| Tiếng Việt |
|
Kinh Điển Phật Giáo |
| ...... ... | . |
Phần
10 Chương
X : Tương Ưng Dạ Xoa I. Indaka (S.i,206) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), núi Indakuuta, tại trú xứ của Dạ-xoa Indaka. 2) Rồi Dạ-xoa Indaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn: Chư Phật, Ngài
dạy rằng, Sắc không
phải sinh mạng, Vậy sao sinh
mạng này, Lại có trong
thân này? Từ đâu xương
thịt đến, Trong thân thể
hiện tại? Làm sao sinh
mạng này, Gá dính trong
thai tạng? (Thế Tôn): 3) Trước tiên,
Kalala, Rồi từ Kalala,
Abbuda có mặt.
Rồi từ Abbuda,
Pesii (thịt
mềm) được sanh ra. Pesii sinh Ghana
(thịt cứng), Rồi đến Pasàkha
(chi tiết), Tóc, lông và các
móng, Tiếp tục được
sanh ra. Những gì người
mẹ ăn, Đồ ăn, đồ
uống nào, Con người
trong bụng mẹ, Ở đấy,
lấy nuôi dưỡng. II. Sakka: (S.i,206) 1) Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gijjhakuuta (Linh Thứu). 2) Rồi Dạ-xoa tên Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn: Thật không
tốt lành gì, Một Sa-môn như
Ngài, Đã đoạn
mọi triền phược, Đã sống chơn
giải thoát, Lại tiếp
tục giảng dạy, Những kẻ khác
(tu học). (Thế Tôn): 3) Này Dạ-xoa
Sakka, Dầu vì lý do
gì, Loài Người
sống chung nhau, Không một lý
do nào, Xứng đáng
bậc trí tuệ, Với lòng từ
lân mẫn, Nếu với tâm
tín thành, Giảng dạy
những người khác, Do vậy không
hệ lụy, Vì lòng từ lân
mẫn. III. Suciloma: (S.i,207) 1) Một thời Thế Tôn ở Gayà, trên hòn đá Tankita tại trú xứ của Dạ-xoa Suciloma. 2) Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara và Dạ-xoa Suciloma đi ngang qua, không xa Thế Tôn bao nhiêu. 3) Rồi Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Suciloma: - Đây là một Sa-môn. 4) Đây không phải Sa-môn. Đây là Sa-môn giả. Hay ít nhất cho đến khi ta biết được Sa-môn hay Sa-môn giả. 5) Rồi Dạ-xoa Suciloma đi đến Thế Tôn, sau khi đến liền nghiêng thân về phía Thế Tôn. 6) Thế Tôn liền tránh né thân của mình. 7)
Dạ-xoa Suciloma nói với Thế Tôn: -Có phải Sa-môn sợ ta? 8) Này Hiền giả, Ta không sợ Ông. Nhưng xúc chạm với Ông là điều đáng ghét (pàpaka). 9) Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu. Nếu Ông không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia sông Hằng. 10) Này Hiền giả, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm bể tim Ta, hay nắm lấy chân Ta, quăng Ta qua bờ bên kia. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn. (Dạ-xoa): 11) Tham dục và
sân hận, Do nhân gì sanh
khởi? Bất mãn và
thỏa mãn, Sợ hãi từ đâu
sanh? Từ đâu được
khởi lên, Các tư tưởng,
tư duy, Như quạ được
bầy trẻ, Thả bay rồi kéo
lại? (Thế Tôn): 12) Tham dục và
sân hận, Do nhân này
sanh khởi, Bất mãn và
thỏa mãn, Sợ hãi từ đây
sanh. Từ đây được
