- CHƯƠNG BỐN
- BỐN PHÁP
XIX. PHẨM CHIẾN SĨ
(I) (181) NGƯỜI CHIẾN SĨ
1.- Thành tựu bốn chi phần này,
này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở
hữu của vua, là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
chiến sĩ thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng,
và đâm thủng được vật lớn.
Thành tựu bốn chi phần này, này
các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu
của vua, là biểu tượng của vua.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
thành tựu bốn pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được
tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là
ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm
thủng được vật lớn.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
là người có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn
Patimokkha, có uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp
nhận và học tập các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
thiện xảo về xạ trình.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo bắn xa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
phàm sắc gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô
hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật
với chánh trí tuệ rằng : "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm có cảm thọ gì thuộc quá khứ,
vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần,
tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng : "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự
ngã của tôi".
Phàm có tưởng gì thuộc quá khứ,
vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần,
tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng : "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự
ngã của tôi".
Phàm có các hành gì thuộc quá khứ,
vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần,
tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng : "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự
ngã của tôi".
Phàm có thức gì thuộc quá khứ, vị
lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất
cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng : "Cái này
không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự
ngã của tôi".
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
như thật quán tri : "Đây là khổ", như thật quán tri: "Đây
là khổ tập"; như thật quán tri : "Đây là khổ diệt", như thật
quán tri "Đây là con đường đưa đến khổ diệt". Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng.
6. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào
là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đâm
thủng vật to lớn.
Đầy đủ bốn chi phần này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng,
xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước
vô thượng ở đời.
(II) (182) AN TOÀN
1.- Này các Tỷ-kheo, không một
Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được
sự an toàn đối với bốn pháp. Thế nào là bốn ?
Bản tánh bị già, mong rằng không
già, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân … đối với pháp này.
2. Bản tánh bị bệnh, mong rằng
không bệnh, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân … đối với pháp
này.
3. Bản tánh bị chết, mong rằng
không bị chết, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân … đối với pháp
này.
4. Khổ quả của những ác nghiệp
ấy (những nghiệp) tạp nhiễm, đưa đến tái sanh, đưa lại phiền muộn,
đem lại khổ quả dị thục sanh, già, chết trong tương lai, kết quả của
những nghiện ngập ấy mong rằng không có hiện hữu. không một Sa-môn,
Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự
an toàn đối với bốn pháp này.
Này các Tỷ-kheo, không một Sa-môn,
Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự
an toàn đối với bốn pháp này.
(III) (183) ĐIỀU ĐƯỢC NGHE
1. Một thời, Thế Tôn trú ở
Ràjagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi
Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói
lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn
Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn :
- Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như
sau, thấy như sau : "Khi người nào nói lên điều mình thấy : "Tôi
thấy như vậy". Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào
nói lên điều mình nghe: "Tôi nghe như vậy". Do vậy, người ấy không
có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình cảm giác: "Tôi cảm
giác như vậy". Do vậy, người ấy không có lỗi gì. Khi người nào
nói lên điều mình trí thức : "Tôi tri thức như vậy". Do vậy,
người ấy không có lỗi gì".
2. - Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng
: "Tất cả điều được thấy cần phải nói ra". Này Bà-la-môn,
Ta không nói rằng : "Tất cả điều được thấy không nên nói
ra". Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng : "Tất cả điều được nghe
nên nói ra". Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng : "Tất cả điều
được nghe không nên nói ra". Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng : "Tất
cả điều được cảm giác nên nói ra". Ta không nói rằng : "Tất
cả điều được cảm giác không nên nói ra". Ta không nói rằng :
"Tất cả điều được tri thức nên nói ra". Ta không nói rằng :
"Tất cả điều được tri thức không nên nói ra".
