3
CHƯƠNG BA
BA
PHÁP
XI. PHẨM CHÁNH GIÁC
TRƯỚC KHI GIÁC NGỘ
1. - Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta
giác ngộ, chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, ta suy nghĩ như sau :
"Cái gì là vị ngọt ở đời ? Cái gì là nguy hại, cái gì là xuất
ly ?". Rồi này các Tỷ-kheo, về vấn đề ấy, tư tưởng sau đây khởi
lên nơi ta : "Do duyên với đời, khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt
ở đời. Cái gì là vô thường ở đời, khổ, chịu sự biến hoại, đấy
là nguy hại ở đời. Điều phục dục tham ở đời, đoạn tận tham dục,
đấy là xuất ly ở đời".
2. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào
ta chưa thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại,
xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta không có xác nhận
Ta đã giác liễu vô thượng chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm
có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta
như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại,
xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta mới xác nhận Ta
đã giác liễu vô thượng chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có
Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Và tri kiến khởi lên nơi ta : "Bất
động là tâm giải thoát của ta. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không
còn tái sanh nữa".
3. Này các Tỷ-kheo, ta đã đi tìm cầu
vị ngọt ở đời. Vị ngọt ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến
như thế nào, vị ngọt có mặt ở đời, với trí tuệ ta khéo thấy vị
ấy ngọt. Này các Tỷ-kheo, ta đã tìm được cầu nguy hại ở đời. Nguy
hại ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến như thế nào, nguy hại
có mật ở đời, với trí tuệ ta, ta khéo thấy nguy hại ấy, này các Tỷ-kheo
ta đã tìm cầu xuất ly ở đời. Xuất ly ở đời là gì, Ta đã tìm được.
Cho đến như thế nào, xuất ly có mặt ở đời, với trí tuệ ta, ta khéo
thấy xuất ly ấy.
4. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào
ta chưa thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại,
xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta không có xác nhận
Ta đã giác liễu vô thượng chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm
có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta
như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại,
xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta mới xác nhận Ta
đã giác liễu vô thượng chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có
Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Và tri kiến khởi lên nơi ta : "Bất
động là tâm giải thoát của ta. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không
còn tái sanh nữa".
102. VỊ NGỌT
1. - Này các Tỷ-kheo, nếu không có
vị ngọt ở đời, thời các loài hữu tình không có tham nhiễm đối với
đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt ở đời, thời các loài hữu
tình có tham nhiễm ở đời. Này các Tỷ-kheo, nếu không có nguy hại ở đời,
thời các loài hữu tình không có nhàm chán đối với đời. Vì rằng, này
các Tỷ-kheo, có nguy hại ở đời, thời các loài hữu tình có nhàm chán
đối với đời. Này các Tỷ-kheo, nếu không có xuất ly ra khỏi đời, thời
các loài hữu tình không có xuất ly đối với đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo,
có xuất ly đối với đời, thời các loài hữu tình có xuất ly ra khỏi
đời.
Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào
các loài hữu tình chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt,
nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo,
các loài hữu tình không có thể an trú với tâm thoát ly, không có hệ phược,
giải thoát, không bị hạn cuộc khỏi thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới,
Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và
loài Người. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào các loài hữu tình đã
như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại,
xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình
có thể an trú với tâm thoát ly, không có hệ phược, giải thoát, không bị
hạn cuộc khỏi thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới,
cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này
các Tỷ-kheo, như không thật rõ biết là vị ngọt là vị ngọt, nguy hại
là nguy hại, xuất ly là xuất ly, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo,
đối với Ta không được công nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, không
được công nhận là các Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Với các Tôn
giả ấy, ngay trong hiện tại không có chứng ngộ với thắng trí, chứng
đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này
các Tỷ-kheo, như thật rõ biết là vị ngọt là vị ngọt, nguy hại là
nguy hại, xuất ly là xuất ly, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo,
đối với Ta được công nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, được công
nhận là các Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Với các Tôn giả ấy, ngay
trong hiện tại sẽ có chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục
đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
- 103. KHÓC THAN
- Này các Tỷ-kheo, đây được xem
là khóc than trong giới luật bậc Thánh, tức là ca vịnh. Này các Tỷ-kheo,
đây được xem là điên loạn trong giới luật bậc Thánh, tức là múa nhảy.
