| Tiếng Việt |
|
Kinh Điển Phật Giáo |
| ...... ... | . |
Phần
4 Chương
IV : Tương Ưng Ác Ma I. Phẩm Thứ Nhất ---o0o--- I. Khổ Hạnh Và Nghiệp (S.i,103) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Uruvelà bên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài vừa giác ngộ. 2) Rồi Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh ấy. Tốt lành thay, thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh không liên hệ đến lợi ích ấy! Tốt lành thay, Ta kiên trì, chánh niệm, chứng đạt Bồ-đề!" 3) Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ này với Thế Tôn: Từ bỏ pháp
khổ hạnh, Giúp thanh niên
trong sạch, Không tịnh,
nghĩ mình tịnh, Đi ngược
thanh tịnh đạo. 4) Rồi Thế Tôn, biết được: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma: Biết được
pháp khổ hạnh, Được xem là
bất tử, Pháp ấy không
lợi ích, Không đem lợi
ích nào, Như chèo và bánh
lái, Chiếc thuyền
trên đất cạn. Giới, định và
trí tuệ, Con đường hướng
chánh giác. Ta tu tập
hạnh ấy, Đạt được
tối thắng tịnh, Này kẻ Tử ma
kia, Ông bị bại
trận rồi. 5) Rồi Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy. II. Con Voi (S.i,103) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, bên bờ sông Neranjarà, dưới cây Nigrodha Ajapàla, khi Ngài mới giác ngộ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một. 2) Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền biến hình thành con voi chúa to lớn và đi đến Thế Tôn. 3) Và đầu con voi ví như hòn đá đen lớn (aritthako), ngà của nó ví như bạc trắng tinh, vòi của nó ví như đầu cái cày lớn. 4) Thế Tôn biết được: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma: Ông luân hồi
dài dài, Hình thức
tịnh, bất tịnh. Thôi vừa rồi,
Ác ma, Ông đã bị
bại trận. 5) Rồi Ác ma biết được: "Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy. III. Tịnh (S.i,104) 1) Trú tại Uruvelà. 2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một. 3) Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn. 4) Sau khi đến, hiện lên những hình tướng cao thấp, tịnh, bất tịnh, không xa Thế Tôn bao nhiêu. 5) Rồi Thế Tôn biết được: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma: Ông luân hồi
dài dài, Hình thức
tịnh, bất tịnh. Thôi vừa rồi,
Ác ma, Ông đã bị
bại trận. Những vị thân,
khẩu, ý, Khéo hộ trì
chế ngự, Này kẻ Ác ma
kia, Những vị ấy
như vậy, Không bị Ông
chi phối, Không phải đệ
tử Ông. 6) Rồi Ác ma biết được... liền biến mất tại chỗ. IV. Bẫy Sập (S.i,105) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Barànasi (Ba-la-nại), Isipatana (chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: -- "Này các Tỷ-kheo." -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn ". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. 2) Thế Tôn nói như sau: -- Này các Tỷ-kheo, chính nhờ chánh tác ý, chính nhờ chánh tinh cần. Ta chứng đạt Vô thượng giải thoát. Ta chứng ngộ Vô thượng giải thoát. Vậy này các Tỷ-kheo các Ông cũng phải với chánh tác ý, chánh tinh cần, chứng đạt Vô thượng giải thoát, chứng ngộ Vô thượng giải thoát. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn: Ngài còn bị
trói buộc, Trong bẫy sập
của ma, Bởi những dây
dục lạc, Cả Thiên
giới, Nhân giới. Ngài đang bị
cột chặt, Trong triền phược
của ma. Này vị Sa-môn
kia, Ngài chưa thoát
khỏi ta. (Thế Tôn): 4) Ta đã được
giải thoát, Khỏi bẫy
sập của ma, Thoát khỏi dây
dục lạc, Cả Thiên
giới, Nhân giới. Ta đã được
giải thoát, Khỏi triền phược
của ma, Này kẻ Tử ma
kia, Ông đã bị
