| ...... ... |
. |
Kinh Tăng
Chi Bộ
HT. Thích Minh
Châu dịch
3
CHƯƠNG BA
BA PHÁP
VII. PHẨM LỚN
61. SỞ Y XỨ
Này các Tỷ-kheo, có ba ý sứ này của
ngoại đạo, dầu có bị các bậc Hiền giả cật vấn, nạn vấn lý do, thảo
luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi (không hành động).
Thế nào là ba ?
Này các Tỷ-kheo, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau : "Phàm có cảm giác gì về con người
này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân
nghiệp quá khứ". Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết
pháp như sau, chấp kiến như sau : "Phàm có cảm giác gì về con người
này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một
tạo hóa tạo ra". Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết
pháp như sau, chấp kiến như sau : "Phàm có cảm giác gì về con người
này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không
nhân, không duyên".
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với
các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau : "Phàm
có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ,
không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ". Đối với các vị
ấy, Ta đến và nói : "Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có
thuyết như sau : "Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc,
khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ ?
"".
Được Ta hỏi vậy, họ trả lời
: "Thưa phải, có như vậy".
Ta nói với họ như sau : "Như vậy,
thời theo các Tôn giả, do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người sát
sanh ; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người lấy của không cho ;
do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người không Phạm hạnh ; do nhân
nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói láo ; do nhân nghiệp quá khứ,
sẽ trở thành người nói hai lưỡi ; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở
thành người ác khẩu ; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói
lời phù phiếm ; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tham lam ;
do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người theo tà kiến". Nhưng này
các Tỷ-kheo, với những ai trở lại nghiệp quá khứ là do kiên thực, với
những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có
"Đây là việc phải làm", hay "Đây là việc không nên
làm". Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm
không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ
Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống
thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là
sự chỉ trích đúng pháp thứ nhất của ta đối với các vị Sa-môn,
Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với
các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau : "Phàm
có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ,
không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra". Đối với các
vị ấy, Ta đến và nói : "Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả
có thuyết như sau : "Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ
lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo
ra ? "".
Được Ta hỏi vậy, họ trả lời
: "Thưa phải, có như vậy".
Ta nói với họ như sau : "Như vậy,
thời theo các Tôn giả, do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ trở thành người
sát sanh … Do nhân một vị tạo hóa tạo ra, se trở thành người theo tà
kiến". Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào vị tạo
hóa tạo ra là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước
muốn, không có tinh tấn, không có "Đây là việc phải làm", hay
"Đây là việc không nên làm". Như vậy, sự cần thiết cần phải
làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng
tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông
được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là
sự chỉ trích đúng pháp thứ hai của ta đối với các vị Sa-môn,
Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với
các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau : "Phàm
có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ,
không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên". Đối với các vị
ấy, Ta đến và nói : "Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có
thuyết như sau : "Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc,
khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên ?
"".
Được Ta hỏi vậy, họ trả lời
: "Thưa phải, có như vậy".
Ta nói với họ như sau : "Như vậy,
thời theo các Tôn giả, do không nhân không duyên, sẽ trở thành người sát
sanh … Do không nhân không duyên, sẽ trở thành người theo tà kiến".
Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào vị tạo hóa tạo
ra là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không
có tinh tấn, không có "Đây là việc phải làm", hay "Đây là
việc không nên làm". Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không
cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời
danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các
Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là
sự chỉ trích đúng pháp thứ ba của ta đối với các vị Sa-môn,
Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây
là ba y xứ của ngoại đạo, dù có được các bậc Tôn giả cật vấn, nạn
vấn lý do thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô
vi (không hành động).
Và này các Tỷ-kheo, đây là pháp
ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội
lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là pháp ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm,
không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách ?
Sáu giới này, này các Tỷ-kheo, là
pháp Ta thuyết giảng, … có trí quở trách. Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo,
là pháp Ta thuyết giảng… có trí quở trách. Mười tám ý cận hành này,
này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng… có trí quở trách. Bốn Thánh
đế này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng… có trí quở trách.
