sanh Tôn giả là gì? (Thế Tôn): 9) Chớ hỏi
về thọ sanh, Hãy hỏi về
sở hành. Tùy theo mọi
thứ củi, Ngọn lửa được
sanh khởi. Dầu thuộc nhà
hạ tiện, Bậc ẩn sĩ
tinh cần, Được xem như
thượng sanh, Biết tàm quý,
trừ ác. Điều thuận
bởi chân lý, Thuần thục
trong hành trì, Thông đạt các
Thánh kinh, Phạm hạnh
được viên thành. Tế vật đã
đem lại, Hãy cầu khẩn
vị ấy, Lễ tế làm đúng
thời, Vị ấy xứng cúng dường. Sundarika: 10) Vật cúng này
của con, Thật sự khéo
cúng dường, Nay con đã
thấy được, Bậc sáng
suốt như Ngài. Con không thấy
một ai Có thể sánh
được Ngài, Không có người
nào khác Thọ hưởng
vật cúng này. Tôn giả
Gotama, Hãy thọ hưởng
vật cúng. Ngài thật là
Bà-la-môn, Là bậc đáng tôn trọng. (Thế Tôn): 11) Ta không có
hưởng thọ, Vì tụng hát
kệ chú, Thường pháp
không phải vậy, Đối vị có
tri kiến. Chư Phật đã
loại bỏ Tụng hát các
kệ chú, Chân thật
niệm Chánh pháp, Sở hành là như
vậy. Bậc Đại Sĩ
vẹn toàn, Cúng dường
phải khác biệt. Đoạn tận các
lậu hoặc, Trạo hối được
lắng dịu, Với những
bậc như vậy, Cơm nước
phải cúng dường, Thật chính là
phước điền, Cho những ai cầu phước. 12) Vậy thưa Tôn giả Gotama, con phải cho ai vật cúng còn lại này? 13) Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình. 14) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nhận chìm vật cúng còn lại ấy vào trong nước, nơi không có loài hữu tình. 15) Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. 16) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng một bên. 17) Thế Tôn nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đang đứng một bên: Này Bà-la-môn
kia, Chớ có nghĩ gì
tịnh. Sự sắp đặt
củi lửa, Như vậy chỉ
bề ngoài. Bậc thiện nhân
dạy rằng, Người ấy không
thanh tịnh, Với những ai
chỉ muốn Thanh tịnh
mặt bên ngoài. Này Bà-la-môn
kia, Ta từ bỏ
củi lửa, Ta chỉ nhen nhúm
lên Ngọn lửa từ
nội tâm, Ngọn lửa thường
hằng cháy, Thường nồng
cháy nhiệt tình. Ta là bậc La-hán,
Ta sống đời
Phạm hạnh. Này Bà-la-môn
kia, Người mang ách
kiêu mạn, Phẫn nộ là
khói hương, Vọng ngôn là
tro tàn, Lưỡi là
chiếc muỗng tế, Tâm là chỗ
tế tự, Tự ngã là
ngọn lửa. Còn người khéo
điều phục, Chánh pháp là
ao hồ, Giới là bến
nước tắm, Không cấu
uế, trong sạch, Được thiện
nhơn tán thán, Là chỗ bậc có
trí, Thường tắm,
trừ uế tạp. Khi tay chân
trong sạch, Họ qua bờ bên
kia. Chánh pháp là
chân lý, Tự chế là
Phạm hạnh, Chính con đường
trung đạo, Giúp đạt
tối thắng vị, Đảnh lễ
bậc trực tâm, Ta gọi tùy pháp
hành. 18) Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... 19) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. X. Bahudhiti (S.i,170) 1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. 2) Lúc bấy giờ, một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bị mất mười bốn con bò. 3) Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja trong khi đi tìm những con bò đực ấy, đi đến khu rừng kia; sau khi đến, thấy Thế Tôn ngồi kiết-già trong khu rừng ấy, lưng giữ thẳng và để chánh niệm trước mặt. 4) Thấy vậy, Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn: Với vị Sa-môn
này, Không có mười
bốn bò, Nên không
thấy sáu mươi (ajjasatthi), Do vậy được
an lạc. Với vị Sa-môn
này, Không có
ruộng mè hư, Một hai lá cây
mè, Do vậy được
an lạc. Với vị Sa-môn
này, Không kho
trống, không chuột, Chạy chơi và
múa nhảy, Do vậy được
an lạc. Với vị Sa-môn
này, Không tấm
nệm bảy tháng, Tràn đầy
những chí rận, Do vậy được
an lạc. Với vị Sa-môn
này Không bảy gái
quả phụ Hoặc một con,
hai con, Do vậy được
an lạc. Với vị Sa-môn
này, Không vợ đen,
mặt rỗ. Lấy chân thúc
đá dậy, Do vậy được
an lạc. Với vị Sa-môn
này, Không kẻ nợ
buổi sáng, Mắng nhiếc:
"Hãy trả đi" Do vậy được
an lạc. (Thế Tôn): 5) Bà-la-môn,
với Ta, Không có mười
bốn bò, Nên không
thấy sáu mươi, Do vậy Ta an
lạc. Bà-la-môn,
với Ta, Không có
ruộng mè hư, Một hai lá cây
mè, Do vậy Ta an
lạc. Bà-la-môn,
với Ta, Không kho
trống, không chuột, Chạy chơi và
múa chảy, Do vậy Ta an
lạc. Bà-la-môn,
với Ta, Không tấm
nệm bảy tháng, Tràn đầy
những chí rận, Do vậy Ta an
lạc. Bà-la-môn,
với Ta, Không bảy gái
quả phụ, Hoặc một con,
hai con, Do vậy Ta an
lạc. Bà-la-môn,
với Ta, Không vợ đen,
mặt rỗ, Lấy chân thúc
đá dậy, Do vậy Ta an
lạc. Bà-la-môn,
với Ta, Không kẻ nợ
buổi sáng, Mắng nhiếc:
"Hãy trả đi", Do vậy Ta an
lạc. 6) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thế thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama, cho con được thọ đại giới. 7) Rồi Bà-la-môn Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới. 8) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja ở một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình hướng đến: Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không có trở lại trạng thái này nữa". 9) Và Tôn
giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa. III.
