- CHƯƠNG BỐN
- BỐN PHÁP
XVIII. PHẨM TƯ TÂM SỞ
(I) (171) VỚI TƯ TÂM SỞ
- Này các Tỷ-kheo, khi nào có hành
động về thân, do nhân thân tư tâm sở, khởi lên lạc khổ nội tâm. Khi
nào có hành động về lời, do nhân tư tâm sở về lời, khởi lên lạc khổ
nội tâm. Khi nào có hành động về ý, do nhân tư tâm sở về ý, khởi
lên lạc khổ nội tâm. Hay là do vô minh …
2. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự
mình làm thân hành, do duyên này, khởi lên lạc khổ nội tâm cho người
ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm thân hành đối với người
ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này
các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc
khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác
làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.
3. Hoặc này các Tỷ-kheo, do từ
mình làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người
ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm khẩu hành đối với người
ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này
các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh giác làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc
khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác
làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.
4. Hoặc này các Tỷ-kheo, do từ
mình làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.
Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm ý hành đối với người ấy, do
duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo,
tự mình tỉnh giác làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm
cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác làm ý hành, do
duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy.
5. Này các Tỷ-kheo, trong những
pháp này, có vô minh tháp tùng. Do sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn
của vô minh, thân hành ấy không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội
tâm cho người ấy; khẩu hành ấy không có, do duyên này khởi lên lạc khổ
nội tâm cho người ấy; ý hành không có, do duyên này khởi lên lạc khổ
nội tâm cho người ấy. Thửa ruộng không có, căn cứ không có, xứ không
có, duyên sự không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người
ấy.
(II) (172) ĐƯỢC NGÃ TÁNH
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn cách
này để được ngã tánh. Thế nào là bốn ?
Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo,
trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không phải do
tư tâm sở của người khác. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo,
trong cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động,
không phải tư tâm sở của mình. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo,
trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người
khác cùng hoạt động. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong
cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác
không hoạt động.
Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này
để được ngã tánh.
2. Khi được nói vậy, Tôn giả
Sàriputta bạch Thế Tôn :
- Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt
này của Thế Tôn con hiểu ý nghĩa một cách như sau : Tại đấy, bạch Thế
Tôn, có các được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm
sở hoạt động, không phải do tư tâm sở của người khác. Do nhân ngã tư
tâm sở, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại
đấy, bạch Thế Tôn, có các được ngã tánh này, do cách được ngã tánh
ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải ngã tư tâm sở.
Do nhân tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của
các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có các được ngã tánh này,
do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác
cùng hoạt động. Do nhân ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác,
có sự mệnh chung, từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch
Thế Tôn, có các được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư
tâm sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động.
3. Trong trường hợp ngã tư tâm sở
và tư tâm sở của người khác không có hoạt động, thời hạng chư Thiên
nào cần được xem là trong trường hợp này ?
- Này Sàriputta, hạng chư Thiên đi
đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ cần được xem là trong trường hợp ấy.
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do
duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung từ bỏ thân ấy,
đã trở lui lại, trở lui lại trong trạng thái này ? Do nhân gì, do duyên
gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở
không lui lại, không trở lui lại trong trạng thái này ?
4. - Ở đây, này Sàriputta, đối với
hạng người trong hạ phần kiết sử chưa đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện
tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng
thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An
trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy,
không có thối đọa, khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư
Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân
ái), đã trở lui lại, đã trở lui lại trạng thái này.
5. Ở đây, này Sàriputta, đối với
hạng người trong hạ phần kiết sử đã đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện
tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng
thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An
trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy,
không có thối đọa, khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư
Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân
ái), nhưng không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây
là duyên, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung, từ bỏ thân ấy
… đã không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.
(III) (PHÂN TÍCH)
Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi
các Tỷ-kheo :
- Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.