khởi lên, Các tư tưởng,
tư duy, Như quạ được
bầy trẻ, Thả bay rồi kéo
lại. Chính do tham ái
sanh, Chính do tự ngã
sanh. Như cây nigroda
(cây bàng), Do từ thân cây
sanh. Phàm phu bám ác
dục, Như cây leo
khắp rừng. Những ai hiểu
biết được, Do nhân ấy
sanh khởi, Họ diệt trừ
nhân ấy. Hãy nghe, này
Dạ-xoa, Họ vượt
bộc lưu này, Bộc lưu thật
khó vượt, Từ trước chưa
vượt qua, Không còn
phải tái sanh. IV. Manibhadda (S.i,208) 1) Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Magadha, tại điện thờ Manimàlaka, tại một trú xứ của Dạ-xoa Manibhadda. 2) Rồi Dạ-xoa Manibhadda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn: Lành thay, thường
chánh niệm, Nhờ niệm,
lạc tăng trưởng. Có niệm, mai
đẹp hơn, Hận thù được
giải thoát. (Thế Tôn): 3) Lành thay, thường
chánh niệm, Nhờ niệm,
lạc tăng trưởng, Có niệm, mai
đẹp hơn, Hận thù chưa
giải thoát. Với ai trọn
ngày đêm, Tâm ý lạc,
bất hại, Từ tâm mọi
hữu tình, Vị ấy không
thù hận. V. Sanu (S.i,209) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. 2) Lúc bấy giờ, Sànu, con một nữ cư sĩ bị Dạ-xoa ám ảnh. 3) Nữ cư sĩ ấy than khóc, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này: Con ta là La-hán,
Đối với ta là
vậy, Và chính ta
được nghe, Vị La-hán nói
vậy. Nay ta thấy Sànu,
Bị Dạ-xoa ám
ảnh. Ngày mười
bốn, mười lăm, Và ngày tám
nửa tháng, Cả ngày lễ
đặc biệt, Khéo tu tám
trai giới, Tuân trì lễ
Bố-tát. Và chính ta
được nghe, Vị La-hán nói
vậy, Nay ta thấy Sànu,
Bị Dạ-xoa ám
ảnh. Ngày mười
bốn, mười lăm, Và ngày tám
nửa tháng, Cả ngày lễ
đặc biệt, Khéo tu tám
trai giới, Tuân trì lễ
Bố-tát. Những ai sống
Phạm hạnh, Dạ-xoa không
ám ảnh, Và chính ta
được nghe, Vị La-hán nói
vậy. Người nói
với Sànu, Có trí và sáng
suốt, Đây là lời
Dạ-xoa, Chớ có làm điều
ác, Công khai hay bí
mật. Nếu người làm
điều ác, Sẽ làm hay đang
làm, Ông không thoát
khổ đau, Dầu có đứng
lên chạy, Chạy một
mạch, chạy dài. (Sànu được
khỏi ám ảnh): 4) Này mẹ, người
ta khóc, Là khóc cho người
chết, Hay khóc cho người
sống, Nhưng không
được thấy mặt? Này mẹ, chúng
thấy con, Hiện có mặt
đang sống. Vậy sao mẹ khóc
con, Này người
mẹ (thân yêu)? (Bà mẹ): 5) Người ta khóc
cho con, Là khóc cho con
chết, Hay khóc cho con
sống, Nhưng không
được thấy mặt. Ai đã bỏ
dục vọng, Lại trở lui
đời này, Này con, người
ta khóc, Là khóc cho người
ấy, Vì người ấy
được xem, Còn sống cũng
như chết. Nay con được
kéo ra, Khỏi than
hừng đỏ rực, Con còn muốn rơi
vào, Đống than
hồng ấy chăng? Nay con được
thoát ra, Khỏi địa
ngục (đau khổ), Con còn muốn rơi
vào, Cõi địa
ngục ấy chăng? Hãy dong ruỗi
đời con, Ta chúc con
hạnh phúc, Hãy sống như
thế nào, Không làm ai
bực phiền. Đồ vật thoát
lửa cháy, Con muốn đốt
lại chăng? VI.