Phẩm Cư Sĩ I. Cày Ruộng (S.i,172) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. 2) Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày. 3) Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja. 4) Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja đang phân phát đồ ăn. 5) Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên. 6) Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn: - Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn? 7) - Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn. 8) - Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: "Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn". 9) Rồi Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn: Ông nói là nông
phu, Ta không thấy
Ông cày, Người nông
phu được hỏi, Hãy lên tiếng
trả lời, Sao chúng tôi
biết được, Ông thật sự
có cày? (Thế Tôn): 10) Lòng tin là
hạt giống, Khổ hạnh là
mưa móc, Trí tuệ đối
với Ta, Là cày và ách
mang, Tàm quý là cán
cày, Ý căn là dây
cột, Chánh niệm đối
với Ta, Là lưỡi cày,
gậy đâm. Thân hành được
hộ trì, Khẩu hành được
hộ trì Đối với các
món ăn, Bụng Ta dùng
vừa phải, Ta nhổ lên (tà
vạy), Với chơn lý
sự thật, Hoan hỷ trong
Niết-bàn Là giải thoát
của Ta. Tinh tấn đối
với Ta, Là khả năng
mang ách, Đưa Ta tiến
dần đến, An ổn khỏi ách
nạn, Đi đến, không
trở lui, Chỗ Ta đi, không
sầu. Như vậy, cày
ruộng này, Đưa đến
quả bất tử, Sau khi cày cày
này, Mọi đau khổ
được thoát. 11) Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử. (Thế Tôn): 12) Ta không có
hưởng thọ, Vì tụng hát
kệ chú, Thường pháp
không phải vậy, Đối vị có
tri kiến. Chư Phật đã
loại bỏ, Tụng hát các
kệ chú, Chơn thật đối
với Pháp, Sở hành là như
vậy. Bậc Đại Sĩ
vẹn toàn, Cúng dường
phải khác biệt, Đoạn tận các
lậu hoặc, Trạo hối được
lắng dịu, Với những
bậc như vậy, Cơm nước
phải cúng dường. Thật chính là
phước điền, Cho những ai
cầu phước. Được nghe nói vậy, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja bạch Thế Tôn: Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng! II. Udaya (S.i,173) 1) Nhân duyên ở Sàvatthi. 2) Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya. 3) Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát của Thế Tôn. 4) Lần thứ hai Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya... 5) Lần thứ ba, Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát Thế Tôn và nói với Thế Tôn: - Tham lam là Sa-môn Gotama, đến đi đến lại nhiều lần! (Thế Tôn): Nhiều lần và
nhiều lần, Chúng gieo vãi
hạt giống. Nhiều lần và
nhiều lần, Trời mưa đi,
mưa lại. Nhiều lần và
nhiều lần, Người nông
phu cày ruộng. Nhiều lần và
nhiều lần, Lúa gạo đến
quốc độ. Nhiều lần và
nhiều lần, Hành khất
lại xin ăn. Nhiều lần và
nhiều lần, Thí chủ lại
bố thí. Nhiều lần và
nhiều lần, Thí chủ sau
khi cho. Nhiều lần và
nhiều lần, Được đi đến
thiên giới. Nhiều lần và
nhiều lần, Người làm
sữa vắt sữa, Nhiều lần và
nhiều lần, Bò con tìm bò
mẹ. Nhiều lần và
nhiều lần, Mệt sức và
lao khổ. Nhiều lần và
nhiều lần, Kẻ ngu nhập bào
thai. Nhiều lần và
nhiều lần, Lại sanh rồi
lại chết. Nhiều lần và
nhiều lần, Họ mang đến
nghĩa địa. Họ được
đường giải thoát, Không đưa đến
tái sanh. Bậc đại trí,
đại tuệ, Không sanh đi,
sanh lại. 7) Khi được nói vậy, Bà-la-môn Udaya bạch Thế Tôn: - Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng! III. Devahita (S.i,173) 1) Nhân duyên ở Sàvatthi. 2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bịnh về phong khí và Tôn giả Upavàna là thị giả Thế Tôn. 3) Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Upavàna: - Này Upavàna, Ông có biết làm sao cho Ta nước nóng? 4) Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Upavàna vâng đáp Thế Tôn, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Bà-la-môn Devahita; sau khi đến, đứng im lặng một bên. 5) Bà-la-môn Devahita thấy Tôn giả Upavàna đứng im lặng một bên, bèn nói lên bài kệ với Tôn giả Upavàna: Tôn giả đứng
im lặng, Trọc đầu,
choàng đại y, Ông muốn gì,
cầu gì? Ông đến để
xin gì? (Tôn giả): 6) Bậc La-hán,
Thiện Thệ, Hiện bị
bịnh phong khí, Nếu đây có nước
nóng, Hãy dâng bậc
Đại Thánh! Xứng đáng
được cúng dường, Ngài đã được
cúng dường. Xứng đáng
được tôn kính, Ngài đã được
tôn kính, Xứng đáng
được cung kính, Ngài đã được
cung kính, |