| Tiếng Việt |
|
Kinh Điển Phật Giáo |
| ...... ... | . |
Phần 6
Chương
VI : Tương Ưng Phạm Thiên I.Phẩm
Thứ Nhất I. Thỉnh Cầu (S.i. 136) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo. 2) Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: 3) "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta." 4) Rồi những bài kệ vi diệu này, từ trước chưa từng được nghe, được Thế Tôn nói lên: Pháp Ta chứng
khó khăn, Sao nay Ta nói lên?
Tham, sân chi
phối ai, Khó chứng
ngộ pháp này. Pháp này đi ngược
dòng, Vi diệu và thâm
sâu, Khó thấy,
rất vi tế. Những ai ưa ái
dục, Bị vô minh bao
phủ, Rất khó thấy
pháp này. 5) Thế Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp. 6) Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Thật sự thế giới bị tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp". 7) Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn. 8) Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe) những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp. 9) Phạm thiên Sahampati nói lên như vậy. Nói xong như vậy, vị ấy lại nói thêm như sau: Tại xứ
Magadha, Thuở trước có
hiện ra, Tà pháp không
thanh tịnh, Do uế tâm suy
diễn. Mở cửa bất
tử này, Để họ được
nghe pháp, Do bậc Thánh vô
uế, Đã chơn chánh
giác ngộ. Như đứng trên
tảng đá, Tại đỉnh
một núi cao, Đưa mắt nhìn
xung quanh, Quần chúng (dưới
chân mình). Cũng vậy, Ngài
Thiện Thệ, Leo lên lầu Chánh
pháp, Biến nhãn, không
sầu muộn, Nhìn xuống đám
quần sanh Bị ưu tư
sầu khổ, Bị sanh già áp
bức. Anh hùng, hãy
đứng lên, Bậc Chiến
thắng chiến trường, Vị Trưởng đoàn
lữ khách, Đấng Thoát ly
nợ nần, Thế Tôn hãy
thuyết pháp, Bộ hành khắp
thế gian, Có người
nhờ được nghe, Sẽ thâm hiểu
diệu nghĩa. 10) Rồi Thế Tôn biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên, vì lòng thương xót đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn. 11) Thế Tôn trong khi nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng lợi căn, độn căn; có hạng tánh thuận, tánh nghịch; có hạng dễ dạy, khó dạy; một số thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm. 12) Ví như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy, Thế Tôn trong khi với Phật nhãn nhìn quanh thế giới, thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng lợi căn, độn căn; có hạng tánh thuận, tánh nghịch; có hạng dễ dạy, khó dạy; một số thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác, và sự nguy hiểm của các hành động lỗi lầm. 13) Thấy vậy, Ngài trả lời cho Phạm thiên Sahampati với những bài kệ: Hãy rộng mở
cho họ, Cửa trường
sanh bất tử, Hỡi những ai
có tai, Hãy giải thoát
tà tín, Ý thức sự
nguy hại, Ta sẽ có
thuyết giảng Pháp tốt đẹp
vi diệu, Giữa nhân
loại, chúng sanh, Ôi Phạm thiên
Sahampati! 14) Rồi Phạm thiên Sahampati biết được: "Ta đã tạo ra cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp", nên đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ ấy. II. Cung Kính. 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo. 2) Và Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật là khó khăn, sống không có cung kính, không có vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn". 3) Rồi Thế Tôn, suy nghĩ: "Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác,với giới uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ". 4) " Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác..." 5) "Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ..." 6) " Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được đầy đủ..." 7) "Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, giữa loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giải thoát tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ". 8) "Với pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này". 9) Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn. 10) Rồi Phạm thiên Sahamapati đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn: 11) -- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác cũng cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp. 12) Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói như vậy, lại nói thêm như sau: Chư Phật