Piyankara (S.i,209) 1) Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. 2) Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha thức dậy khi đêm vừa mới sáng, đang tụng đọc pháp cú. 3) Một nữ Dạ-xoa, mẹ của Piyankara dỗ cho con nín như sau: Này Piyankara, Chớ có sanh
tiếng động, Vị Tỷ-kheo đang
tụng, Những lời
về pháp cú. Nếu chúng ta
biết được, Học được pháp
cú này, Rồi như pháp
hành trì, Chúng ta được
lợi ích. Không sát hại
sanh vật, Không cố ý nói
láo, Tự học tập
giới luật, Chúng ta thoát
ngạ quỷ. VII. Punabbasu (S.i,209) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. 2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp. 3) Rồi một nữ Dạ-xoa, mẹ Punabbasu dỗ con nín như sau: Hãy gìn giữ
im lặng, Này Uttarika! Hãy gìn giữ
im lặng, Này Punabbasu! Để mẹ được
nghe pháp. Đạo Sư, tối
thượng Phật, Thế Tôn
giảng Niết-bàn, Thoát ly mọi
triền phược, Mẹ đối với
pháp ấy, Thật cực kỳ
ái lạc. Đời ái lạc
con mình, Đời ái lạc
chồng mình, Nhưng đối
với đạo pháp, Mẹ ái lạc
nhiều hơn. Con hay chồng
dầu thân, Không cứu ta
thoát khổ, Không như nghe
diệu pháp, Chúng sanh được
thoát khổ. Trong đau khổ
đời sau, Dính liền già
và chết, Chánh pháp Ngài
giác ngộ, Giải thoát
khỏi già chết. Mẹ muốn nghe
pháp ấy Hãy nín đi con
ơi! Này Punabbasu. (Punabbasu): 4) Thưa mẹ,
con không nói, Uttarà nín
lặng. Mẹ hãy lắng
nghe pháp, Nghe pháp được
an lạc. Vì không biết
diệu pháp, Chúng ta trôi
sanh tử. Giữa Nhân, Thiên
mù quáng, Ngài đem cho ánh
sáng, Giác ngộ, thân
tối hậu, Bậc Pháp nhãn
thuyết pháp. (Bà mẹ): 5) Hữu trí
thay, con ta! Con ta sanh ẵm
ngực. Nay con ta ái
lạc, Tịnh pháp Vô
thượng Phật. Này Punabbasu! Hãy sống chơn
an lạc, Nay ta được
sống lại, Thấy được
chơn Thánh đế, Này con Uttara! Hãy nghe theo
lời ta. VIII. Sudatta. (S.i,210) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại rừng Siita. 2) Lúc bấy giờ cư sĩ Anàthapindika (Cấp Cô Độc) đã đến Ràjagaha để làm một vài công việc. 3) Cư sĩ Anàthapindika được nghe đức Phật đã ra đời và muốn đến yết kiến Thế Tôn. 4) Rồi cư sĩ Anàthapindika suy nghĩ: "Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Ngày mai mới phải thời ta đến yết kiến Thế Tôn". Như vậy với ý nghĩ đi yết kiến đức Phật, ông Anàthapindika nằm ngủ. Trong đêm, ông ấy thức dậy ba lần, tưởng rằng trời đã sáng. 5) Rồi cư sĩ Anàthapindika đi đến cửa Siivatthika (nghĩa địa), và có những phi nhân mở cửa. 6) Và khi ông ra khỏi thành phố, ánh sáng biến mất và bóng tối hiện ra. Ông sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược và muốn đi trở về. 7) Rồi Dạ-xoa Siivaka ẩn hình, lên tiếng như sau: Trăm voi và trăm
ngựa, Trăm xe do
ngựa kéo, Cả trăm ngàn
thiếu nữ, Được trang
sức bông tai, Không bằng
phần mười sáu, Một bước đi
tới này. Cư sĩ, hãy
tiến tới! Cư sĩ, hãy
tiến tới! Tiến tới,
tốt đẹp hơn, Chớ có lui,
thối bước! 8) Rồi với Anàthapindika, tối tăm biến mất, ánh sáng hiện ra. Và sợ hãi, hốt hoảng, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được dịu hẳn xuống. 9) Lần thứ hai... (như trên)... 10) Lần thứ ba, với Anàthapindika, ánh sáng biến mất, bóng tối hiện ra. Và sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược khởi lên. Và Anàthapindika muốn trở lui. Lần thứ ba, Dạ-xoa Siivaka ẩn hình lên tiếng như sau : Trăm voi và trăm