- Thưa vâng Hiền giả. Các Tỷ-kheo
ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nhói như :
- Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ
đại giới nửa tháng, nghĩa là vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc
biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên,
tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng,
tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào
có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Đạo
sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ
đại giới nửa tháng, pháp vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc
biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích
gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Đạo sư có
mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ
đại giới trong nửa tháng, từ vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc
biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích
gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Đạo sư có
mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ
đại giới nửa tháng, biệt tài vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc
biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên,
tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng,
tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào
có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Đạo
sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
(IV) (174) KOTTHITA
1. Rồi Tôn giả Mahàkotthita đi đến
Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời
chào đón thăm hỏi … ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita thưa với
Tôn giả Sàriputta :
- Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt,
ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái gì khác nữa ?
- Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.
- Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt,
ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có một cái gì khác nữa ?
- Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.
- Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt,
ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì
khác nữa ?
- Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.
- Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt,
ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có và không không còn có một
cái gì khác nữa ?
- Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.
2.- Thưa Hiền giả, khi được hỏi
: "Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư
tàn, còn có một cái gì khác nữa", Hiền giả nói : "Chớ có nói
vậy, thưa Hiền giả". Khi được hỏi : "Thưa Hiền giả, sau sự
đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có một cái gì
khác nữa", Hiền giả nói : "Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả".
Khi được hỏi : "Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc
xứ không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác nữa",
Hiền giả nói : "Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả". Sau khi được
hỏi : "Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không
có dư tàn, không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa",
Hiền giả nói : "Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả". Thưa Hiền giả,
như thế nào cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này ?
3.- "Thưa Hiền giả, Thưa Hiền
giả, sau sự đoạn diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một
cái gì khác nữa !", nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn
đề không phải hý luận. "Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt, … không
có dư tàn, không có cái gì khác nữa !", nói vậy là khiến trở thành
hý luận một vấn đề không phải hý luận. "Thưa Hiền giả, sau sự
đoạn diệt, … không có dư tàn, còn có và không còn có một cái gì khác
nữa !", nói vậy là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải
hý luận. "Thưa Hiền giả, sau sự đoạn diệt, … không có dư tàn,
không còn có và không không còn có một cái gì khác nữa !", nói vậy
là khiến trở thành hý luận một vấn đề không phải hý luận. Thưa Hiền
giả, cho đến khi nào có sự đi đến sáu xúc xứ, cho đến khi ấy có sự
đi đến hý luận. Cho đến khi nào có sự đi đến hý luận, cho đến khi
ấy có sự đi đến sáu xúc xứ. Thưa Hiền giả, do sự đoạn diệt, ly
tham sáu xúc xứ không có dư tàn, hý luận được đoạn diệt, hý luận
được chỉ tịnh.
4. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Tôn
giả Mahàkotthita, sau khi đến, nói với Tôn giả Mahàkotthita những lời
chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu,
liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ànanda nói với
Tôn giả Mahàkotthita :
- Thưa Hiền giả, do sự đoạn diệt
ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, có phải còn có vật gì khác ?
- Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.
.. (giống như đoạn trước, khi Sàriputta
trả lời cho Mahàkotthita) … cho đến hý luận được chỉ tịnh ".
(V) (175) UPAVÀNA
1. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Tôn
giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta … ngồi xuống một
bên.
- Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể
có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không ?
- Thưa không, này Hiền giả.
- Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể
có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay không ?
- Thưa không, này Hiền giả.
- Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể
có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không ?
- Thưa không, này Hiền giả.
- Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể
có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không ?
- Thưa không, này Hiền giả.
2. - Khi được hỏi : "Thưa Hiền
giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không
?", Tôn giả nói : "Thưa không, này Hiền giả". Khi được hỏi
: "Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ
hạnh hay không ?", Tôn giả nói : "Thưa không, này Hiền giả".
Khi được hỏi : "Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt
(đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không ?", Tôn giả nói : "Thưa không,
này Hiền giả". Khi được hỏi : "Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể
có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không ?", Tôn giả
nói : "Thưa không, này Hiền giả". … Như thế nào, thưa Hiền giả,
(cần phải hiểu) có người chấm dứt (đau khổ) ?