thời quá khứ, Chư Phật
thời vị lai, Và đức Phật
hiện tại, Đoạn sầu
muộn nhiều người. Tất cả các
vị ấy, Đã, đang và
sẽ sống, Cung kính và tôn
trọng, Pháp chơn chánh
vi diệu, Pháp nhĩ là như
vậy, Đối với chư
Phật-đà. Do vậy, muốn
lợi ích, Ước vọng làm
Đại nhân, Hãy cung kính,
tôn trọng Pháp chơn chánh
vi diệu, Hãy ghi nhớ giáo
pháp, Chư Phật Chánh
Đẳng Giác. III. Phạm Thiên. 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anàthapindika. 2) Lúc bấy giờ con một nữ Bà-la-môn, tên là Brahmadeva đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn. 3) Rồi Tôn giả Brahmadeva sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy ngay hiện tại với thắng trí tự mình chứng đắc, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Và Tôn giả Brahmadeva trở thành một vị A-la-hán. 4) Rồi Tôn giả Brahmadeva vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Trong khi bộ hành thứ lớp khất thực ở Sàvatthi, Tôn giả Brahmadeva đi đến nhà người mẹ của mình. 5) Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva, thường làm lễ cúng dường Phạm thiên. 6) Rồi Phạm thiên Sahampati suy nghĩ: "Nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva này, thường làm lễ cúng dường Phạm thiên. Vậy ta hãy đến bà ấy và làm cho bà chấn động". 7) Rồi Phạm thiên Sahampati, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trong nhà mẹ Tôn giả Brahmadeva. 8) Rồi Phạm thiên Sahampati đứng giữa hư không, nói lên bài kệ này với nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva: Ôi! Nữ Bà-la-môn,
Phạm thiên
giới rất xa, Chính Bà thường
cúng dường, Cho chính Phạm
thiên ấy, Món cúng dường
như vậy, Không món ăn
Phạm thiên. Người bập
bẹ làm gì, Chưa biết
Phạm thiên đạo. Này nữ Bà-la-môn,
Brahmadeva này Là con trai
của bà, Ngài đoạn
mọi sanh y, Chứng pháp siêu
Thiên giới, Khất sĩ, không
sở hữu, Không nuôi dưỡng
một ai. Vị ấy nay đã
đến, Nhà Bà để
khất thực, Xứng đáng
được cúng dường, Thâm hiểu các
Thánh điển, Các căn khéo
tu tập, Nhơn, Thiên
xứng cúng dường. Vất ngoài
mọi tà ác, Thoát ly mọi
nhiễm ô. Ngài đi, tìm
độ thực, Lắng dịu
mọi ưu phiền, Về sau ngài không
có, Về trước, ngài
cũng không. Vắng lặng, không
mù quáng, Não phiền, không
đắm say. Ngài bỏ rơi
gậy gộc, Đối kẻ yếu,
người mạnh. Mong ngài được
thọ hưởng, Món thượng,
vị Bà dâng, Không bị ác
quân phá, Tâm tư thuần
lắng dịu. Như voi thuần,
ngài đi, Thoát ly mọi
ái dục. Vị Tỷ-kheo trì
giới, Tâm tư khéo
giải thoát, Hãy mời ngài
thọ hưởng Thượng vị Bà
cúng dường. Bà hãy dâng cúng
dường. Lên ngài, Bà
tin tưởng, Với lòng tin
bất động, Xứng đáng Bà
cúng dường. Hãy làm điều
phước đức, Dành an lạc đời
sau. Này nữ Bà-la-môn,
Nay Bà đã
thấy Ngài. Bậc Thánh nhân
ẩn sĩ, Bậc vượt
khỏi bộc lưu. 9) Bà hãy dâng
cúng dường Lên ngài, Bà
tin tưởng, Với lòng tin
bất động, Xứng đáng Bà
cúng dường. Bà đã làm công
đức, Dành an lạc đời
sau, Này Nữ Bà-la-môn,
Nay bà đã
thấy ngài, Bậc Thánh nhân
ẩn sĩ, Bậc vượt
khỏi bộc lưu. IV. Phạm Thiên Baka (S.i.142) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. 2) Lúc bấy giờ, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau: "Đây là thường. Đây là thường hằng. Đây là thường trú. Đây là viên mãn. Đây là bất động. Đây là không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Và ở ngoài đây ra, không có một sự giải thoát nào khác". 3) Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Phạm thiên Baka. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất ở Jetavana (Thắng Lâm) và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. 4) Phạm Thiên Baka thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền bạch Thế Tôn: -- Hãy đến đây, Tôn giả ! Đón chào mừng Tôn giả! Thưa Tôn giả, đã từ lâu Tôn giả tạo ra cơ hội này, tức là đến đây. Thưa Tôn giả, đây là thường. Đây là thường hằng. Đây là thường trú. Đây là viên mãn. Đây là bất động. Đây là không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi. Ngoài đây ra, không có một pháp giải thoát nào khác hơn. 5) Được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Phạm thiên Baka: -- Ông thật là vô minh, này Phạm thiên Baka! Ông thật là vô minh, này Phạm thiên Baka! Ở đây, cái vô thường lại nói là thường. Cái không thường hằng lại nói là thường hằng. Cái không thường trú lại nói là thường trú. Cái không viên mãn lại nói là viên mãn. Cái không bất động lại nói là bất động. Và ở đây có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói ở đây không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Và có pháp giải thoát khác nữa lại nói là không có pháp giải thoát nào khác. (Baka): 6) Này Ngài