ngựa, Trăm xe do
ngựa kéo, Cả trăm ngàn
thiếu nữ, Được trang
sức bông tai, Không bằng
phần mười sáu, Một bước đi
tới này. Cư sĩ, hãy
tiến tới! Cư sĩ, hãy
tiến tới! Tiến tới,
tốt đẹp hơn, Chớ có lui,
thối bước! 11) Rồi với Anàthapindika, bóng tối biến mất, ánh sáng hiện ra và sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được dịu bớt. 12) Rồi Anàthapindika đi đến rừng Siita, đi đến Thế Tôn. 13) Lúc bấy giờ Thế Tôn thức dậy vào lúc đêm vừa mãn và đang đi kinh hành ngoài trời. 14) Thế Tôn thấy Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy, từ chỗ kinh hành đi xuống, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với cư sĩ Anàthapindika: - Hãy đến đây, Sudatta! 15) Rồi cư sĩ Anàthapindika nghĩ: "Thế Tôn kêu tên ta", rồi cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn: - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngủ có an lạc chăng? (Thế Tôn): Bà-la-môn
tịch tịnh, Luôn luôn
sống an lạc, Không đèo
bồng dục vọng, Thanh lương, không
sanh y, Mọi ái trước
đoạn diệt, Tâm khổ não
điều phục, Tịch tịnh,
sống an lạc, Tâm tư đạt hòa
bình.
IX. Sukkà (S.i,212) 1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Sukkà, có đại chúng đoanh vây, đang thuyết pháp. 3) Rồi một Dạ-xoa có lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà, đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã tư này đến ngã tư khác ở Ràjagaha, và ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này: Này người Vương
Xá thành, Các Người đã
làm gì, Mà nay lại
nằm dài, Như say vì rượu
ngọt. Không hầu hạ
Sukkà, Đang thuyết pháp
bất tử? Pháp ấy không
trở lui, Cam lồ không lưng
vơi. Ta nghĩ người
trí tuệ Uống nước
(cam lồ) ấy, Chẳng khác
một đám mưa, Đối với kẻ
lữ hành. X. Sukkà (S.i,212) 1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Lúc bấy giờ, một người cư sĩ đang cúng dường đồ ăn cho Tỷ-kheo-ni Sukkà. 3) Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã ba này ba khác ở Ràjagaha, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này: Cư sĩ có trí
này, Chắc hưởng
nhiều công đức, Đã cúng dường
món ăn, Dâng cúng lên
Sukkà, Một vị đã
giải thoát, Tất cả mọi
triền phược. XI. Cirà Hay Virà(S.i,215) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Ràagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. 2) Lúc bấy giờ, một cư sĩ dâng y cúng dường Tỷ-kheo-ni Cirà. 3) Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Cirà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác tại thành Vương Xá, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này: Cư sĩ có trí
này, Chắc hưởng
nhiều công đức, Đã cúng dường
tấm y, Dâng cúng lên
Cirà, Một vị đã
giải thoát, Tất cả mọi
