3
CHƯƠNG BA
BA
PHÁP
X. PHẨM HẠT MUỐI
91. CẤP THIẾT
1. - Này các Tỷ-kheo, có ba việc cấp
thiết này, người nông phu gia chủ cần phải làm. Thế nào là ba ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người nông
phu gia chủ mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, sau khi mau
lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, liền mau lẹ gieo hạt giống,
sau khi mau lẹ gieo hạt giống, liền mau lẹ cho nước vô, cho nước ra. Này
các Tỷ-kheo, đây là ba việc cấp thiết mà người nông phu gia chủ cần
phải làm.
Người nông phu gia chủ ấy, này
các Tỷ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh) :
"Hôm nay lúa của ta được mọc lên, ngày mai chúng sẽ trổ hạt, ngày
kế tiếp chúng sẽ chín".
Nhưng chính theo thời gian của người
nông phu gia chủ, các cây lúa do sự hướng dẫn của thời tiết được mọc
lên, được trổ hạt và được chín.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có
ba công việc cấp thiết này Tỷ-kheo cần phải làm. Thế nào là ba ?
Chấp hành tăng thượng giới học,
chấp hành tăng thượng tâm học, chấp hành tăng thượng tuệ học. Ba công
việc cấp thiết này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải làm.
Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo,
không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh) : "Hôm nay, ta
được tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ, ngày mai cũng
vậy, ngày kế tiếp cũng vậy". Nhưng này các Tỷ-kheo, chính do thời
gian Tỷ-kheo sử dụng để học tập tăng thượng giới, để học tập
tăng thượng tâm, để học tập tăng thượng tuệ, mà tâm được giải
thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải
học tập như sau : "Sắc bén là ước muốn của ta để chấp hành tăng
thượng giới học. Sắc bén là ước muốn của ta để chấp hành tăng
thượng tâm học. Sắc bén là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng
tuệ học". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
SỐNG VIỄN LY
1. - Có ba hạnh viễn ly này được
các du sĩ ngoại đạo trình bày. Thế nào là ba ? Viễn ly y áo, viễn ly đồ
ăn khất thực, viễn ly sàng tọa.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các du sĩ
ngoại đạo trình bày về viễn ly y áo, mang vải gai thô, mặc vải gai thô
lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm quăng đi, mặc vải lượm từ
đồng rác, y thì dùng vỏ cây tiritaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc
áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo từ cỏ kusa bện lại, mặc
áo bằng vỏ cây, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông
cú. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn
ly y áo.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các du sĩ
ngoại đạo trình bày về viễn ly đồ ăn khất thực : ăn rau, cây kê, gạo
sống, gạo rừng, cây lau, bột gạo, bột gạo cháy, ăn bột vừng, ăn cỏ,
ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly đồ
ăn khất thực.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các du sĩ
ngoại đạo trình bày về viễn ly sàng tọa : sống trong rừng, tại một gốc
cây, tại bãi thời hạn Mahàkotthita, tại khóm rừng rậm, sống ngoài trời,
trên một đống rơm, trong nhà bằng tranh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các
du sĩ ngoại đạo trình bày về viễn ly sàng tọa.
Này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại
đạo trình bày về ba hạnh viễn ly này.
2. Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh viễn
ly này của vị Tỷ-kheo trong pháp và luật. Thế nào là ba ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến,
từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ
các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến,
từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ
các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc, nên Tỷ-kheo này, này các Tỷ-kheo,
được gọi là đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh,
được an trú trên căn bản.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, ruộng
lúa của người nông phu gia chủ đã chín, người nông phu gia chủ ấy mau
mắn gặt lúa ; sau khi mau mắn gặt lúa, phải mau mắn chất lúa thành đống
; sau khi mau mắn chất lúa thành đống, phải mau mắn chở lúa về ; sau khi
mau mắn chở lúa về, phải mau mắn đánh lúa thành đống ; sau khi đánh
lúa thành đống, phải mau mắn đập lúa ; sau khi mau mắn đập lúa, phải
mau mắn giũ rơm ; sau khi mau mắn giũ rơm, phải mau mắn lấy thóc ra ; sau
khi mau mắn lấy thóc ra, phải mau mắn quạt thóc ; sau khi mau mắn quạt
thóc, phải mau mắn chứa thóc ; sau khi mau mắn chứa thóc, phải mau mắn
say thóc ; sau khi mau mắn say thóc, phải mau mắn sàng cám lấy gạo. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, với người nông phu gia chủ ấy, lúa gạo ấy đạt được
tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, đạt được an trú trên căn
bản. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác
giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà
kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu
hoặc, nên Tỷ-kheo này, này các Tỷ-kheo, được gọi là đạt được tối
thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, được an trú trên căn bản.
4. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào
mùa thu, bầu trời quang đãng, không có mây và mặt trời mọc lên giữa bầu
trời, phá sạch hắc ám khắp cả hư không, và chói sáng, bừng sáng, rực
sáng ; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử ; pháp nhãn ly trần
ly cấu khởi lên ; này các Tỷ-kheo, ba kiết sử được đoạn tận, thân
kiến, nghị, giới cấm thủ. Lại nữa, vị ấy được thoát khỏi hai
pháp tham và sân. Vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an
trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
Trong thời gian ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nếu có mạng
chung, sẽ không có kiết sử nào, do kiết sử ấy, vị Thánh đệ tử phải
đi đến thế giới này nữa.
93. HỘI CHÚNG
1. - Có ba hội chúng này, này các Tỷ-kheo,
Thế nào là ba ? Hội chúng thối thượng, hội chúng không hòa hợp, hội
chúng hòa hợp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội
chúng tối thượng ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hội
chúng nào có các Tỷ-kheo trưởng lão, không có sống đầy đủ, không có
biếng nhác, từ bỏ dẫn đầu về đọa lạc, đi đầu về hạnh viễn ly,
tinh cần tinh tấn, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng
đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Và những thế hệ kế tiếp chúng tùy thuận theo tri kiến của chúng. Hội
chúng ấy không có sống đầy đủ, không có biếng nhác, từ bỏ dẫn đầu
về đọa lạc, đi đầu về hạnh viễn ly, tinh cần tinh tấn, để chứng
đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc,
để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
hội chúng tối thượng.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng không hòa hợp ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội
chúng nào các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, tranh luận, đấu tranh nhau, đả
thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là hội chúng không hòa hợp.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng hòa hợp ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội
chúng nào các Tỷ-kheo sống hòa hợp hoan hỷ, không có luận tranh, sống như
nước với sữa lẫn lộn, nhìn nhau bằng cặp mắt ái kính. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là hội chúng hòa hợp.
4. Lúc nào, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo
sống hòa hợp, hoan hỷ, không có luận tranh, như nước và sưa lẫn lộn,
nhìn nhau với cặp mắt ái kính, lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tạo
được công đức, lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống phạm trú.
Nghĩa là, với ai hân hoan với tâm giải thoát liên hệ với hỷ, thời hỷ
sanh ; với ai có hỷ, thân được khinh an ; với thân khinh an, cảm giác được
lạc thọ ; với ai cảm giác lạc thọ, tâm được định tĩnh.
5. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên một
ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa ấy chảy theo sườn dốc, làm
đầy các hang núi, các khe núi, các thung lũng. Sau khi làm đầy các hang
núi, các khe núi, các thung lũng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy
các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn. Sau khi làm đầy các hồ lớn,
chúng làm đầy các sông nhỏ. Sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy
biển cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lúc nào các Tỷ-kheo sống hòa hợp,
hoan hỷ, không có luận tranh, như nước và sưa lẫn lộn, nhìn nhau với cặp
mắt ái kính, lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tạo được công đức,
lúc ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sống phạm trú. Nghĩa là, với ai
hân hoan với tâm giải thoát liên hệ với hỷ, thời hỷ sanh ; với ai có
hỷ, thân được khinh an ; với thân khinh an, cảm giác được lạc thọ ; với
ai cảm giác lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Những pháp này, này các Tỷ-kheo,
là ba hội chúng.