Gotama, Bảy hai công
đức nghiệp, Chúng ta ngự
thế giới, Chinh phục sanh
và già, Đây đời
sống cuối cùng, Thâm hiểu Thánh
Vệ-đà, Đạt được
Phạm thiên vị, Nhiều người
lễ bái ta. (Thế Tôn): 7) Ngắn thay đời
sống này, Thọ mạng đâu
có dài, Chỉ có Ông,
Baka, Nghĩ rằng
thọ mạng dài, Ta biết thọ
mạng Ông, Này Brahma như
vậy, Khoảng trăm ngàn
năm dư, (Nirabbudànam). (Baka): 8) Nếu Ngài là
Thế Tôn, Thấy được
sự bất tận, Ngài vượt
qua, chinh phục, Sanh già và
sầu muộn, Giới hạnh
thuở xưa ấy, Nào ích gì cho
con, Hãy nói lên
cho con, Để con biết
rõ ràng. (Thế Tôn): 9) Có khá đông
nhiều người, Khát nước và
nhiệt não, Quá khứ Ông
cho uống, Và cứu độ
nhiều người. Chính giới
ấy, hạnh ấy Của Ông trong
thời xưa, Như kẻ ngủ
được thức Ta có nhớ như
vậy. Tại bờ sông
Sơn Dương, Khi quần chúng
bị bắt, Ông giải thoát
cho họ, Ông dắt trốn
kẻ tù. Chính giới
ấy, hạnh ấy, Của Ông trong
thời xưa, Như kẻ ngủ
được thức, Ta có nhớ như
vậy. Khi giữa dòng
sông Hằng, Có thuyền bị
công hãm, Bởi loại
rắn bạo ngược Muốn nuốt
sống loài Người, Với sức
mạnh thần lực, Ông chinh phục,
giải cứu, Chính giới
ấy, hạnh ấy, Của ông trong
thời xưa, Như kẻ ngủ
được thức, Ta có nhớ như
vậy. Ta với tên
Kappa, Một thời đệ
tử Ông, Ta được Ông
xác nhận, Bậc thông minh
trí tuệ, Chính giới
ấy, hạnh ấy, Của Ông trong
thời xưa, Như kẻ ngủ
được thức, Ta có nhớ như
vậy. (Baka): 10) Chắc chắn
Ngài được biết, Thọ sanh con như
vậy, Ngài cũng
biết người khác, Vì Ngài, bậc
Giác Ngộ. Như vậy oai đức
Ngài, Chói sáng là
như vậy, Hào quang Ngài
sáng chói, An trú Phạm
thiên giới. V. Tà Kiến Khác (S.i.144) 1) Nhân duyên ở Sàvatthi. 2) Lúc bấy giờ, một Phạm thiên khác có khởi lên một ác tà kiến như sau: "Không một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể đến ở đây". 3) Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Phạm thiên ấy. Như người lực sĩ...,... hiện ra trong Phạm thiên giới ấy. 4) Rồi Thế Tôn ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phun lửa. 5) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?". 6) Mahà Moggallàna, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. 7) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna ngồi kiết-già giữa hư không về phía đông, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa. 8) Rồi Tôn giả Mahà Kasspa (Đại Ca-diếp) khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Mahà Kassapa thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa hư không...,... thấy vậy như nhà lực sĩ...,... cũng vậy, biến mất ở Jetavana, hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa ngồi kiết-già giữa hư không về phía Nam, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa. 9) Rồi Mahà Kappina (Đại Kiếp-tân-na) khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?" 10) Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Mahà Kappina thấy Thế Tôn...,... toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ...,... cũng vậy biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Mahà Kappina ngồi kiết-già giữa hư không về phía Tây, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa. 11) Rồi Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà) khởi lên ý nghĩ: "Thế Tôn hiện nay đang trú ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả Anuruddha thấy...,... hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Anuraddha ngồi kiết-già giữa hư không về phía Bắc, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa. 12) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nói lên bài kệ với Phạm thiên ấy: Này Hiền giả,