khổ ách. XII. Alava (S.i,218) 1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Àlavi, tại trú xứ của Dạ-xoa Alavakka. 2) Rồi Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn: - Này Sa-môn, hãy đi ra! - Lành thay, Hiền giả. Thế Tôn nói và đi ra. - Này Sa-môn, hãy đi vào. - Lành thay, Hiền giả. Thế Tôn nói và đi vào. 3) Lần thứ hai, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn: - Này Sa-môn, hãy đi ra. - Lành thay, Hiền giả. Thế Tôn nói và đi ra. - Này Sa-môn, hãy đi vào. - Lành thay, Hiền giả. Thế Tôn nói và đi vào. 4) Lần thứ ba, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn: - Này Sa-môn, hãy đi ra. - Lành thay, Hiền giả. Thế Tôn nói và đi ra. - Này Sa-môn, hãy đi vào. - Lành thay, Hiền giả. Thế Tôn nói và đi vào. 5) Lần thứ tư, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn: - Này Sa-môn, hãy đi ra. 6) Này Hiền giả, Ta không đi ra. Hãy làm gì Ông nghĩ là phải làm. 7) Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu hỏi. Nếu Ông không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia sông Hằng. 8) Này Hiền giả, Ta không thấy một ai, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm bể tim Ta hay nắm lấy chân, quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn. (Dạ-xoa): 9) Cái gì đối
người đời, Là tài sản
tối thượng? Cái gì khéo hành
trì, Đem lại chơn
an lạc? Cái gì giữa các
vị, Là vị ngọt
tối thượng? Phải sống như
thế nào, Được gọi sống tối thượng? (Thế Tôn): 10) Lòng tin đối
người đời, Là tài sản
tối thượng. Chánh pháp khéo
hành trì, Đem lại chơn
an lạc. Chân lý giữa
các vị, Là vị ngọt
tối thượng. Phải sống
với trí tuệ, Được gọi sống tối thượng. (Dạ-xoa): 11) Làm sao vượt
bộc lưu? Làm sao vượt
biển lớn? Làm sao siêu
khổ não? Làm sao được thanh tịnh? (Thế Tôn): 12) Với tín, vượt
bộc lưu. Không phóng
dật, vượt biển. Tinh tấn, siêu
khổ não. Với Trí, được thanh tịnh. (Dạ-xoa): 13) Làm sao được
trí tuệ? Làm sao được
tài sản? Làm sao đạt
danh xưng? Làm sao kết
bạn hữu? Đời này qua
đời khác, Làm sao không sầu khổ? (Thế Tôn): 14) Ai tin tưởng
Chánh pháp Của bậc
A-la-hán, Pháp ấy
khiến đạt được, Niết-bàn (chơn
an lạc), Khéo học, không
phóng dật, Minh nhãn khéo
phân biệt, Nhờ hành trì
như vậy, Vị ấy được
trí tuệ. Làm gì khéo thích
hợp, Gánh vác các
trách nhiệm, Phấn chấn, thích
hoạt động, Như vậy được
tài sản, Chơn thật đạt
danh xưng, Bố thí kết
bạn hữu, Đời này qua
đời khác, Như vậy không
sầu khổ. Tín nam gia
chủ nào, Tìm cầu bốn
pháp này, Chơn thực và
chế ngự, Kiên trì và
xả thí, Vị ấy sau khi
chết, Không còn
phải sầu khổ. Đời này qua
đời khác, Sau chết, không
sầu khổ. Ta muốn Ông đến
hỏi, Sa-môn, Bà-la-môn,
Có những pháp
nào khác, Tốt hơn bốn
pháp này: Chơn thực và
chế ngự, Xả thí và kham nhẫn. (Dạ-xoa): 15) Làm sao nay
ta hỏi, Sa-môn, Bà-la-môn,
Khi nay ta được
biết, Nguyên nhân
của đời sau. Phật đến
Alavi, Thật lợi ích
cho ta. Nay ta được
biết rõ, Cho gì được
quả lớn. Nên ta sẽ bộ
hành, Làng này qua làng
khác, Thành này qua
thành khác, Đảnh lễ
Phật Chánh Giác, Cùng đảnh
lễ Chánh pháp,
|
Biên tập nội
dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng
góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com
Cập nhật ngày:
01-01-2002