Này các Tỷ-kheo, đây được xem là trẻ con trong giới luật bậc Thánh, tức
là cười quá đáng để lộ cả răng. Do luật này, này các Tỷ-kheo, hãy
phá cây cầu đi đến hát. Hãy phá cây cầu đi đến múa. Thật là vừa đủ
nếu các Thầy được hoan hỷ đúng pháp, mỉm cười để tỏ là các Thầy
được hoan hỷ.
KHÔNG THỎA MÃN
- Này các Tỷ-kheo, hưởng thọ ba sự
ở đời, không bao giờ thỏa mãn. Thế nào là ba ?
Hưởng thọ ngủ nghỉ, này các Tỷ-kheo,
không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ rượu men rượu nấu, này các Tỷ-kheo,
không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ sự dâm dục giao hợp, không bao giờ
thỏa mãn.
105. NÓC NHỌN (1)
Rồi gia chủ Ànathapindika đi đến
Thế Tôn ; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên ; Thế
Tôn nói với gia chủ Ànathapindika đang ngồi xuống một bên :
- Này gia chủ, khi tâm không phòng hộ,
thời thân nghiệp cũng không phòng hộ, khẩu nghiệp không phòng hộ, ý
nghiệp cũng không phòng hộ. Với ai thân nghiệp không phòng hộ, khẩu nghiệp
không phòng hộ, ý nghiệp không phòng hộ, thời thân nghiệp đầy ứ tham
dục và rỉ chảy ; khẩu nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy ; ý nghiệp
đầy ứ tham dục và rỉ chảy ; Với ai thân nghiệp đầy ứ tham dục và
rỉ chảy, khẩu nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, ý nghiệp đầy ứ
tham dục và rỉ chảy, thời thân nghiệp bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý
nghiệp bị hủ bại. Với ai thân nghiệp bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý
nghiệp bị hủ bại, sẽ chết không được hiền thiện, mạng chung không
được hiền thiện.
Này gia chủ, ví như ngôi nhà nóc
nhọn vụng lợp, thời nóc nhọn không được phòng hộ, rui kèo không được
phòng hộ, vách tường không được phòng hộ ; nóc nhọn bị đấy ứ, rỉ
nước, các rui kèo bị đầy ứ rỉ nước, các vách tường bị đầy ứ,
rỉ nước, nóc nhọn bị hủ bại, rui kèo bị hủ bại, vách tường bị hủ
bại. Cũng vậy, này gia chủ, khi tâm không được phòng hộ, thời thân
nghiệp cũng không được phòng hộ, khẩu nghiệp … ý nghiệp … sự chết
không được hiền thiện, mạng chung không được hiền thiện.
Này gia chủ, khi tâm được phòng hộ,
thời thân nghiệp cũng được phòng hộ, khẩu nghiệp … ý nghiệp cũng
được phòng hộ. Với ai thân nghiệp được phòng hộ, khẩu nghiệp được
phòng hộ, ý nghiệp được phòng hộ, thời thân nghiệp đầy không ứ
tham dục và rỉ chảy ; khẩu nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy
; ý nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy ; Với ai thân nghiệp
không đầy ứ tham dục và rỉ chảy, khẩu nghiệp không đầy ứ tham dục
và rỉ chảy, ý không nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, thời thân
nghiệp không bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý nghiệp không bị hủ bại. Với
ai thân nghiệp không bị hủ bại, khẩu nghiệp … ý nghiệp không bị hủ
bại, thời sự chết được hiền thiện, mạng chung được hiền thiện
…
Này gia chủ, ví như ngôi nhà nóc
nhọn khéo lợp, thời nóc nhọn được phòng hộ, rui kèo được phòng hộ,
vách tường được phòng hộ ; nóc nhọn không bị đấy ứ, rỉ nước, các
rui kèo không bị đầy ứ rỉ nước, các vách tường không bị đầy ứ,
rỉ nước, nóc nhọn không bị hủ bại, rui kèo không bị hủ bại, vách tường
không bị hủ bại. Cũng vậy, này gia chủ, khi tâm được phòng hộ, thời
thân nghiệp cũng được phòng hộ, khẩu nghiệp … ý nghiệp không bị hủ
bại, thời sự chết được hiền thiện, mạng chung được hiền thiện.