Sáu giới này, này các Tỷ-kheo, là
pháp Ta thuyết giảng… có trí quở trách, được nói đến như vậy. Do
duyên gì được nói đến ? Này các Tỷ-kheo, có sáu giới này : địa giới,
thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới. Sáu giới này,
này các Tỷ-kheo, là pháp được Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích,
không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các
Bà-la-môn có trí quở trách. Điều đã được nói đến, chính do duyên
này đã được nói đến.
Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo,
là pháp ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở
trách. Điều đã được nói đến, chính do duyên nào đã được nói đến
? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc xứ này : nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ
xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Có sáu xúc xứ này, này
các Tỷ-kheo, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Điều
đã được nói đến, chính do duyên này đã được nói đến.
Có mười tám ý cận hành này, này
các Tỷ-kheo, là pháp được Ta thuyết giảng, không bị các Sa-môn, các
Bà-la-môn có trí quở trách. Điều đã được nói đến, chính do duyên
nào đã được nói đến ? Khi con mắt thấy sắc, tư tưởng hướng về và
đến gần sắc, làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần sắc, làm y xứ
cho ưu, hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho xả. Khi tai nghe tiếng,
tư tưởng hướng về và đến gần tiếng, làm y xứ cho hỷ, hướng về và
đến gần tiếng, làm y xứ cho ưu, hướng về và đến gần tiếng, làm y
xứ cho xả. Khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc
… khi ý nhận thức pháp, tư tưởng hướng về và đến gần pháp, làm y
xứ cho hỷ, hướng về và đến gần pháp, làm y xứ cho ưu, hướng về và
đến gần pháp, làm y xứ cho xả. Có mười tám ý cận hành này, này các
Tỷ-kheo, được Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có
trí quở trách. Điều đã được nói đến, chính do duyên này đã được
nói đến.
Bốn thánh đế này, này các Tỷ-kheo,
được Ta thuyết giảng … không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở
trách. Điều đã được nói đến, chính do duyên nào đã được nói đến
? Do chấp thủ sáu giới nên có nhập thai. Do có nhập thai, nên có danh sắc.
Do duyên danh sắc, nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ, nên có xúc. Do duyên
xúc, nên có thọ. Với người có cảm thọ, này các Tỷ-kheo, Ta nêu rõ :
"Đây là khổ", Ta nêu rõ : "Đây là khổ tập ; Ta nêu rõ :
"Đây là khổ diệt", Ta nêu rõ : "Đây là con đường đưa đến
khổ diệt".
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ
Thánh đế ?
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là
khổ, chết là khổ, sầu bi, khổ, ưu não là khổ. Điều mong cầu không
được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Này các Tỷ-kheo, đây là
Khổ Thánh đế.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Thánh đế về Khổ tập ?
Vô minh duyên hành, hành duyên thức,
thức duyên sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ,
thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên
già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vầy là sự tập khởi của toàn bộ
khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Thánh đế về Khổ diệt ?
Do vô minh diệt không có tàn dư, nên
các hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc
diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt.
Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ
diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt
nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não đều diệt. Như vầy là sự đoạn
diệt toàn bộ của khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, Đây gọi là Thánh đế
về Khổ diệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt ?
Đây là Thánh đạo Tám ngành, tức
là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt.
Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo,
do Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không có uế nhiễm, không có tội
lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Điều đã được
nói đến, chính do duyên này được nói đến.
CÁC SỢ HÃI
1. - Có ba sợ này, này các Tỷ-kheo,
làm chia rẽ mẹ con, được người phàm phu không học nói đến. Thế nào
là ba ?
Có một thời, này các Tỷ-kheo, một
hỏa tai lớn khởi lên. Khi hỏa tai lớn này khởi lên, các làng bị thiêu,
các thị trấn lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu. Khi các làng bị
thiêu, các thị trấn lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu, mẹ không
tìm được con, con không tìm được mẹ. Đây là sợ hãi thứ nhất, này
các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời
có mưa lớn khởi lên. Khi mưa lớn khởi lên, này các Tỷ-kheo, lụt lội lớn
sanh khởi. Do có lụt lớn sanh khởi, nên các làng bị cuốn trôi, các thị
trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi. Khi các làng bị cuốn
trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi, mẹ
không tìm được con, con không tìm được mẹ. Đây là sợ hãi thứ hai,
này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời
có sợ hãi về giặc cướp rừng nổi lên, và dân chúng leo lên xe chạy trốn.