94. CON NGỰA THUẦN THỤC
1. - Đầy đủ với ba đức tánh,
này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua, hiền thiện, thuần thục, xứng đáng
để vua dùng, thuộc quyền sở hữu của vua, và được xem như một biểu
tượng của vua. Thế nào là ba ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một con
ngựa của vua hiền thiện, thuần thục, đầy đủ sắc đẹp, đầy đủ với
sức mạnh, đầy đủ với tốc lực. Đầy đủ với ba đức tánh này,
này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua, hiền thiện, thuần thục, xứng đáng
để vua dùng, thuộc quyền sở hữu của vua, và được xem như một biểu
tượng của vua.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đầy
đủ với ba đức tánh, một Tỷ-kheo đáng được cung kính. Đáng được tôn
trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước
vô thượng ở đời. Thế nào là ba ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy
đủ sắc đẹp, đầy đủ sức mạnh, đầy đủ tốc lực.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo đầy đủ sắc đẹp ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
giữ gìn giới luật, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy
đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận
và học tập trong các học p. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy
đủ sắc đẹp.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo đầy đủ sức mạnh ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống tinh cần tinh cấn, đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu đầy
đủ các pháp thiện, nỗ lức kiên trì, dõng mãnh, không từ bỏ trách nhiệm
đối với các pháp thiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ
sức mạnh.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
như thật rõ biết : "Đây là khổ", như thật rõ biết : "Đây
là khổ tập", như thật rõ biết : "Đây là khổ diệt", như
thật rõ biết : "Đây là con đường đưa đến khổ diệt". Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực.
Đầy đủ với ba pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng
được cúng dường, đáng được chắp tay, và ruộng phước vô thượng
ở đời.
95. CON NGỰA THUẦN THỤC
1-4. … (Hoàn toàn giống như kinh trên)
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh tại chỗ ấy nhập
Bát-Niết bàn, khỏi phải trở lui từ thế giới ấy, đến thế giới này.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đầy đủ tốc lực.
Đầy đủ với ba pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng
được cúng dường, đáng được chắp tay, và ruộng phước vô thượng
ở đời.
96. CON NGỰA THUẦN THỤC
1-4. … (Hoàn toàn giống như kinh số
94, từ 1-4)
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng
trí, chứng ngộ và chứng đạt an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực.
Đầy đủ với ba pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng
được cúng dường, đáng được chắp tay, và ruộng phước vô thượng
ở đời.
VẢI THÔ BẰNG VỎ CÂY
1. - Này các Tỷ-kheo, có tấm vải
bằng vỏ cây hoàn toàn mới, sắc xấu, cảm xúc khó chịu, và không có
giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng vỏ cây bậc trung, sắc xấu,
cảm xúc khó chịu, và không có giá trị. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải bằng
vỏ cây cũ kỹ, để lau chùi nồi niêu, hay đáng được quăng trên đống
rác.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo mới tu hành, ác giới, theo ác pháp, Ta nói rằng vị Tỷ-kheo ấy
có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây sắc xấu
ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận,
hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh,
đau khổ lâu dài ; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc khó chịu. Này
các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có cảm xúc khó chịu ấy,
này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật
dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh,
sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn ; đây, Ta nói rằng, không
có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá
trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ
ấy.
3. Này các Tỷ-kheo, nếu là trung
niên Tỷ-kheo … (như trên) … này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo,
ác giới, theo ác pháp. Ta nói rằng vị ấy có sắc xấu. Này các Tỷ-kheo,
ví như tấm vải bằng vỏ cây có sắc xấu ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng
người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận,
hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ bị bất hạnh,
đau khổ lâu dài ; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc khó chịu. Này
các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây có cảm xúc khó chịu ấy,
này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật
dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh,
sẽ không có quả lớn, không có lợi ích lớn ; đây, Ta nói rằng, không
có giá trị. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải bằng vỏ cây không có giá
trị ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ
ấy.