bại trận. 5) Rồi Ác ma... biến mất tại chỗ. V. Bẫy Sập (S.i,105) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại) tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "-- Này các Tỷ-kheo." "-- Thưa vâng Thế Tôn." Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. 2) Thế Tôn nói như sau: -Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, các Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Có các chúng sanh sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở thành những vị thâm hiểu Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ đi đến Uruvelà, thị trấn Senà để thuyết pháp. 3) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn: Ngài còn bị
trói buộc, Trong bẫy sập
của ma, Bởi những dây
dục lạc, Cả Thiên
giới, Nhân giới. Ngài đang bị
cột chặt, Trong triền phược
của ma, Này vị Sa-môn
kia, Ngài chưa thoát
khỏi ta. (Thế Tôn) 4) Ta đã được
giải thoát, Khỏi bẫy
sập của ma, Thoát khỏi dây
dục lạc, Cả Thiên
giới, Nhân giới. Ta đã được
giải thoát, Khỏi triền phược
của ma, Này kẻ Tử ma
kia, Ông đã bị
bại trận. VI. Con R馣225;ꮠ(S.i,106) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một. 3) Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến Thế Tôn. 4) Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô, hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn. 5) Rồi Thế Tôn biết: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ này với Ác ma: Quý thay bậc Mâu-ni,
Sống trong nhà
không tịch, Biết chế
ngự tự ngã, Tại đấy vị
ấy trú. Sống từ bỏ
tất cả, Với hạnh tu tương
xứng, Nhiều loại thú
bộ hành, Nhiều sự
vật khủng khiếp, Nhiều ruồi
muỗi độc xà, Không mảy may
rung động Sợi lông bậc
Mâu-ni Sống trong nhà
không tịch. Dầu trời
nứt, đất động, Dầu muôn loài
khủng bố, Dầu bị giáo,
đao, tên, Quẳng ném vào
ngực Ngài, Chư Phật không
tạo nên, Những căn cứ
sanh y. 6) Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", liền biến mất tại chỗ. VII. Thụy Miên (S.i,107) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Rồi Thế Tôn sau khi đã đi kinh hành ngoài trời một phần lớn của đêm. Khi đêm đã gần mãn, Ngài rửa chân, bước vào tịnh xá, và nằm xuống phía hông bên phải theo thế nằm của con sư tử, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác và nghĩ đến lúc thức dậy. 3) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn: Sao Ngài còn
nằm ngủ, Sao Ngài vẫn
nằm ngủ, Sao Ngài ngủ
như vậy, Như kẻ chết
nằm co? Nghĩ rằng nhà
trống không, Nên Ngài ngủ
như vậy, Sao Ngài ngủ
như vậy, Khi mặt trời
đã mọc? (Thế Tôn): 4) Khi không còn
tham ái, Với lưới
triền, nọc độc, Người vậy
được giải thoát, Không bị dẫn
nơi nào. Ác ma! Bậc Giác
Ngộ Mọi sanh y
diệt tận, Vị ấy nếu có
ngủ, Các Ông làm
được gì? VIII. Hoan Hỷ (S.i,107) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. 2) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn: Cha sung sướng
vì con, Người chăn sướng
vì bò, Người sướng
vì sanh y, Không sanh y, không
sướng. (Thế Tôn): Cha sầu vì con
cái, Người chăn
sầu vì bò, Người sầu vì
sanh y, Không sanh y, không
sầu. Rồi Ác ma biết rằng: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", liền biến mất tại chỗ. IX. Tuổi Thọ Ϡ(S.i,108) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. 3) Thế Tôn nói như sau: -- Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn. 4) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn: Loài Người
thọ mạng dài, Người lành
chớ âu lo, Bú sữa no, hãy
sống Tử vong đâu có
đến. (Thế Tôn): 5) Loài Người
thọ mạng ngắn, Người lành
phải âu lo, Như cháy đầu,
hãy sống, Tử vong rồi
phải đến. 6) Rồi
Ác ma, biết được "Thế Tôn đã biết ta...", liền
biến mất tại chỗ. X. Tuổi ThọϠ(S.i,108) 1) Tại Ràjagaha (Vương Xá). Tại đây, Thế Tôn nói như sau: -- Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn. 2) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn: Ngày đêm không
trôi qua, Thọ mạng không
chấm dứt, Thọ mạng người
xoay vần, Như vành theo
trục xe. (Thế Tôn): 3) Ngày đêm có
trôi qua, Thọ mạng có
chấm dứt, Mạng người
phải khô cạn, Như suối nhỏ
đầu non. 4) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại
chỗ ấy. II.