Khi sợ hãi giặc cướp rừng nổi lên, này các Tỷ-kheo, khi dân chúng leo
lên xe chạy trốn, mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Đây
là sợ hãi thứ ba, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm
phu không học nói đến.
Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.
Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
có khi chia rẽ mẹ con, có khi không chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu
không học nói đến. Thế nào là ba ?
Có một thời, này các Tỷ-kheo, một
hỏa tai lớn khởi lên. Khi hỏa tai lớn này khởi lên … (xem 62-1) … khi
các làng bị thiêu, các thị trấn bị thiêu, khi các thành phố bị thiêu,
trong khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể tìm được con, con có
thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ nhất, có khi
làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia rẽ mẹ con, được kẽ phàm phu
không học nói đến.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời
có mưa lớn khởi lên. Do có thủy tai lớn sanh khởi nên các làng bị cuốn
trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi. Khi các
thành phố bị cuốn trôi, trong khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể
tìm được con, con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ
hãi thứ hai, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia rẽ mẹ con,
được kẽ phàm phu không học nói đến.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời
có sợ hãi về giặc cướp rừng nổi lên. Và dân chúng leo lên xe chạy trốn.
Khi sợ hãi về giặc cướp rừng nổi nên, này các Tỷ-kheo, khi dân chúng
leo lên xe chạy trốn, trong khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể
tìm được con, con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ
hãi thứ ba, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia rẽ mẹ con,
được kẽ phàm phu không học nói đến.
Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia re mẹ con, được kẽ phàm
phu không học nói đến.
Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
làm chia rẽ mẹ con. Thế nào là ba ?
Sợ hãi về già, sợ hãi về bệnh,
sợ hãi về chết.
Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn
con mình bị già : "Ta nay bị già, mong rằng con Ta không bị già !".
Hay người con không muốn mẹ mình bị già : "Ta nay bị già, mong rằng
mẹ Ta không bị già !".
Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn
con mình bị bệnh : "Ta nay bị bệnh, mong rằng con Ta không bị bệnh
!". Hay người con không muốn mẹ mình bị bệnh : "Ta nay bị già,
mong rằng mẹ Ta không bị bệnh !".
Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn
con mình bị chết : "Ta nay bị chết, mong rằng con Ta không bị chết
!". Hay người con không muốn mẹ mình bị chết : "Ta nay bị chết,
mong rằng mẹ Ta không bị chết !". Đây là ba sợ hãi, này các Tỷ-kheo,
làm chia rẽ mẹ con.
Có con đường, này các Tỷ-kheo,
có đạo lộ đưa đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi, không làm chia rẽ mẹ
con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con này. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là con đường, thế nào là đạo lộ đưa đến từ bỏ, vượt qua ba
sợ hãi không làm chia rẽ mẹ con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con
này ?
Đây là con đường Thánh Tám
ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là con đường, này
các Tỷ-kheo, đây là đạo lộ là đưa đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi
không làm chia rẽ mẹ con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con này.
- VENÀGA
1-7
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành
giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một làng
Bà-la-môn Kosala, tên là Venàgapura. Các gia chủ Bà-la-môn ở Venàgapura được
nghe : "Sa-môn Gotama, dòng họ Thích ca, xuất gia từ gia tộc Thích ca đến
Venàgapura. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn
Gotama : "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Ngài với thắng trí, tự thân chứng ngộ và
tuyên bố về thế giới này, cùng với Thiên Giới, Ma Giới, Phạm Thiên Giới,
cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời. Ngài thuyết pháp, sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, và giới thiệu đời sống Phạm
hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch". Tốt đẹp thay được chiêm ngưỡng
một vị A-la-hán như vậy".