3. Này Bà-la-môn, phàm nói lên điều
thấy gì, các pháp ác bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm,
Ta nói rằng điều thấy như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm
nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng
trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra. Này Bà-la-môn, phàm
nói ra điều nghe gì … phàm nói ra điều cảm giác gì … phàm nói ra điều
thức tri gì … các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm,
Ta nói rằng điều thức tri như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn,
phàm nói lên điều thức tri gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp
thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thức tri như vậy nên nói ra.
Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại
thần xứ Magadha, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng
dậy rồi ra đi.
(IV) (184) KHÔNG SỢ HÃI
1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến
Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm
… Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn :
- Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như
sau, tôi thấy như sau : "Không có một ai bản tánh bị chết mà không sợ
hãi, không rơi vào run sợ, khi nghĩ đến chết".
- Này Bà-la-môn, có người bản tánh
bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết. Nhưng này
Bà-la-môn, có người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run
sợ khi nghĩ đến chết.
2. Và này Bà-la-môn, thế nào là người
bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết ?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người
không ly tham đối với các dục, không ly ham muốn, không ly luyến ái,
không ly khát ái, không ly nhiệt não, không ly tham ái. Rồi một chứng bệnh
trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh
trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau : "Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ
ta", hay "Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái". Người ấy sầu muộn,
than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là
người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
3. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây
có người không ly tham đối với thân … Rồi một chứng bệnh trầm trọng
khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng
ấy, suy nghĩ như sau : "Thật sự thân khả ái sẽ bỏ ta", hay
"Ta sẽ từ bỏ thân khả ái". Người ấy sầu muộn, than vãn,
khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản
tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
4. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây
có hạng người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở
kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp. Rồi
một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm
thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau : "Thật sự ta không
làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều
ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp". Tại sanh thú nào mà những
người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ
hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp, đi đến sau
khi chết, ta đi đến sanh thú ấy. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc
lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh
bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
5. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây
có hạng người nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu
pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người
ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau : "Thật
sự ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp".
Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh.
Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ
khi nghĩ đến chết.
6. Và này Bà-la-môn, thế nào là người
bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết
?
Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người
ly tham đối với các dục, ly ham muốn, ly luyến ái … Rồi một chứng bệnh
trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh
trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau : "Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ
ta", hay "Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái". Người ấy không sầu
muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất
tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, không sợ hãi,
không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
7. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây
có người không ly tham đối với thân, ly ham muốn, ly luyến ái … Rồi một
chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ
chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau : "Thật sự thân khả ái
sẽ bỏ ta", hay "Ta sẽ từ bỏ thân khả ái". Người ấy không
sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào
bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, không sợ
hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
8. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây
có hạng người không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều
phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Rồi
một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm
thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau : "không làm ác,
không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm
điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào mà những người
không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm
điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi đi đến sau khi chết,
ta đi đến sanh thú ấy". Người ấy không sầu muộn, không than vãn,
không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn,
đây là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ
khi nghĩ đến chết.
9. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây
có hạng người không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối
với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy.
Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau :
"Thật sự ta không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối
với diệu pháp". Người ấy không có sầu muộn, không có than vãn,
không có khóc lóc, không có đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này
Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào
run sợ khi nghĩ đến chết.
Này Bà-la-môn, có bốn hạng người
bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama … Mong Tôn giả Gotama chấp nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho
đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng !
- (V) (185) CÁC SỰ THẬT
BÀ-LA-MÔN
1. Một thời, Thế Tôn trú ở
Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, nhiều vị du
sĩ có danh tiếng, có danh tiếng sống ở khu vườn của các du sĩ trên bờ
sông Sappini như Annabhàra, Varadhara, Sakuludàyi, và những vị du sĩ có danh tiếng,
có danh tiếng khác.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ
Thiền Tịnh đứng dậy, đi đến khu vườn của các du sĩ trên bờ sông
Sappini. Lúc bấy giờ, giữa các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tập họp,
câu chuyện này được khởi lên : "Đây là những sự thật Bà-la-môn,
đây là những sự thật Bà-la-môn".