hôm nay, Người còn
giữ tà kiến Như tà kiến
của Ông, Đã gìn giữ
thời xưa. Ông có thấy hào
quang Siêu việt
Phạm thiên giới? (Phạm thiên
ấy): 13) Này Thân
hữu, nay tôi Không còn giữ
tà kiến, Như tà kiến
của tôi, Đã gìn giữ
thời xưa. Tôi có thấy hào
quang, Siêu việt
Phạm thiên giới, Làm sao tôi
chấp nhận : " Tôi là
thường, là hằng"? 14) Rồi Thế Tôn sau khi làm cho Phạm thiên ấy dao động, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất tại Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Jetavana. 15) Rồi Phạm thiên ấy gọi một Phạm thiên chúng: -- Này Tôn giả, hãy đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna; sau khi đến, thưa với Tôn giả Mahà Moggallàna: "Thưa Tôn giả Moggallàna, bậc Thế Tôn ấy có những vị đệ tử nào khác, cũng có thần lực, cũng có uy đức như các Tôn giả Moggallàna, Kassapa, Kappina và Anuruddha?" 16) -- Thưa vâng, Tôn giả. Phạm thiên chúng ấy vâng đáp Phạm thiên ấy và đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna. 17) Sau khi đến, vị ấy thưa với Tôn giả Mahà Moggallàna: -- Thưa Tôn giả Moggallàna, bậc Thế Tôn ấy có những đệ tử nào khác, cũng có thần lực, cũng có uy đức như các Tôn giả Moggallàna, Kassapa, Kappina, Anuruddha? 18) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nói lên bài kệ với Phạm thiên chúng ấy: Chứng ba minh
thần lực, Khéo đọc
hiểu tâm người, Bậc lậu tận
La-hán, Đệ tử Phật
rất nhiều. 19) Rồi Phạm thiên chúng ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggallàna nói, đi đến Đại Phạm thiên; sau khi đến, nói với vị Phạm thiên ấy: - Thưa Tôn giả, Tôn giả Mahà Moggallàna nói như sau: "Chứng ba
minh thần lực, Khéo đọc
hiểu tâm người, Bậc lậu tận
La-hán, Đệ tử Phật
rất nhiều." 20) Phạm thiên chúng ấy nói như vậy. Vị Phạm thiên kia hoan hỷ, tín thọ lời nói của Phạm thiên chúng ấy. VI. Phóng Dật (S.i.146) 1) Nhân duyên ở Sàvatthi. 2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang Thiền tịnh độc cư vào buổi trưa. 3) Rồi hai Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Suddhavàsa đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, họ đứng mỗi người dựa vào một cột cửa. 4) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà nói với Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa: -- Này Tôn giả, nay không phải thời để hầu thăm Thế Tôn, Thế Tôn đang Thiền tịnh vào buổi trưa. Và có một Phạm thiên giới phồn vinh và thịnh vượng, tại đấy có Phạm thiên an trú, sống phóng dật. Này Tôn giả, hãy đi đến Phạm thiên giới ấy; sau khi đến hãy làm cho Phạm thiên ấy dao động. 5) -- Thưa vâng, Thân hữu. Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa vâng đáp Bích-chi Phạm thiên Subrahmà. 6) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa, như một lực sĩ...,... cũng vậy, các vị này biến mất trước mặt Thế Tôn và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. 7) Phạm thiên này thấy các Phạm thiên kia từ xa đi đến, thấy vậy, liền nói với các vị Phạm thiên kia: -- Này chư Tôn giả, chư Tôn giả từ đâu đến? 8) -- Này Tôn giả, chúng tôi đến, sau khi được diện kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Tôn giả, Tôn giả nên đi đến hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. 9) Khi được nói vậy, Phạm thiên này không để ý đến lời nói ấy, tự mình biến hình thành một ngàn thân, rồi nói với Bích-chi Phạm thiên Subrahmà: -- Này Tôn giả, Tôn giả có thấy thần lực, uy đức của ta như vậy không? 10) -- Này Tôn giả, ta có thấy thần lực, uy đức của Tôn giả như vậy. 11) -- Này Tôn giả, thần lực và uy đức của ta như vậy, thời ta còn phải đi hầu thăm một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác để làm gì? 12) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà tự thân biến hình thành hai ngàn thân rồi nói với Phạm thiên kia: -- Này Tôn giả, Tôn giả có thấy thần lực, uy đức của ta như vậy không? 13) -- Này Tôn giả, tôi có thấy thần lực, uy đức của Tôn giả như vậy. 14) -- Này Tôn giả, Thế Tôn có đại thần lực và đại uy đức thắng hơn Ông và ta nữa. Này Tôn giả, Tôn giả hãy đi đến hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. 15) Rồi Phạm thiên kia nói lên bài kệ với Bích-chi Phạm thiên Subrahmà: Ba hàng kim sí