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở
Venàgapura đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có người đảnh lễ Sa-môn
Gotama rồi ngồi xuống một bên ; có người nói lên với Sa-môn Gotama những
lời chào đón hỏi thăm rồi ngồi xuống một bên ; Có người chắp tay vái
chào Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên ; có người xưng tên và dòng họ
rồi ngồi xuống một bên ; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vacchagotta, người xứ Venàgapura bạch Thế
Tôn :
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama
! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama ! Các căn của Tôn giả Gotama thật trong
sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng. Ví như, thưa Tôn giả Gotama, trái
táo vàng vào mùa thu, được thanh tịnh chói sáng ; cũng vậy, các căn của
Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng. Ví như,
thưa Tôn giả Gotama, trái cây tala chín vừa rời khỏi cành, thanh tịnh,
chói sáng ; cũng vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da
thật thanh tịnh, chói sáng. Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một đồ trang sức
bằng vàng đỏ, được người thợ vàng thiện xảo khéo luyện trong lò,
khéo đạp và đặt tên tấm vải vàng, được chiếu sáng, chói sáng, rực
sáng ; cũng vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật
thanh tịnh chói sáng.
Thưa Tôn giả Gotama, còn các giường
cao và lớn như ghế bành, nệm trải giường bằng lông cừu, vải trải giường
nhiều tấm, nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông nệm bông, nệm
thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú
một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể chứa
mười sáu người cùng múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm bằng da sơn
dương khâu lại với nhau, nệm bằng da con sơn dương gọi là Kadali, tấm
thảm có lầu che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Các
loại giường cao và giường lớn như vậy, chắc Tôn giả Gotama có được
không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức ?
- Này Bà-la-môn, các giường cao và
lớn ấy, như ghế bành … có hai đầu gối chân màu đỏ, thật rất khó
được các vật ấy. Và nếu có được, cũng không thích hợp với những
người xuất gia.
Này Bà-la-môn, có ba loại giường
cao và giường lớn này, nay Ta được chúng không khó khăn, có được không
mệt nhọc, có được không phí sức. Thế nào là ba ?
Giường cao, giường lớn chư Thiên,
giường cao, giường lớn Phạm thiên, giường cao, giường lớn Bậc thánh.
Ba giường cao, giường lớn này, này Bà-la-môn, Ta được chúng không khó
khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
- Và thưa Tôn giả Gotama, thế nào
là giường cao, giường lớn chư Thiên, mà Tôn giả Gotama được chúng
không khó khăn … được chúng không phí sức ?
Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống gần
một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm y bát, đi vào
làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường
đi khất thực trở về, Ta đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy,
Ta lượm cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng,
để niệm trước mặt, ly dục, ly pháp bất thiện, Ta chứng đạt và an
trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
Làm cho chỉ tịnh tầm và tứ, Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một
trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất
tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc
Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
Đoạn lạc và đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng
đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ lạc, xả niệm thanh tịnh.
Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành của Ta thuộc
Chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đứng, thời
trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta thuộc Chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng
thái như vậy, nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ ngồi của thuộc Chư
Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta nằm, thời trong lúc
ấy, chỗ nằm của Ta thuộc Chư Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường cao,
giường lớn thuộc chư Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được chúng
không có mệt nhọc, được chúng không phí sức.
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama
! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama ! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama, có thể
có được giường cao, giường lớn chư Thiên như vậy, được chúng không
có khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không có phí sức
!
Thế nào, thưa Tôn giả Gotama, thế
nào là giường cao, giường lớn Phạm thiên, mà Tôn giả Gotama được chúng
không khó khăn, được chúng không mệt nhọc, được chúng không phí sức
?
Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống gần
một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm y bát, đi vào
làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường
đi khất thực trở về, Ta đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy,
Ta lượm cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng,
để niệm trước mặt. Ta an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu
với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy
phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết
thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới, ta an trú biến mãn với tâm câu
hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Với
tâm câu hữu với bi, … Với tâm câu hữu với hỷ, … Với tâm câu hữu
với xả, cũng vậy phương thứ hai … quảng đại, đại hành, vô biên,
không hận, không sân.
Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành của Ta thuộc
Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đứng, thời
trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng
thái như vậy, nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ ngồi của thuộc Phạm
Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta nằm, thời trong lúc
ấy, chỗ nằm của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường
cao, giường lớn thuộc Phạm Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được
chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama !
Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama ! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama, có thể
có được giường cao, giường lớn Phạm Thiên như vậy, được chúng
không có khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không có
phí sức !