4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo trưởng lão nói lên ở giữa chúng Tăng, các Tỷ-kheo nói như sau :
"Sao Thầy nghĩ rằng Thầy có thể tuyên bố, một người ngu si, không
thông minh ? "Vị ấy phẫn nộ, bất mãn, sẽ nói lên những lời này,
chúng Tăng đuổi vị ấy ra khỏi, như người ta quăng bỏ tấm vải bằng
vỏ cây ấy trên đống rác.
VẢI BA-LA-NẠI
1 - Này các Tỷ-kheo, có tấm vải
kàsi (Balanại), hoàn toàn mới, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có
giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi bậc trung, có sắc đẹp,
cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Này các Tỷ-kheo, có tấm vải
kàsi cũ, có sắc đẹp, cảm xúc dễ chịu, và có giá trị lớn. Và này
các Tỷ-kheo, có tấm vải kàsi cũ kỹ dùng để gói các châu báu, hay được
đặt vào trong một hộp có hương thơm.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo mới tu hành, giữ gìn giới luật theo thiện pháp, Ta nói rằng vị
Tỷ-kheo ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có sắc
đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ
ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận,
hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ được hạnh
phúc, an lạc lâu dài ; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu.
Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các
Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật
dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh,
họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn ; đây, Ta nói rằng, vị ấy có
giá trị hơn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này
các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
3. Còn nếu là rung niên Tỷ-kheo,
… này các Tỷ-kheo, nếu là trưởng lão Tỷ-kheo, giữ gìn giới luật theo
thiện pháp, đây ta tuyên bố là vị ấy có sắc đẹp. Này các Tỷ-kheo,
ví như tấm vải kàsi có sắc đẹp ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người
ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai theo vị ấy, thân cận,
hầu hạ, chấp nhận, thuận theo trí kiến của vị ấy, họ được hạnh
phúc, an lạc lâu dài ; đấy, Ta nói rằng vị ấy có cảm xúc dễ chịu.
Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có cảm xúc dễ chịu ấy, này các
Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
Còn những ai, vị này nhận các vật
dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh,
họ sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn ; đây, Ta nói rằng, vị ấy có
giá trị hơn. Này các Tỷ-kheo, ví như tấm vải kàsi có giá trị ấy, này
các Tỷ-kheo, Ta nói rằng người ấy là giống như ví dụ ấy.
4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo trưởng lão này nói lên ở giữa chúng Tăng : "Chư Tôn giả
hãy im lặng, Tỷ-kheo trưởng lão đang nói pháp và luật, và lời nói của
vị ấy trở thành châu báu cần phải cất giữ, như một người cất giữ
tấm vải kàsi trong một hộp có hương thơm." Do vậy, này các Tỷ-kheo,
hãy học tập như sau : "Chúng ta sẽ được như ví dụ tấm vải kàsi,
không giống như ví dụ tấm vải bằng vỏ cây". Như vậy, này các Tỷ-kheo,
các Thầy cần phải học tập.
99. HẠT MUỐI
1. - Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo,
: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm
thọ như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời
không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ
được nêu rõ chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, ai nói như sau :
"Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào,
người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy". Nếu sự kiện
là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để
nêu rõ đau khổ được nêu rõ chơn chánh đoạn diệt.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và
nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến
chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.
2. Hạng người như thế nào, này
các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người
ấy vào địa ngục ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập,
hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này
các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào
địa ngục.
Hạng người như thế nào, này các
Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa
người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không
thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được
tu tập, hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy,
này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy
đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng
không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người
bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế
nào, này các Tỷ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn
và không uống được phải không ?
- Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn.
Vì cớ sao ? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở
thành mặn, không uống được.
- Ví như, này các Tỷ-kheo, có người
bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo,
sông Hằng có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không
?
- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ
sao ? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối
này, nước trở thành mặn và không uống được.
- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây,
có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào
địa ngục. Ở đây, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và
nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến
chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.
4. Hạng người như thế nào, này
các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người
ấy vào địa ngục ? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người thân không tu tập,
giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự
ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo,
làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.
Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương
tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại,
cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập,
tâm được tu tập, tuệ được tu tập, hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống
đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ
mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay
trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều.