Phẩm Thứ Hai I. Hòn Đá (S.i,109) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu). 2) Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi giữa trời, trong bóng đêm tối, và trời mưa từng hột một. 3) Rồi Ác ma muốn làm Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, xô những tảng đá lớn rơi xuống không xa Thế Tôn bao nhiêu. 4) Rồi Thế Tôn biết được: "Đây là Ác ma", liền nói bài kệ với Ác ma: Dầu Ông làm
chấn động, Toàn bộ núi
Linh Thứu, Cũng không làm
rung động, Bậc Giác Ngộ,
Giải Thoát. 5) Rồi Ác ma được biết: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ. II. Con Sư Tử (S.i,106) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp. 2) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (đại chúng ấy)." 3) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn: Sao Ngài lại
rống lên, Rống như loài
sư tử, Vô úy không
sợ hãi, Trước hội chúng
đông đảo? Nay Ngài có địch
thủ, Chớ nghĩ Ngài
thắng trận! (Thế Tôn): 4) Bậc Đại Hùng
rống lên, Vô úy trước
đại chúng, Như Lai chứng
mười lực, Vượt tham ái
ở đời. 5) Rồi Ác ma biết được : "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy. III. Phiến Đá (S.i,110) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Maddakucchi, vườn Nai (Migadaya). 2) Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị phiến đá gây thương tích. Thế Tôn cảm xúc khốc liệt, toàn thân đau đớn, nhói đau, đau nhức mãnh liệt, không thích thú, không vừa ý. Và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu không để tâm tư buồn nản. 3) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn: Sao Ngài uể
oải nằm, Hay tìm thơ, tìm
vận, Phải chăng
việc sai biệt, Không chờ đợi
Ngài làm, Phải một mình
cô độc, Trên ghế giường
nằm, ngồi, Với gương
mặt ngái ngủ, Sao Ngài ngủ
như vậy? (Thế Tôn): Ta không uể
oải nằm, Không tìm thơ,
tìm vận, Mục đích Ta
đã đạt, Đâu có sầu
muộn gì! Ta nằm ngồi
một mình, Trên ghế giường
vắng lặng, Yên tĩnh Ta
nằm nghỉ, Tâm từ, thương
chúng sanh. Những kẻ,
ngực bị đâm, Hổn hển tim
dồn dập, Vẫn tìm được
giấc ngủ, Dầu bị thương
tích nặng. Sao Ta lại không
ngủ, Khi không bị
thương tích, Khi thức không
âu lo, Khi ngủ chẳng
sợ hãi, Ngày đêm không
khởi lên, Phiền não
bận lòng Ta? Ta không thấy
tai hại, Một chỗ nào
trên đời, Do vậy, Ta
nằm nghỉ, Tâm từ, thương
chúng sanh. 5) Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy. IV. Tương Ưng , Thích Nghi (S.i,111) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên là Ekasàlà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp. 2) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này, xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (đại chúng này)." 3) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn: Thật không chút
thích hợp, Để Ngài
giảng dạy người, Giữa người
thuận, kẻ nghịch, Chớ hành
nghề đứng giữa. (Thế Tôn): 4) Với lòng
từ, thương tưởng, Bậc Giác Ngộ
dạy người, Giữa người
thuận, kẻ nghịch, Như Lai chơn
giải thoát. 5) Rồi Ác ma biết được : "Thế Tôn đã biết ta..." liền biến mất tại chỗ ấy. V. Ý (S.i,111) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. 2) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn: Mọi hành tung
của ý Là bẫy sập
trên không, Chính với
bẫy sập ấy, Ta trói buộc
lấy Ngài, Này vị Sa-môn
kia, Ngài chưa thoát
khỏi ta. (Thế Tôn): 3) Sắc, thanh,
vị, hương, xúc, Làm tâm ý ưa
thích, Ta không ưa
muốn chúng, Ta vượt thoát
ngoài chúng, Này kẻ Tử ma
kia, Ông đã bị