điểu, Và bốn hàng
thiên nga, Năm hàng trăm
hổ cái Rực rỡ và sáng
chói, Cung điện này
chiếu diệu, Bừng sáng cả
Bắc phương. (Bích-chi Phạm
thiên Subrahmà): 16) Dầu cho
cung điện Ông, Rực rỡ và chói
sáng, Chiếu diệu
cả vòm trời, Bừng sáng cả
Bắc phương. Bậc Thiện
Thệ sáng suốt, Thấy nguy
hiểm trong sắc, Luôn luôn
phải biến hoại, Nên không ái
lạc sắc. 17) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa; sau khi làm vị Phạm thiên ấy dao động, liền biến mất tại chỗ ấy. 18) Và Phạm thiên ấy, sau một thời gian đi đến hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. VII. Kokàlika (S.i,148) 1) Ở tại Sàvatthi. 2) Lúc bấy giờ Thế Tôn Thiền tịnh độc cư vào buổi trưa. 3) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đứng mỗi người dựa vào một cái trụ cửa. 4) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà vì Tỷ-kheo Kokàlika nói lên bài kệ trước mặt Thế Tôn: Ai là người có
trí, Biết nhận xét
phân tích, Lại muốn đem
ước lượng, Bậc siêu vượt
ước lượng? Ta nghĩ kẻ phàm
phu, Bị hạn chế
bao vây, Làm sao ước lượng
được, Bậc siêu vượt
ước lượng? VIII. Tissaka (S.i,148) 1) Tại Sàvatthi. 2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thiền tịnh độc cư vào buổi trưa. 3) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi người đứng dựa vào một cột trụ cửa. 4) Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà vì Tỷ-kheo Katamodaka Tissaka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn: Ai là người có
trí, Biết nhận xét
phân tích, Lại muốn đem
ước lượng, Bậc siêu vượt
ước lượng? Ta nghĩ người
vô trí, Bị hạn chế
bao vây, Làm sao ước lượng
được, Bậc siêu vượt
ước lượng? IX. Tudubrahmà (S.i, 149) 1) Tại Sàvatthi. 2) Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Kokàlika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. 3) Rồi Bích-lchi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỷ-kheo Kokàlika. 4) Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỷ-kheo Kokàlika: -- Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa nhã. 5) -- Ông là ai, này Hiền giả? 6) -- Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu. 7) -- Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào? Phàm con người
đã sanh, Sanh với búa
trong miệng, Kẻ ngu khi nói
bậy, Tự chặt đứt
lấy thân. Ai khen kẻ làm
bậy, Ai chê người
làm hay, Tự nhen nhúm
bất hạnh, Do chính miệng
của mình; Chính do bất
hạnh ấy, Nên không được
an lạc, Nhỏ thay bất
hạnh này, Trong canh bạc
(rủi may), Bị tan hoang tài
sản, Trong giờ phút
đỏ đen! Lớn hơn, sự
bất hạnh, Hơn mọi bất
hạnh khác, Do tự mình gây
nên, Cho tự ngã
của mình! Ai đối xử ác
ý, Với chư
Phật, Thiện Thệ, Phải trải qua
thời gian, Trăm ngàn,
nhiều hơn nữa, Ba mươi sáu và
năm, Trải thời
gian thật dài. Ai với lời và
ý, Phỉ báng bậc
Hiền Thánh, Dùng ác tâm
chống đối, Sẽ sa đọa địa
ngục. X. Kokàlika (S.i,119) 1) Tại Sàvatthi. 2) Rồi Tỷ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: -- Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối. 4) Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokàlika: Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái. 5) Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối. 6) Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokalika: -- Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái. 7) Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: --.. Họ bị ác dục chi phối. 8) Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tỷ-kheo Kokàlika: --.. Sariputta và Moggallàna thật là hòa ái. 9) Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi. 10) Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo ?). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ. 11) Rồi Tỷ-kheo Kokàlika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỷ-kheo Kokàlika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna. 12) Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. 13) Đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn: -- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, sau khi mệnh chung Tỷ-kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna. 14) Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy. 15) Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỷ-kheo: -- Này các Tỷ-kheo, hồi hôm, Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, này các Tỷ kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta : " Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Và bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika sau khi mệnh chung đã sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm thù hận đối với Tôn giả Sàriputta và Moggattàna". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ. 16) Được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn: -- Bạch Thế Tôn, bao nhiêu lâu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng ? 17) -- Thật dài, này Tỷ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng. Không dễ gì tính được là bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu trăm ngàn năm. 18) -- Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví dụ ? 19) Thế Tôn đáp: -- Có thể được, này Tỷ-kheo. Này Tỷ-kheo, ví như có một bao hột đậu mè, nặng hai mươi khàrika, theo đo lường ở nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi khàrika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh (với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này-Tỷ kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Atata. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pundarika (Sen trắng). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sen trắng bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Kokàlika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với tôn giả Sàriputta và Moggallàna. 20) Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm: Phàm con người
đã sanh, Sanh với búa
trong miệng, Kẻ ngu khi nói
bậy, Tự chặt đứt
lấy thân. Ai khen kẻ làm
bậy, Ai chê người
làm hay, Tự nhen nhúm
bất hạnh, Do nơi miệng
của mình, Chính do bất
hạnh ấy, Nên không được
an lạc. Nhỏ thay bất
hạnh này, Trong canh bạc
rủi may, Bị tan hoang tài
sản, Trong giờ phút
đỏ đen. Lớn hơn sự
bất hạnh, Hơn mọi bất
hạnh khác, Do tự mình gây
nên, Cho tự ngã
của mình. Ai đối xử ác
ý, Với chư
Phật, Thiện Thệ, Phải trải qua
thời gian, Trăm ngàn
nhiều hơn nữa, Ba mươi sáu và
năm, Trải thời
gian thật dài. Ai với lời và
ý, Phỉ báng bậc
Hiền Thánh, Dùng ác tâm
chống đối, Sẽ sa đọa địa
ngục. II.
Phẩm Thứ Hai I. Sanamkumàra. Thường Đồng tử (S.i,153) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), trên bờ sông Sappini. 2) Rồi Phạm thiên Sanamkumàra, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng bờ sông Sappini, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên. 3) Đứng một bên,
Phạm thiên Sanamkumàra nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Sát-đế-lỵ
tối thắng, Giữa người
tin giai cấp. Vị đầy đủ
trí, đức, Tối thắng giữa Nhơn, Thiên. 4) Phạm thiên Sanamkumàra nói như vậy, và bậc Đạo Sư chấp nhận. 5) Rồi Phạm thiên Sanamkumàra biết được: "Thế Tôn đã chấp nhận ta", đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ. II. Devadatta (S.i,153) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, trên núi Linh Thứu, khi Devadatta bỏ đi không bao lâu. 2) Rồi Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Linh Thứu, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. 3) Đứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Devadatta: Cây chuối bị
trái giết, Cũng vậy cây
tre, lau. Danh vọng
giết kẻ ác, Như thai giết
con la. II. Andhakavinda (S.i,154) 1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Andhakavinda. 2) Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, trong bóng đêm, trong khi trời mưa từng hột một. 3) Rồi Phạm thiên Sahampati, trong khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Andhakavinda, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. 4) Đứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn: Hãy ở chỗ núi
non, Xa vắng các xóm
làng, Hãy sống đời
giải thoát, Từ bỏ các
kiết sử ! |