2. Rồi Thế Tôn đi đến các du sĩ
ấy, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xong, Thế
Tôn nói với các du sĩ ấy :
- Nay câu chuyện gì được khởi lên,
này các du sĩ, khi các Ông đang ngồi họp ở đây? Câu chuyện gì chưa được
nói xong giữa các Ông ?
- Ở đây, thưa Tôn giả Gotama,
chúng tôi đang ngồi họp, câu chuyện sau này khởi lên giữa chúng tôi :
"Đây là những sự thật Bà-la-môn, đây là những sự thật
Bà-la-môn".
3.- Bốn sự thật này, này các du sĩ,
sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã được ta tuyên bố lên. Thế
nào là bốn ?
- Ở đây, này các du sĩ, Bà-la-môn
nói như sau : "Tất cả loài hữu tình không được làm hại". Người
Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy
không nghĩ đến "Sa-môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn",
không nghĩ đến: "Ta hơn (các người khác)", không nghĩ đến
:"Ta bằng (các người khác)", không nghĩ đến : "Ta là hạ liệt".
Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người ấy thực hành
lòng thương tưởng, lòng từ mẫn đối với các loài hữu tình.
4. Lại nữa, này các du sĩ, Bà-la-môn
nói như sau : "Mọi dục là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại".
Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị
ấy không nghĩ đến "Sa-môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn",
không nghĩ đến: "Ta hơn (các người khác)", không nghĩ đến
:"Ta bằng (các người khác)", không nghĩ đến : "Ta là hạ liệt".
Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người ấy thực hành
nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các dục.
5. Lại nữa, này các du sĩ, Bà-la-môn
nói như sau : "Tất cả hữu là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại".
Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị
ấy không nghĩ đến "Sa-môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn",
không nghĩ đến: "Ta hơn (các người khác)", không nghĩ đến
:"Ta bằng (các người khác)", không nghĩ đến : "Ta là hạ liệt".
Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người ấy thực hiện
nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hữu.
6. Lại nữa, này các du sĩ, người
Bà-la-môn nói như sau : "Ta không là bất cứ ai, bất cứ thuộc ai, bất
cứ là gì. Trong ấy, không có cái gì được gọi là của ta, bất cứ ở
đâu, bất cứ là gì". Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật,
không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa-môn", không nghĩ
đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến: "Ta hơn (các người khác)",
không nghĩ đến :"Ta bằng (các người khác)", không nghĩ đến :
"Ta là hạ liệt". Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy,
người ấy thực hành con đường không có sự vật gì.
Này các du sĩ, có bốn sự thật
Bà-la-môn này, Ta đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên bố
lên.
(VI) (186) CON ĐƯỜNG SAI LẠC
1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
- Bạch Thế Tôn, thế giới do cái
gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần
phục của cái gì được khởi lên ?
- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo !
Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện
tài, hiền thiện là câu hỏi ! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau :
"Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì
được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên
?"
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Này Tỷ-kheo, thế giới do tâm hướng
dẫn. Thế giới do tâm được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của tâm
được khởi lên.
2. - Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ
lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác :
- Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc
nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến
như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp ?
- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo !
Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện
tài, hiền thiện là câu hỏi ! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau:
"Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn,
được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một
bậc nghe nhiều, trì pháp ?"
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Nhiều, này Tỷ-kheo, là pháp ta
thuyết giảng : Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như
thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Này Tỷ-kheo, nếu ai
hiểu nghĩa một bài kệ có bốn câu, hiểu pháp và thực hành pháp tùy
pháp, người ấy được gọi là vị nghe nhiều, trì pháp.
3. - Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo sau khi hoan hỷ … lại hỏi
thêm câu nữa :
- Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập
(quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được
nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc
có nghe với trí tuệ thể nhập ?
- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo,
hiền thiện … hiền thiện là câu hỏi ! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi
như sau: "Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có
nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy.
Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ
thể nhập ?"