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù
tội vì một trăm đồng tiền. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền,
không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.
Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị
tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội
vì một trăm đồng tiền ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ,
ít sở hữu, ít tài sản. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có người bị
tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội
vì một trăm đồng tiền.
Như thế nào, này các Tỷ-kheo,
không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền,
không bị tù tội vì một trăm đồng tiền ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người giàu có, có tiền của lớn, có tài sản lớn. Người như vậy, này
các Tỷ-kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì
một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây
có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa
ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương
tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại,
cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.
6. Hạng người như thế nào, này
các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, nghiệp ác ấy đưa người ấy vào
địa ngục ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới
không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ
nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp
ác nhỏ mọn. nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.
Hạng người như thế nào, này các
Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy
đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng
không thấy được, còn nói gì là nhiều ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được
tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, đời sống vô lượng. Người
như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp
ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút
ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.
7. Ví dụ một người đồ tể hay
người giết dê, này các Tỷ-kheo, đối với một số người đánh cắp
dê, có thể giết hay trói, hay tịch thu tài sản, hay làm như ý muốn. Đối
với một số người cũng đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể
trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn.
Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người
đồ tể hay người giết dê, đối với một số người đánh cắp dê, có
thể giết, có thể trói, có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý
người ấy muốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
nghèo khổ, ít sở hữu tài sản. Kẻ đồ tể hay người giết dê, đối với
kẻ đánh cắp dê như vậy có thể giết, hay trói, hay có thể tịch thu
tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn.
Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người
đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không
có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay
không có thể làm như ý muốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
giàu có, có sở hữu lớn, hay nhà vua, hay đại thần của nhà vua. Người
đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không
có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay
không có thể làm như ý người ấy muốn. Không có gì phải làm khác hơn
là chắp tay và cầu xin như sau : "Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay
giá tiền con dê".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây,
đối với một số người có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy
đưa người ấy vào địa ngục. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với
một số người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy
đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng
không thấy được, còn nói gì là nhiều.
8. Hạng người như thế nào, này
các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người
ấy vào địa ngục ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có người thân
không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn
hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo,
làm nghiệp ác nhỏ mọn. nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.
Hạng người như thế nào, này các
Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy
đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng
không thấy được, còn nói gì là nhiều ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được
tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, đời sống vô lượng. Người
như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp
ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút
ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo :
"Người này làm nghiệp ác như thế nào, như thế nào người ấy sẽ
cảm thọ (quả) như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo,
thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ
được chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau :
"Người này làm nghiệp ác như thế nào, như thế nào người ấy sẽ
cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy,
này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ
đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.
100. KẺ LỌC VÀNG
1. - Này các Tỷ-kheo, có những uế
nhiễm thô tạp của vàng như bụi, cát, đá, sạn và đá sỏi. Người đãi
lọc bụi hay đệ tử của người đã lọc bụi đem đổ vào trong cái
máng, rồi rửa sạch qua, rửa sạch lại, rửa sạch thêm nữa.
Làm xong như vậy, làm như vậy hoàn
tất, còn lại những uế nhiễm bậc trung của vàng, như cát đá, sạn tế
nhị và các hột cát thô tạp. Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người
đãi lọc bụi rửa sạch, rửa sạch thêm nữa, rửa sạch hoàn toàn.
Làm xong như vậy, làm như vậy hoàn
tất, còn lại những uế nhiễm tế nhị, như cát mịn và cát bụi đen.
Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người đãi lọc bụi rửa sạch, rửa
sạch thêm nữa, rửa sạch hoàn toàn.
Làm xong như vậy, làm như vậy hoàn
tất, chỉ còn lại bụi vàng.
2. Rồi người thợ vàng hay đệ tử
người thợ vàng bỏ bụi đỏ vàng ấy vào trong cái lò, rồi thụt ống bệ,
thụt ống bệ thêm, thụt ống bệ cho đến khi vàng bắt đầu chảy, người
không chảy ra khỏi miệng lò. Vàng ấy được thụt bệ, được thụt bệ
thêm nữa, được thụt bệ hơn nữa, người không chảy ra khỏi miệng
lò, chưa làm xong, chưa sạch các uế nhiễm, chưa có nhu nhuyễn, chưa có
kham nhậm, chưa có sáng chói. Vàng ấy còn có thể bể vụn và chưa tác
thành tốt đẹp.