bại trận. 4) Rồi Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất tại chỗ ấy. VI. Bình Bát (S.i,112) 1) Trú ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp. 2) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)". 3) Lúc bấy giờ có nhiều bình bát được đặt ra ngoài trời (để phơi cho khô). 4) Rồi Ác ma biến hình thành con bò đực và đi đến các bình bát ấy. 5) Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác: -- Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, con bò đực này sẽ làm bể các bình bát. 6) Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy: -- Này Tỷ-kheo, nó không phải con bò đực. Nó chính là Ác ma muốn đến làm mờ mắt các ông. 7) Và Thế Tôn biết được: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ cho Ác ma: Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, Cái ấy không
phải tôi, Cái ấy không
của tôi, Như vậy đây
ly tham, Ly tham vậy, tâm
an, Mọi kiết sử
siêu thoát, Dầu tìm mọi
xứ sở, Ma quân không
gặp được. 8) Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất tại chỗ ấy. VII. Xứ (S.i,112) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), Đại Lâm, chỗ Trùng Các giảng đường. 2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các vị Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tư tưởng, lóng tai nghe pháp. 3) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ- kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)". 4) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, Ác ma hét lên một tiếng to lớn, khủng khiếp, dễ sợ, như đất bị nứt vỡ. 5) Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác: -- Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, hình như quả đất này bị nứt vỡ. 6) Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy : -- Này Tỷ-kheo không phải đất nứt vỡ. Đó là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông. 7) Rồi Thế Tôn biết được: "Đây là Ác ma", liền nói bài kệ cho Ác ma: Sắc, thanh,
vị và hương, Cùng toàn bộ
xúc, pháp, Là thế vật rùng
rợn, Làm mê loạn
ở đời. Đệ tử bậc
Chánh Giác, Chánh niệm, vượt
khỏi chúng, Vượt thế
lực Ác ma, Như mặt trời
sáng chói. 8) Rồi Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất tại chỗ ấy. VIII. Đoàn Thực (S.i,113) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Magadha, tại làng Bà-la-môn tên là Pancasàlà. 2) Lúc bấy giờ, tại làng Bà-la-môn tên là Pancasàlà, lễ trao đổi tặng vật giữa nam nữ thanh niên đang được xảy ra. 3) Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát đi vào làng Bà-la- môn Pancasàlà để khất thực. 4) Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn gia chủ ở Pancasàlà bị Ác ma xâm nhập và quyết định: "Chớ để Sa-môn Gotama nhận được đồ ăn khất thực". 5) Rồi Thế Tôn đi vào làng Bà-la-môn tên Pancasàlà để khất thực với bình bát rửa sạch như thế nào, cũng đã trở về cùng với bình bát được rửa sạch như vậy. 6) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với Thế Tôn: -- Này Sa-môn, Ngài có nhận được đồ ăn khất thực không? 7) -- Này Ác ma, có phải Ông làm cho Ta không nhận được đồ ăn khất thực? 8) -- Vâng bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đi vào làng Bà-la-môn Pancasàlà một lần thứ hai nữa. Và tôi sẽ làm để Thế Tôn nhận được đồ ăn khất thực (Thế Tôn): Ác ma làm điều
ác, Để tấn công
Như Lai, Này Ác ma, vì
sao, Ông có thể
nghĩ rằng, Điều ác Ông
hại Ta, Sẽ không có
kết quả. Chúng ta sống
sung sướng, Những người
không có gì, Như chư Thiên
Quang Âm, Như chư Thiên
Quang Âm, Có hào quang sáng