3.- Này Hiền giả, nếu có người
chấm dứt (đau khổ) nhờ minh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt
(đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau
khổ) nhờ hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với
chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và
hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ.
Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh, thời
một người phàm phu có thể là người chấm dứt (đau khổ). Thưa Hiền giả,
người phàm phu nhưng có minh và hạnh, hạnh không có đầy đủ, không như
thật thấy và biết, nhưng như thật thấy và biết, là người chấm dứt
(đau khổ).
(VI) (176) MONG CẦU
1.- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có
lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau : "Mong ta sẽ
được như Sàriputta, Moggallàna".
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân,
là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo của ta, tức là Sàriputta,
Moggallàna.
2. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni có
lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau : "Mong ta sẽ
được như Khema và Tỷ-kheo-ni Uppalavannà".
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân,
là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo-ni của ta, tức là Khema và
Uppalavannà.
3. Này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ có
lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau : "Mong ta sẽ
được như gia chủ Citta, và Hatthaka người A謡vì".
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân,
là đồ để đo lường các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ
Citta và Hatthaka người A謡vì.
4. Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ có
lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau : "Mong ta sẽ
được như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà".
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân,
là đồ để đo lường các đệ tử nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ
Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà.
(VII) (177) RÀHULA
1. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn
nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên :
- Này Ràhula, phàm có nội địa giới
gì, phàm có ngoại địa giới gì, đều là địa giới này. Cần phải như
thật thấy địa giới ấy với chánh trí tuệ rằng : "Cái này không
phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã
của tôi". Do thấy như thật (địa giới) này với chánh trí tuệ, vị
ấy nhàm chán địa giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm.
2-4. Này Ràhula, phàm có nội thủy
giới gì, phàm có ngoại thủy giới gì, đều là thủy giới này …, phàm
có nội hỏa giới gì, phàm có ngoại hỏa giới gì, đều là hỏa giới
này …, phàm có nội phong giới gì, phàm có ngoại phong giới gì, đều là
phong giới này. Cần phải như thật thấy phong giới ấy với chánh trí tuệ
rằng : "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái
này không phải là tự ngã của tôi". Do thấy như thật (phong giới) này
với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán phong giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy
sạch tâm.
5. Khi nào, này Ràhula, Tỷ-kheo đối
với bốn giới này, không có tùy quán là tự ngã hay thuộc ngã sở, này
Ràhula, vị này được gọi là Tỷ-kheo đã cắt dứt ái, đã giải tỏa
các kiết sử, đã chơn chánh minh quán kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.
(VIII) (178) HỒ NƯỚC Ở LÀNG
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng
người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý
có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không
có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay có dính nhựa cầm một cành
cây, tay của vị ấy sẽ dính vào, nắm lấy, cột vào cành cây ấy. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh
tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt,
tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối
với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi
được có thân diệt.
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
chứng đạt và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý
có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh
tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo,
một người lấy tay sạch cầm một cành cây, tay của vị ấy không dính
vào, không nắm lấy, không cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy
tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn,
tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt.
3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy
tác ý phá hoại vô minh, không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có
an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được phá hoại vô minh. Ví như, này
các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất
cả các lỗ nước chảy vào, mở ra tất cả các lỗ nước chảy ra, và trời
lại không mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, không có
chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt
được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại
vô minh, không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có
giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy
không có chờ đợi được phá hoại vô minh.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý
phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn,
có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được phá hoại vô minh. Ví
như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến
bịt tất cả các lỗ nước chảy ra, mở ra tất cả các lỗ nước chảy
vào, và trời lại mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo,
có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt
được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại
vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với
phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được
phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất
hiện ở đời.
(IX) (179) NIẾT-BÀN
1. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Tôn
giả Sàriputta. sau khi đến … ngồi xuống một bên. Tôn giả Ànanda nói với
Tôn giả Sàriputta :
- Do nhân dì, thưa Hiền giả Sàriputta,
do duyên gì ở đây, một số chúng sanh ngay trong hiện tại không có chứng
nhập Niết-bàn ?