106. NÓC NHỌN (2)
(Kinh này hoàn toàn giống như kinh
trên, chỉ khác có một chữ. Chỗ nào kinh trên dùng chữ "không phòng
hộ", thời ở đây dùng chữ "thất thế, lung lay" với những
thay đổi cần thiết).
107. BA NHÂN DUYÊN (1)
- Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba ?
Tham là nhân duyên khiến các nghiệp
tập khởi, sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, si là nhân
duyên khiến các nghiệp tập khởi.
Phàm nghiệp nào do tham tác thành,
này các Tỷ-kheo, sanh ra từ tham, do tham làm nhân duyên, do tham tập khởi,
nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị
thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp
đoạn diệt. Phàm nghiệp nào do sân tác thành … Phàm nghiệp nào do si tác
thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ si, do si làm nhân duyên, do si tập khởi,
nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị
thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp
đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp
tập khởi.
108. BA NHÂN DUYÊN (2)
- Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba ?
Vô tham là nhân duyên khiến các
nghiệp tập khởi, vô sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô
si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.
Phàm nghiệp nào do vô tham tác
thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô
tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp
ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp
ấy không đưa đến nghiệp tập khởi. Phàm nghiệp nào do vô sân tác
thành … Phàm nghiệp nào do vô si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ
vô si, do vô si làm nhân duyên, do vô si tập khởi, nghiệp ấy là thiện,
nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy
không đưa đến nghiệp tập khởi, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt.
Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.
109. NHÂN DUYÊN (3)
1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba ?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp
làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ ; ước muốn khởi lên. Này các Tỷ-kheo,
do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai ; ước muốn khởi
lên. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện
tại ; ước muốn khởi lên.
2. Như thế nào, này các Tỷ-kheo,
do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn khởi
lên ?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp
làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát.
Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ ; với tâm, nó
tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó
bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một
kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các
pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn sanh khởi.
3. Như thế nào, này các Tỷ-kheo,
do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn khởi
lên ?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp
làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư
sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai ; với tâm,
nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên
nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một
kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các
pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn sanh khởi.
4. Như thế nào, này các Tỷ-kheo,
do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn
khởi sanh ?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp
làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư
sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại ; với
tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn,
nên nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó
là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do
duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn sanh
khởi.
110. NHÂN DUYÊN (4)
1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba ?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp
làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ ; ước muốn không khởi sanh. Này
các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai ;
ước muốn không khởi sanh. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ
cho dục tham trong hiện tại ; ước muốn không sanh khởi.
2. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo,
do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn không
sanh khởi ?
Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo,
quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham
trong quá khứ. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh
né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người
ấy không còn tham đắm ; với trí tuệ, người ấy thể nhập và thấy. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong
quá khứ, ước muốn không sanh khởi.
3. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo,
do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn không
sanh khởi ?
Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo,
quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham
trong tương lai. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy
tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm
người ấy không còn tham đắm ; với trí tuệ, người ấy thể nhập và
thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục
tham trong tương lai, ước muốn không sanh khởi.
4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo,
do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn
không sanh khởi ?
Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo,
quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham
trong hiện tại. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy
tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm
người ấy không còn tham đắm ; với trí tuệ, người ấy thể nhập và
thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục
tham trong hiện tại, ước muốn không sanh khởi.