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
được nghe : "Đây là khổ", thể nhập và thấy ý nghĩa với trí
tuệ. Được nghe : "Đây là khổ tập", thể nhập và thấy ý nghĩa
với trí tuệ. Được nghe : "Đây là khổ diệt", thể nhập và thấy
ý nghĩa với trí tuệ. Được nghe : "Đây là con đường đi đến khổ
diệt", thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là vị có nghe với trí tuệ thể nhập.
4.- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ
lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác :
- Bậc Hiền trí, Đại tuệ. Bậc
Hiền trí, Đại tuệ, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến
như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi là Bậc Hiền trí, Đại tuệ ?
- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo !
Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện
tài, hiền thiện là câu hỏi ! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau:
"Bậc Hiền trí, Đại tuệ. Bậc Hiền trí, Đại tuệ, bạch Thế Tôn,
được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi
là Bậc Hiền trí, Đại tuệ ?"
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền
trí, Đại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại
người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời
suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như
vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Đại tuệ.
(VII) (187) VASSAKÀRA
1. Một thời, Thế Tôn trú ở
Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi
Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói
lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn
Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn :
- Thưa Tôn giả Gotama, bậc không phải
chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân : "VỊ này
không phải là bậc chân nhân" ?
- Không có trường hợp này, này
Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể
biết một người không phải chân nhân : "VỊ này không phải là bậc
chân nhân".
2.- Thưa Tôn giả Gotama, bậc không
phải chân nhân có thể biết bậc chân nhân là: "Vị này là bậc chân
nhân" ?
- Không có trường hợp này, này
Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể
biết một người chân nhân : "Vị này là bậc chân nhân".
3.- Thưa Tôn giả Gotama, bậc chân
nhân có thể biết một bậc chân nhân : "Vị này là bậc chân
nhân" ?
- Có trường hợp, này Bà-la-môn,
có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người phải chân
nhân : "Vị này là bậc chân nhân".
4. - Nhưng thưa Tôn giả Gotama, có
trường hợp một người chân nhân biết một người không phải là chân
nhân : "Vị này không phải là bậc chân nhân" ?
- Có trường hợp, này Bà-la-môn,
có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người không phải
là chân nhân : "Vị này không phải là bậc chân nhân".
5. - Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama, thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật khéo là lời nói này của
Tôn giả Gotama : "Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ
hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người không
phải chân nhân : "Vị này không phải là bậc chân nhân". Không có
trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không
phải chân nhân có thể biết một người chân nhân : "Vị này là bậc
chân nhân". Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội
để một người không phải chân nhân có thể biết một người chân nhân
: "Vị này là bậc chân nhân". Có trường hợp, này Bà-la-môn, có
cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người phải chân
nhân : "Vị này là bậc chân nhân". Có trường hợp, này
Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người
không phải là chân nhân: "Vị này không phải là bậc chân nhân".
6. Một thời, thưa Tôn giả Gotama,
hội chúng của Bà-la-môn Todeyya đang nói lên những lời nhiếc mắng người
khác như sau : "Ngu si là vua Eleyya, đã quá hoan hỷ với Sa-môn
Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với
Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay,
đối xử thân thiện. Lại nữa, những tập đoàn này của vua Eleyya là ngu
si, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa. Những người này
đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ
liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi
đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện".
- Này Bà-la-môn, Ông có thấy như
thế nào Bà-la-môn Todeyya dẫn dắt chúng bằng cách dắt dẫn này :
"Các vị nghĩ thế nào, hiền trí là vua Eleyya ? Giữa những người có
minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có
minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, có phải
vua Eleyya được xem là vị có minh kiến thù thắng ?"
- Thưa vâng, Tôn giả ! Hiền trí
là vua Eleyya. Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề
tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần
được giải thích, vua Eleyya được xem là vị có minh kiến thù thắng. Vì
rằng Sa-môn Ràmaputta còn hiền trí hơn sự hiền trí, còn có minh kiến
thù thắng hơn sự minh kiến thù thắng của vua Eleyya, giữa những người
có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có
minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích; do vậy vua
Eleyya đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức
hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ
ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện.