Có một thời, này các Tỷ-kheo, người
thợ vàng hay đệ tử người thợ vàng ấy lại thụt bệ, thụt bệ thêm
nữa, thụt bệ hơn nữa, cho đến khi vàng chảy ra khỏi lò. Vàng ấy lại
được thụt bệ, được thụt bệ thêm nữa, được thụt bệ hơn nữa,
cho đến khi vàng chảy ra khỏi lò, được làm xong, được sạch các uế
nhiễm, được nhu nhuyễn, được kham nhậm, và được sáng chói. Vàng ấy
còn không bị bể vụn và có thể tác thành tốt đẹp. Và loại trang sức
nào người ấy muốn, như vàng lá, hay nhẫn, hay vòng cổ, hay dây chuyền,
người ấy có thể làm thành như ý muốn.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử thô tạp, thân ác
hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Tỷ-kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ,
gột sạch, chấm dứt, không cho sanh khởi lại.
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn
tất, Tỷ-kheo tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử tế nhị,
như tư tưởng về gia tộc, tư tưởng về quốc độ, tư tưởng không bị
kinh rẻ. Tỷ-kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt,
không cho sanh khởi lại.
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn
tất, chỉ còn lại các pháp tầm (tư tưởng về pháp).
4. Định như vậy không có an tịnh,
không có thù thắng, không được khinh an, không đạt đến nhứt tâm, nhưng
là một trạng thái chế ngự thường xuyên dằn ép. Nhưng đến một thời,
này các Tỷ-kheo, tâm của vị ấy được nội trú, lắng đứng lại, được
nhứt tâm, được định tĩnh. Định ấy được an tịnh, được thù diệu,
được khinh an, đạt đến nhứt tâm, không phải một trạng thái chế ngự
thường xuyên dằn ép, tùy thuộc vào pháp gì tâm người ấy hướng đến
để thắng tri, để chứng ngộ ; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt
đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
5. Nếu vị ấy ước muốn, ta sẽ
chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều
thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường,
qua núi, như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền,
ngồi kiết già đi đến hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt
trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy,
có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên" ; vị ấy có khả năng, có
năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
6. Vị ấy nếu ước muốn : "Với
thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và
loài người" ; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy,
dầu thuộc loại xứ nào.
7. Nếu vị ấy ước muốn :
"Mong rằng với tâm của mình có thể biết tâm của các loại chúng
sanh khác, tâm của các loài Người khác như sau : Tâm có tham biết là tâm
có tham. Tâm không tham biết là tâm không tham. Tâm có sân biết là tâm có
sân. Tâm không sân biết là tâm không sân. Tâm có si biết là tâm có si.
Tâm không si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú.
Tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Đại hành tâm biết là đại hành
tâm. Không phải đ hành tâm biết là không phải đại hành tâm. Tâm chưa vô
thượng biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng biết là tâm vô thượng.
Tâm thiền định biết là tâm thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm
giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát" ; vị
ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ
nào.
8. Nếu vị ấy ước muốn :
"Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời,
bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn
đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại
và thành kiếp ; vị ấy nhớ rằng : "Tại chỗ kia, ta có tên như thế
này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế
này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được
sanh tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Tại chỗ kia, ta có tên như thế này,
dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này,
tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được
sanh tại đây". Vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy,
dầu thuộc loại xứ nào".
9. Nếu vị ấy ước muốn : Với
thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự sống và chết của chúng sanh.
Ta biết rõ chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ
thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Các
chúng sanh ấy làm những ác nghiệp về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc
thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau
khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục, đọa
xứ. Các chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không
phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến.