- Ở đây, này Hiền giả Ànanda,
chúng sanh không thật quán tri : "Các tưởng này dự phần vào thối đọa",
không có như thật quán tri : "Các tưởng này dự phần vào an
trú", không có như thật quán tri : "Các tưởng này dự phần vào
thù thắng", không có như thật quán tri : "Các tưởng này dự phần
vào thể nhập". Này Hiền giả Ànanda, đây là nhân, đây là duyên, do
vậy ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại, không chứng nhập Niết-bàn.
2. - Thưa Hiền giả Sàriputta, do
nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh ngay trong hiện tại có chứng
nhập Niết-bàn ?
- Ở đây, này Hiền giả Ànanda,
chúng sanh như thật quán tri : "Các tưởng này dự phần vào thối đọa",
như thật quán tri : "Các tưởng này dự phần vào an trú", như thật
quán tri : "Các tưởng này dự phần vào thù thắng", như thật quán
tri : "Các tưởng này dự phần vào thể nhập". Này Hiền giả
Ànanda, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây có hạng chúng sanh ngay
trong hiện tại, chứng nhập Niết-bàn.
(X) (180) CĂN CỨ ĐỊA
1. Một thời, Thế Tôn trú ở
Bhoganagara, tại điện Ànanda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo :
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế tôn nói như sau :
- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về
bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế tôn nói như sau :
- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
bốn đại căn cứ địa ?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo
nói như sau : "Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy,
đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy : "Đây là Pháp, đây
là Luật, đây là lời của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các
Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy,
không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học
hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu
chúng không phù hợp với kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy
có thể kết luận : "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy
của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ
giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
có Tỷ-kheo nói như sau : "Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn,
tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy :
"Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo
sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy
báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi
chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với
kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương xứng
với Luật, thời các Thầy có thể kết luận : "Chắc chắn những lời
này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo
ấy đã thọ giáo tốt đẹp". Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ
địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ trì.
4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
có Tỷ-kheo nói như sau : "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng
tọa, với vị thủ chúng. Đối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối
diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy : "Đây là Pháp, đây là
Luật, đây là lời của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy
không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không
tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi
kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng
không phù hợp với kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có
thể kết luận : "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của
Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo
sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
có Tỷ-kheo nói như sau : "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng
tọa, với vị thủ chúng. Đối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối
diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ như vậy : "Đây là Pháp, đây
là Luật, đây là lời của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các
Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy,
không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học
hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu
chúng phù hợp với kinh, tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết
luận : "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh".
Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải
thọ trì.
6. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
nếu có Tỷ-kheo nói như sau : "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng
lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển,
trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Đối diện với các trưởng lão ấy,
tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như
vậy : "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo
sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy
báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi
chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với
kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không
tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận : "Chắc chắn
những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các
Thầy hãy từ bỏ chúng.
7. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
nếu có Tỷ-kheo nói như sau : "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng
lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển,
trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Đối diện với các trưởng lão ấy,
tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như
vậy : "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo
sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy
báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi
chữ, môi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với
kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương xứng
với Luật, thời các Thầy có thể kết luận : "Chắc chắn những lời
này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo
ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ
địa thứ ba các Thầy cần phải thọ trì.
8. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
nếu có Tỷ-kheo nói như sau : "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị
này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật,
trì toát yếu. Đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối
diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy : "Đây là
Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo,
các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy,
không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học
hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu
chúng không phù hợp với kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy
có thể kết luận : "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy
của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ
giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
9. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
nếu có Tỷ-kheo nói như sau : "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị
này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật,
trì toát yếu. Đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối
diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy : "Đây là
Pháp, đây là Luật, đây là lời của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo,
các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy,
không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, môi mỗi câu cần phải học
hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu
chúng phù hợp với kinh, tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết
luận : "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh".
Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải
thọ trì.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đại căn
cứ địa này.