7. Thế nào, thưa Tôn giả Gotama, thế
nào là giường cao, giường lớn Bậc Thánh, mà Tôn giả Gotama được chúng
không khó khăn, được chúng không mệt nhọc, được chúng không phí sức
?
Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống gần
một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm y bát, đi vào
làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường
đi khất thực trở về, Ta đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy,
Ta lượm cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng,
để niệm trước mặt. Ta biết rõ như sau : "Tham ái đã được Ta đoạn
tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể
hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Sân đã được ta
đoạn tận … trong tương lai. Si đã được Ta đoạn tận, chặt đứt từ
gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho
không thể sanh khởi trong tương lai".
Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành của Ta thuộc
bậc Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đứng, thời
trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng
thái như vậy, nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ ngồi của thuộc bậc
Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta nằm, thời trong lúc
ấy, chỗ nằm của Ta thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, đây là giường
cao, giường lớn thuộc bậc Thánh, mà Ta có được không khó khăn, được
chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama !
Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama ! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama, có thể
có được giường cao, giường lớn bậc Thánh như vậy, được chúng
không có khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không có
phí sức ! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama ! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng
ngã xuống … Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng
chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SARABHA
1-6
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương
Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, du sĩ Sarabha, từ bỏ
pháp và Luật này không bao lâu, đang tuyên bố như sau với hội chúng ở
Ràjagaha : "Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu
rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ pháp và Luật ấy".
2. Rồi có nhiều Tỷ-kheo, vào buổi
sáng đắp y, cầm bát y đi vào Ràjagaha để khất thực. Các vị ấy nghe
du sĩ Sarabha tuyên bố như sau với hội chúng ở Ràjagaha : "Ta đã hiểu
rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn
Thích tử, nên ta đã từ bỏ pháp và Luật ấy".
Rồi các vị Tỷ-kheo đi khất thực
ở Ràjagaha xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một
bên, có vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
Du sĩ Sarabha, bạch Thế Tôn, đã từ
bỏ pháp và Luật này không bao lâu. Vị ấy tuyên bố : "Ta đã hiểu
rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn
Thích tử, nên ta đã từ bỏ pháp và Luật ấy". Lành thay, bạch Thế
Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng lân mẫn, hãy đi đến du sĩ Sarabha !
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ
chỗ Thiền định đứng dậy, đi đến bờ sông Sappinikàti, khu vườn của
các du sĩ, đến du sĩ Sarabha ; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn
sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với du sĩ Sarabha :
- Có thật chăng, này Sarabha, Ông đã
nói như sau : "Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu
rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ pháp và Luật này
"?
Khi được nghe nói như vậy, du sĩ
Sarabha giữ im lặng.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với du
sĩ Sarabha :
- Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã
hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào ? Nếu Ông hiểu chưa được
đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được
đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.
Lần thứ hai, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với du sĩ
Sarabha :
- Chính do Ta, này Sarabha, pháp các
Sa-môn Thích tử được trình bày lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã hiểu
rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào ? Nếu Ông hiểu chưa được đầy
đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy
đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ tiếp nhận.
Lần thứ ba, du sĩ Sarabha giữ im lặng.
Rồi các du sĩ ở Ràjagaha nói với
du sĩ Sarabha :
- Này Hiền giả, những điều gì,
Hiền giả cần hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama đã cho Hiền giả có cơ hội
nói lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Hiền giả đã hiểu pháp các Sa-môn
Thích tử như thế nào ? Nếu Hiền giả hiểu chưa được đầy đủ, Sa-môn
Gotama sẽ làm cho đầy đủ. Nếu Hiền giả hiểu được đầy đủ, Sa-môn
Gotama sẽ hoan hỷ tiếp nhận.
Được nói như vậy, du sĩ Sarabha
giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sững sờ, không thể trả lời.