Những vị này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện,
cõi Trời, cõi đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên,
ta có thể thấy sự sống chết của chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao
sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều
do hạnh nghiệp của họ" ; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến
pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
10. Nếu vị ấy ước muốn :
"Do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí, ta
chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát" ; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu
thuộc loại xứ nào.
11. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng
tâm, này các Tỷ-kheo, cần phải thỉnh thoảng tác ý ba tướng. Cần phải
thỉnh thoảng tác ý thướng định, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng
cần, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng xả.
12. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng
tâm, này các Tỷ-kheo, nếu một chiều tác ý tướng định, thời có sự
kiện tâm vị ấy đi đến thụ động. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng
tâm, nếu một chiều tác ý tướng tinh cần, thời có sự kiện tâm vị
ấy đi đến trạo cử. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, nếu một
chiều tác ý tướng xả, thời có sự kiện tâm vị ấy không chơn chánh
định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Nhưng nếu Tỷ-kheo siêng tu tập
tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, thỉnh thoảng tác ý thướng định, thỉnh
thoảng tác ý tướng tinh cần, thỉnh thoảng tác ý tướng xả, tâm vị
ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, chơn chánh
định tĩnh để đoạn tận các lậu hoặc.
13. Ví như một thợ làm vàng, này
các Tỷ-kheo, hay đệ tử người làm vàng, xây lên các lò đúc. Sau khi xây
lên các lò đúc, người ấy nhóm lửa đốt miệng lò. Sau khi đốt miệng
lò, với cái kềm, người ấy cầm vàng bỏ vào miệng lò ; rồi thỉnh thoảng
người ấy thụt ống bệ, thỉnh thoảng người ấy rưới nước, thỉnh
thoảng người ấy quan sát kỹ lưỡng. Nếu người làm vàng hay đệ tử
người làm vàng, này các Tỷ-kheo, một chiều thổi ống bệ, thì có sự
kiện vàng bị cháy. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng,
này các Tỷ-kheo, một chiều rưới nước, thì có sự kiện vàng bị nguội
lạnh. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo,
một chiều quan sát kỹ lưỡng, thì có sự kiện vàng ấy không chơn chánh
đi đến thuần thục. Còn nếu người làm vàng hay đệ tử người làm
vàng, này các Tỷ-kheo, thỉnh thoảng thổi ống bệ vàng ấy, thỉnh thoảng
rưới nước, thỉnh thoảng quan sát kỹ lưỡng, thời vàng ấy trở thành
trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, và được thành
tốt đẹp. Và loại trang sức nào người ấy muốn như vàng lá, hay nhẫn,
hay vòng cổ, hay dây chuyền, người ấy có thể làm thành như ý muốn.
14. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
siêng năng tu tập tăng thượng tâm, cần phải thỉnh thoảng tác ý ba tướng.
Cần phải thỉnh thoảng tác ý thướng định, cần phải thỉnh thoảng tác
ý tướng cần, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng xả. Nếu Tỷ-kheo siêng
tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, nếu một chiều tác ý tướng
định, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến thụ động. Tỷ-kheo siêng
tu tập tăng thượng tâm, nếu một chiều tác ý tướng tinh cần, thời có
sự kiện tâm vị ấy đi đến trạo cử. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng
tâm, nếu một chiều tác ý tướng xả, thời có sự kiện tâm vị ấy
không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Nhưng nếu Tỷ-kheo
siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, thỉnh thoảng tác ý thướng
định, thỉnh thoảng tác ý tướng tinh cần, thỉnh thoảng tác ý tướng xả,
tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, chơn
chánh định tĩnh để đoạn tận các lậu hoặc. Tùy thuộc theo pháp gì,
tâm vị ấy hướng đến để thắng tri, để chứng ngộ, vị ấy có khả
năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
39. Nếu vị ấy muốn : "Ta sẽ
chứng đạt nhiều loại thần thông … (như 100, 5) … chứng tri sáu loại
thắng trí … do đoạn diệt các lậu hoặc … (như 100, 10) … sau khi chứng
ngộ, ta sẽ chứng đạt và an trú" ; vị ấy có khả năng, có năng lực
đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.