- Các Tôn giả nghĩ thế nào
"Hiền trí hiền trí là tập đoàn của vua Eleyya, như Yamaka, Moggalla,
Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa không ? Giữa những người có minh kiến giải
quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải
quyết những vấn đề cần được giải thích, có phải tập đoàn của
vua Eleyya được xem là những bậc có minh kiến thù thắng ?
- Thưa vâng, Tôn giả ! Hiền trí
là tập đoàn của vua Eleyya, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba,
Aggivessa. Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề
tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần
được giải thích, tập đoàn của vua Eleyya được xem là những bậc có
minh kiến thù thắng. Vì rằng Sa-môn Ràmaputta còn hiền trí hơn sự hiền
trí, còn có minh kiến thù thắng hơn sự minh kiến thù thắng của tập đoàn
vua Eleyya, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề
tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần
được giải thích; do vậy tập đoàn của vua Eleyya đã quá hoan hỷ với
Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với
Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay,
đối xử thân thiện.
7. - Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama, thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật khéo là lời nói này của
Tôn giả Gotama : "Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ
hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người không
phải chân nhân : "Vị này không phải là bậc chân nhân". Không có
trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không
phải chân nhân có thể biết một người chân nhân : "Vị này là bậc
chân nhân". Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội
để một người không phải chân nhân có thể biết một người chân nhân
: "Vị này là bậc chân nhân". Có trường hợp, này Bà-la-môn, có
cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người phải chân
nhân : "Vị này là bậc chân nhân". Có trường hợp, này
Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người
không phải là chân nhân: "Vị này không phải là bậc chân nhân".
Thưa Tôn giả Gotama, nay chúng tôi
phải đi, chúng tôi có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.
- Này Bà-la-môn, Ông hãy làm những
gì mà Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại
thần xứ Magadha, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng
dậy rồi ra đi.
(VIII) (188) UPAKA
1. Một thời, Thế Tôn trú ở
Ràjagaha, tại Gijjhakùta. Rồi Upaka Mandikàputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Upaka
Mandikàputta bạch Thế Tôn :
- Bạch Thế Tôn, con nói như sau,
con thấy như sau : "Ai bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục
như vậy, người ấy về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường
của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, người ấy đáng
bị quở trách, đáng bị phạm tội".
- Này Upaka, ai bắt đầu mắng nhiếc
người khác và tiếp tục như vậy, người ấy về mọi phương diện không
thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường
của mình, người ấy đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội ! Này
Upaka, Ông bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, Ông về
mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể
bênh vực lập trường của mình, Ông đáng bị quở trách, đáng bị phạm
tội !
2. - Ví như, bạch Thế Tôn, một người
bắt con vật của mình săn với một bẫy sập lớn, khi con vật thò đầu
ra. Cũng vậy, con bị Thế Tôn bắt với cái bẫy sập lớn bằng chữ khi
con vừa mới mở miệng (khi con vừa mới thò đầu ra).
- Này Upaka, "Đây là bất thiện".
Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng
thuyết pháp của Như Lai. "Đây là bất thiện !", này Upaka, bất
thiện này cần phải đoạn tận. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với
vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai. "Đây pháp bất
thiện này cần phải đoạn tận". "Đây là thiện", này Upaka.
Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng
thuyết pháp của Thế Tôn : "Đây là pháp thiện". Thiện pháp này
cần phải tu tập. Này Upaka, Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với
vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Thế Tôn : "Đây,
pháp thiện này cần phải tu tập".
3. Rồi Upaka Mandikàputta hoan hỷ
tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn,
thân hữu hướng về phía Ngài, rồi đi đến Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước
Magadha. Sau khi đến, Upaka tường thuật lại cho Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước
Magadha nghe tất cả cuộc đàm luận với Thế Tôn.