5. Rồi Thế Tôn biết được du sĩ
Sarabha đang giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sững sờ, ngồi không
trả lời, liền nói với các du sĩ ấy :
- Này các du sĩ, ai nói với Ta như
sau : "Dầu Ông tự cho là đã Chánh Đẳng Giác, nhưng Ông không có
Chánh Đẳng Giác các pháp này". Ở đây, Ta sẽ khéo cật vấn, nạn vấn,
thảo luận với người ấy. Người ấy bị ta khéo cật vấn, nạn vấn,
thảo luận như vậy, không có chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài
cách dựa vào một trong ba thái độ như sau : Hoặc là tránh né về vấn đề
với một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài (đề tài
chính), hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay im lặng, hoang mang,
rụt vai, cúi đầu, sững sở, không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về
ta như sau : "Dầu Ông tự cho đã đoạn tận các lậu hoặc, nhưng các
lậu hoặc này chưa được đoạn tận !". Ở đây, Ta sẽ cật vấn, nạn
vấn, chất vấn người ấy. Người ấy bị Ta cật vấn, nạn vấn, chất
vấn … sững sờ không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về
Ta như sau : "Pháp Ông thuyết giảng với mục đích chơn chánh đoạn tận
khổ đau, không có đưa người thực hành đến mục đích ấy". Ở đây,
Ta sẽ cật vấn, nạn vấn, chất vấn người ấy. Người ấy bị Ta cật
vấn, nạn vấn, chất vấn … sững sờ không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Rồi Thế Tôn, tại khu vườn các
du sĩ, trên bờ sông Sappinnikàti, sau khi rống lên ba lần tiếng rống con sư
tử, liền ra đi trên hư không.
Rồi các du sĩ ấy, sau khi Thế Tôn
ra đi không bao lâu, liền bao vây du sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với
những dòng nước nhiếc mắng như sau :
- "Này Hiền giả Sarabha, như
con gia con già yếu trong rừng rậm nghĩ rằng : "Ta sẽ rống tiếng con
Sư tử", nhưng nó chỉ thốt ra tiếng rú con dã can, chỉ thốt ra tiếng
rú con thú ăn thịt. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có
thể có tiếng rống con sư tử, Ông nghĩ : "Ta sẽ rống tiếng rống
con sư tử", nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng rú con giã can, chỉ thốt ra
tiếng rú con thú ăn thịt.
Ví như, này Hiền giả Sarabha, con
gà con nghĩ rằng : "Ta sẽ gáy lên tiếng gáy con gà trống", nhưng
nó chỉ có thể thốt ra tiếng kêu con gà con. Cũng vậy, này Hiền giả
Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể gáy lên tiếng con gà trống, Ông nghĩ :
"Ta có thể gáy lên tiếng gáy con gà trống", nhưng Ông chỉ thốt
ra tiếng gáy con gà con.
Ví như, con bò cái con, này Hiền giả
Sarabha, khi chuồng bò trống không, nghĩ rằng có thể rống tiếng rống
sâu đậm con bò đực. Cũng vậy, này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama
ra, Ông nghĩ rằng Ông có thể rống lên tiếng rống sâu đậm con bò đực.
Như vậy, các du sĩ ấy bao quanh du
sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như vậy.
CÁC VỊ Ở KESAPUTTA
1-17
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành
giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến thị trấn của
các người Kàlàmà tên là Kesaputta. Các người Kàlàmà ở Kesaputta được
nghe : "Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca đã đến
Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp như sau được truyền đi về Sa-môn Gotama
: "Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác …". Lành thay,
nếu chúng tôi được yết kiến một vị A-la-hán như vậy".
Rồi các người Kàlàmà ở
Kesaputta đi đến Thế Tôn ; sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên ; có người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón
thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi
xuống một bên ; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên ; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên ; có người
im lặng rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các người
Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn :
- Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch
Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của
mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, kinh miệt, chê bai. Bạch
Thế Tôn, và một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, Họ làm
sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm
người khác, kinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Đối với họ, bạch Thế Tôn,
chúng con có những nghi ngờ phân vân : "Trong những Tôn giả Sa-môn
này, ai nói sự thật, ai nói láo ?"
- Đương nhiên, này các Kàlàmà,
các Ông có những nghi ngờ ! Đương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những
phân vân ! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi
lên phân vân.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì
nghe truyền thuyết ; chớ có tin vì nghe theo truyền thống ; chớ có tin vì
nghe theo người ta nói ; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng ; chớ
có tin vì nhân lý luận siêu hình ; chớ có tin vì đúng theo một lập trường
; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện ; chớ có tin vì phù hợp
với định kiến ; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng
này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau : "Các pháp này là bất
thiện - Các pháp này là có tội ; Các pháp này bị các người có trí chỉ
trích ; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh
khổ đau", thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng !
Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà
! Lòng tham khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa
lại hạnh phúc hay bất hạnh ?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có tham, này các
Kàlàmà, bị tham chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của
không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như
vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không
?
- Thua có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy
là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh ?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có sân, này các
Kàlàmà, bị sân chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của
không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như
vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không
?
- Thua có, bạch Thế Tôn..
6. Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy
là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh ?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có si, này các
Kàlàmà, bị si chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của
không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như
vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không
?
- Thua có, bạch Thế Tôn..
Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện ?
- Là bất thiện, bạch Thế Tôn.
- Có tội hay không có tội ?
- Có tội, bạch Thế Tôn.
- Bị người có trí quở trách hay
không bị người có trí quở trách ?
- Bị người có trí quở trách, bạch
Thế Tôn.
- Nếu được thực hiện, được
chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không ? hay ở đây, là như
thế nào ?
- Được thực hiện, được chấp
nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến bất hạnh, đau khổ, ở đây, đối
với chúng con là vậy.
- Như vậy, này các Kàlàmà, điều
Ta vừa nói với các Ông : "Chớ có tin vì nghe theo truyền thống ; chớ
có tin vì nghe theo người ta nói ; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng
; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình ; chớ có tin vì đúng theo một lập
trường ; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện ; chớ có tin
vì phù hợp với định kiến ; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư
của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau : "Các
pháp này là bất thiện - Các pháp này là có tội ; Các pháp này bị các
người có trí chỉ trích ; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận
đưa đến bất hạnh khổ đau", thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng !
Điều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy đã được nói
lên.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì
nghe truyền thuyết … chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau : "Các pháp
này là thiện - Các pháp này là không có tội ; Các pháp này không bị các
người có trí chỉ trích ; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận
đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này Kàlàmà, hãy từ đạt đến và
an trú !
10. Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, không tham, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy,
đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy ? - Hạnh phúc, bạch Thế
Tôn.
- Người này không tham, này các
Kàlàmà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết
các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không
nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người
ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không ?
- Thua có, bạch Thế Tôn.
11. Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, không sân, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy
là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy ?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
- Người này không sân, này các
Kàlàmà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết
các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không
nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại
đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho người ấy hay không ?
- Thua có, bạch Thế Tôn..
12. Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy
là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy ?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
- Người này không si, này các
Kàlàmà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các
sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói
láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại hạnh
phúc an lạc lâu dài cho người ấy bất hay không ?
- Thua có, bạch Thế Tôn..
13. Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện ?
- Là thiện, bạch Thế Tôn.
- Các pháp này có tội hay không có
tội ?
- Không có tội, bạch Thế Tôn.
- Bị người có trí quở trách hay
được người có trí tán thán ?
- Được người trí tán thán, bạch
Thế Tôn.
- Nếu được thực hiện, được
chấp nhận, có đưa đến hạnh phúc an lạc không, hay ở đây, là như thế
nào ?
- Được thực hiện, được chấp
nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến hạnh phúc, an lạc. Ở đây, đối với
chúng con là vậy.
14. - Như vậy, này các Kàlàmà, điều
Ta vừa nói với các Ông : "Chớ có tin vì nghe theo truyền thống ; chớ
có tin vì nghe theo người ta nói ; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng
; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình ; chớ có tin vì đúng theo một lập
trường ; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện ; chớ có tin
vì phù hợp với định kiến ; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư
của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau : "Các
pháp này là thiện - Các pháp này là không có tội ; Các pháp này không bị
các người có trí chỉ trích ; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận
đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này Kàlàmà, hãy chứng đạt và
an trú ! Điều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy đã
được nói lên.
Này các Kàlàmà, vị Thánh đệ tử
nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu
với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với
tâm câu hữu với xả, biết mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai ;
cũng vậy phương thứ ba ; cũng vậy phương thứ tư ; Như vậy, cùng khắp
thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô
biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại,
đại hành, vô biên, không hận, không sân. Thánh đệ tử ấy, này các
Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại,
người ấy đạt được bốn sự an ủi.