chói, Lấy hỷ làm đồ ăn. 9) Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất tại chỗ ấy. IX. Người Nông Phu (S.i,114) 1) Nhân duyên ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp. 2) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo về các vấn đề liên hệ đến Niết-bàn... Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama để làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)." 3) Rồi Ác ma biến hình thành một người nông phu, mang trên vai một cái cày lớn, tay cầm một cây gậy đâm bò, đầu bù tóc rối, mặc đồ vải gai, chân lấm bùn nhơ, đi đến, sau khi đến, nói với Thế Tôn: 4) -- Này Sa-môn, Ngài có thấy con bò đực không? 5) -- Nhưng này Ác ma, con bò đực đối với Ông là gì? 6) -- Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do mắt xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta? Này Sa-môn, tai là của ta. Tiếng là của ta... Này Sa-môn, mũi là của ta, hương là của ta... Này Sa-môn, lưỡi là của ta, vị là của ta... Này Sa-môn, thân là của ta, xúc là của ta... Này Sa-môn, ý là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta không? 7) -- Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. 8) Này Ác ma, tai là của Ông, tiếng là của Ông, thức xứ do tai xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có tai, không có tiếng, không có thức xứ do tai xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. 9) Này Ác ma, mũi là của Ông, hương là của Ông, thức xứ do mũi xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mũi, không có hương, không có thức xứ do mũi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. 10) Này Ác ma, lưỡi là của Ông, vị là của Ông, thức xứ do lưỡi cảm xúc là của ông. Này Ác ma, chỗ nào không có lưỡi, không có vị, không có thức xứ do lưỡi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. Này Ác ma, thân là của Ông, xúc là của Ông, thức xứ do thân xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có thân, không có xúc, không có thức xứ do thân xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. 11) Này Ác ma, ý là của Ông, pháp là của Ông, thức xứ do ý xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có ý, không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. 12) -- Sự vật
được Ngài nói: "Cái này là
của tôi". Và những người
đã nói: "Cái này là
của tôi". Nếu ở đây có
ý, Đối với sự
vật ấy, Như vậy, này
Sa-môn, Ngài không thoát
khỏi ta. (Thế Tôn): 13) Sự vật
được Ông nói: "Cái này
không của tôi". Và những người
đã nói: " Chúng không
phải là tôi". Này Ác ma, như
vậy, Ông có biết
được chăng, Cho đến Ông
không thấy , Con đường
của Ta đi? 14) Rồi Ác ma... liền biến mất tại chỗ ấy. X. Thống Trị (S.i,116) 1) Một thời Thế Tôn ở Kosala, dưới chân núi Tuyết Sơn, tại một am thất nhỏ trong rừng. 2) Trong khi Thế Tôn Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Có thể chăng cai trị mà không giết hại, không để người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp?". 3) Rồi Ác ma, biết được tâm tư Thế Tôn như vậy, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn: -- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp. 4) -- Này Ác ma, Ông thấy gì mà Ông nói với Ta như vậy: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại...,... một cách đúng pháp"? 5) -- Bạch Thế Tôn, bốn như ý túc đã được Thế Tôn tu tập, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành căn cứ địa, kiên trì, chất chứa, khéo áp dụng. Và Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các loài núi trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và ngọn núi có thể trở thành vàng. (Thế Tôn): 6) Dầu cho cả
ngọn núi, Trở thành toàn
vàng ròng, Cho đến hóa
gấp đôi, Cũng không
thỏa mãn được, Tham vọng của
một người. Biết vậy để
hành trì, Ai thấy rõ đau
khổ, Và nguyên nhân
đau khổ, Làm sao người
như vậy, Có khuynh hướng
ái dục? Sau khi biết
sanh y Là ràng buộc
ở đời, Người biết
vậy nên học, Giải trừ mọi buộc ràng. 7) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", sầu khổ, thất vọng, liền biến mất tại
chỗ ấy. III.
Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh) I. Đa Số`(S,i.117) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii 2) Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. 3) Rồi Ác ma biến hình thành một Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến các Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo: -- Chư Đại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Đại đức hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. 4) -- Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối và chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu. 5) Khi nghe nói vậy, Ác ma cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy bỏ đi. 6) Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn: 7) Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Rồi bạch Thế Tôn, một người Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến chúng con; sau khi đến, nói với chúng con như sau: " Chư Đại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong buổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Đại đức, hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối". 8) Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, chúng con nói với Bà la môn ấy: " Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đây càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu". 9) Khi được nghe nói vậy, người Bà-la-môn ấy cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy rồi ra đi. 10) Này các Tỷ-kheo, người ấy không phải là Bà-la-môn, chính là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông. 11) Rồi Thế Tôn biết được ý nghĩa này, ngay khi ấy nói lên bài kệ: Ai thấy rõ
khổ đau, Và nguyên nhân
đau khổ, Làm sao người
như vậy, Có khuynh hướng
các dục? Sau khi biết
sanh y Là ràng buộc
ở đời, Người biết
vậy nên học, Giải trừ
mọi buộc ràng. II. Samiddhi (S.i,119) 1) Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii. 2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. 3) Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Đạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!" 4) Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn, rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung. 5) Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn: 6) Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Đạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!" Khi ấy, bạch Thế Tôn, không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung. 7) Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Đó là Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. 8) Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi. 9) Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Đạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi...,... và hành trì thiện pháp!". Lần thứ hai, Ác ma biết được tư tưởng của Tôn giả Samiddhi...,... khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung. 10) Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: "Đây là Ác ma" liền nói lên bài kệ với Ác ma: Ta với lòng tín
ngưỡng, Bỏ gia đình,
xuất gia, Niệm tuệ ta tăng
trưởng, Tâm tư ta
Thiền định. Dầu Ông tạo
sắc gì, Không làm ta
sợ hãi. 11) Rồi Ác ma biết được: "Tỷ-kheo Samiddhi biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ. III. Godhika (S.i,120) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại Kàlasilà. 3) Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy. 4) Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát. Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy. 5) Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy. 6) Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy. 7) Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy. 8) Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy. 9) Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. 10) Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: "Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem lại con dao". 11) Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn: Ôi, bậc Đại
Anh hùng! Ôi, bậc Đại
Trí tuệ! Ngài chói sáng
hào quang, Thần lực và
danh xưng. Ngài vượt qua
tất cả, Mọi sân hận
hãi hùng. Con chân thành
đảnh lễ, Dưới chân
bậc Pháp nhãn. Ôi, bậc Đại
Anh hùng! Bậc Chinh
phục tử thần! Đệ tử Ngài
muốn chết, Đang suy nghĩ
đến chết. Ôi, bậc Chói
Hào quang! Hãy ngăn chặn
vị ấy. Làm sao, bạch
Thế Tôn, Vị đệ tử
của Ngài, Hoan hỷ trong
giáo lý, Lại không
chứng hữu học, Còn muốn đoạt
mạng sống? Ôi, danh vọng
thế gian! 12) Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao. 13) Rồi Thế Tôn được biết: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ với Ác ma: Như vậy là
sở hành, Của bậc Đại
Anh hùng, Không còn nuôi
ước vọng Tạo thêm dòng
sinh mạng, Đoạn tận ái,
ái căn, Godhika nhập
diệt. 14) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con dao. 15) Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. 16) Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại). 17) Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Đông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới. 18) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Đông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không? Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy. 19) Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: "Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?". Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả. 20) Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ: Trên, dưới và
bề ngang, Bốn phương, các
phương giữa, Ta tìm, nhưng
không gặp, Godhika đi đâu.
(Thế Tôn): 21) Vị Anh hùng
kiên chí, Thường Thiền
lạc, Thiền tư, Ngày đêm đầy
nhiệt tình, Nhưng sự
sống, không tham, Chiến thắng
quân thần chết, Tái sanh không
đi đến, Chinh phục ái,
ái căn, Godhika nhập
diệt. 22) Còn kẻ
bị sầu muộn, Từ nách rơi
huyền cầm, Dạ-xoa bị
thất vọng, Liền biến
mất tại chỗ. IV. Bẩy Năm (S.i,122)
|