Do đó nghe nói như vậy, Ajàtasattu
Vedehiputta, vua nước Magadha phẫn nộ, không hoan hỷ nói với Upaka
Mandikàputta :
- Thật là độc hại, đứa trẻ làm
muối này ! Thật là lắm mồm, thật là kẻ liều mạng. Nghĩ rằng nó có
thể nhiếc mắng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy đi đi, này
Upaka ! Chớ để Ta thấy Ông nữa !
(IX) (189) CHỨNG NGỘ
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp
này cần phải chứng ngộ. Thế nào là bốn ?
Này các Tỷ-kheo, có pháp cần phải
chứng ngộ bằng thân; có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng
niệm; có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng mắt; có
pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các pháp cần phải chứng ngộ bằng thân ? Tám giải thoát, này các Tỷ-kheo,
cần phải chứng ngộ bằng thân.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các pháp cần phải chứng ngộ bằng niệm ? Đời sống trước, này các Tỷ-kheo,
cần phải chứng ngộ bằng niệm.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các pháp cần phải chứng ngộ bằng con mắt? Sanh tử của chúng sanh, này
các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng con mắt.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các pháp cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ ? Sự đoạn diệt các lậu
hoặc, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này
cần phải chứng ngộ.
(X) (190) NGÀY TRAI GIỚI
1. Một thời, Thế Tôn trú ở
Sàvatthi, tại Pubbàràma trong lâu đài của mẹ Migàrà. Lúc bấy giờ, Thế
Tôn nhân ngày lễ trai giới, đang ngồi có chúng Tỷ-kheo vây quanh. Sau khi
nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang im lặng, im lặng, rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo
:
- Không nói lời phù phiếm, này
các Tỷ-kheo, là hội chúng này; không nói lời vô ích, này các Tỷ-kheo,
là hội chúng này, thanh tịnh, an lập trên căn bản. Chúng Tỷ-kheo này như
vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo; hội
chúng như vậy khó tìm được ở đời ! Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này
các Tỷ-kheo, hội chúng như vậy, đáng được tôn trọng, đáng được
cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước
vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội
chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy dầu cho ít,
được lợi nhiều, còn cho nhiều, lại được lợi nhiều hơn nữa. Chúng
Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo
! Hội chúng này như vậy, nếu phải đi do một tuần để được yết kiến
cũng nên đi, dầu có phải mang theo trên vai túi đựng đồ ăn. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là chúng Tỷ-kheo này.
2. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo,
trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị chư Thiên. Có những Tỷ-kheo,
này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Phạm
Thiên. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt
được địa vị Bất động. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong
chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được Thánh vị.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo sống đạt được địa vị chư Thiên ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ly dục … chứng và trú Sơ Thiền … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba …
chứng và trú Thiền thứ tư và an trú. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
đạt được địa vị chư Thiên.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
với tâm cùng khởi với từ - biến mãn một phương và an trú … với tâm
cùng khởi với bi … với tâm cùng khởi với hỷ … với tâm cùng khởi với
xả, biến mãn một phương và an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy
phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới,
trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên thế giới,
vị ấy biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, đại hành,
vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống
đạt được địa vị Phạm Thiên.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Bất động ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi chấm dứt các
tưởng chướng ngại, sau khi không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng :
"Hư không là vô biên" chứng đạt và an trú "Không vô biên xứ".
Sau khi vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng : "Thức
là vô biên", chứng đạt và an trú "Thức vô biên xứ". Sau khi
vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng : "Không có
vật gì" chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Sau khi vượt qua Vô sở
hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo chứng đạt Bất động.
6. - Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là Tỷ-kheo chứng đạt địa vị bậc Thánh ?
ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
như thật quán tri : "Đây là khổ" … như thật quán tri : "Đây
là con đường đưa đến khổ diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
đạt được địa vị bậc Thánh.