"Nếu có đời sau, nếu có kết
quả dị thực các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ
sanh lên cõi thiện, cõi trời, coi đời này" ; đây là an ủi thứ nhất
vị ấy có được. "Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả
các nghiệp thiện ác thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm
không oán, không sân, không phiền não, được an lạc" ; đây là an ủi
thứ hai vị ấy có được. Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác
đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ
khổ đau được" ; đây là an ủi thứ ba vị ấy có được. "Nếu
việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố
ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh" ; đây là an ủi thứ tư vị
ấy có được. Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như
vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với
tâm không thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an
ủi này.
-
Sự việc là như vậy, bạch Thế Tôn
! Sự việc là như vậy, bạch Thiện Thệ ! Thánh đệ tử ấy, với tâm
không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm
như vậy, với tâm không thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có
được bốn an ủi : "Nếu có đời sau, nếu có kết quả các nghiệp
thiện ác thời ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh lên
cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này" ; đây là an ủi thứ nhất vị
ấy có được. "Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả các
nghiệp thiện ác thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm
không oán, không sân, không phiền não, được an lạc" ; đây là an ủi
thứ hai vị ấy có được. Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác
đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ
khổ đau được" ; đây là an ủi thứ ba vị ấy có được. "Nếu
việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố
ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh" ; đây là an ủi thứ tư vị
ấy có được. Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như
vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với
tâm không thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an
ủi này.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn,
… bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, quy y pháp, quy y chúng Tỷ-kheo.
Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng
chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.
SÀLHÀ
1-13
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Nandaka trú ở
Sàvatthi, tại Đông Viên, ở lâu đài mẹ của Migàra.
Rồi Sàlhà, cháu của Migàra, và
Rohana, cháu của Pekhuniya đi đến Tôn giả Nandaka ; sau khi đến, đảnh lễ
Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả
Nandaka nói với Sàlhà, cháu trai của Migàra như sau :
- Hãy đến này các Sàlhà Nandaka,
chớ có tin vài nghe truyền thuyết, chớ có tin vì nghe theo truyền thống
… chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các
Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau : "Các pháp này là bất thiện ;
các pháp này là có tội ; các pháp này bị người trí quở trách ; các
pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh cà
đau khổ :, thời này các Sàlhà, các thầy cần phải từ bỏ chúng
Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế
nào, có tham hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
- Tham, này các Sàlhà, ta nói nghĩa
này là vậy. Này các Sàlhà, người có tham này bị tham chinh phục, giết
các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ
người ác cùng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ
lâu dài hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
4. Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế
nào, có sân hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
- Sân, này các Sàlhà, ta nói nghĩa
này là vậy. Này các Sàlhà, người có sân này bị sân chinh phục, giết
các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ
người ác cùng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ
lâu dài hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
5. Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế
nào, có si hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
- Si, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này
là vậy. Này các Sàlhà, người có si này bị si chinh phục, giết các sinh
loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người
ác cùng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu
dài hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
Các thầy nghĩ thế nào, này các
Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện ?
- Là bất thiện, thưa Tôn giả.
- Có tội hay không có tội ?
- Có tội, thưa Tôn giả.
- Bị người trí quở trách hay được
người trí tán thán ?
- Bị người trí quở trách, thưa Tôn
giả.
- Được thực hiện, được chấp
thuận, có đưa lại bất hạnh hay đau khổ không ? Hay ở đây là thế nào
?
- Được thực hiện, được chấp
thuận, thưa Tôn giả, chúng đưa lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với
chúng con là như vậy.
Như vậy, này các Sàlhà, điều ta
vừa nói với các thầy, "Chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì
theo truyền thống ; chớ có tin vì nghe tin đồn ; chớ có tin vì được
Kinh Tạng truyền tụng ; chớ có tin vì nhân lý luận ; chớ có tin vì nhân
định lý ; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết
; chớ có tin vì thấy là thích hợp ; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo
sư của mình". Này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau : "Các
pháp này là bất thiện ; các pháp này là có tội ; các pháp này bị người
trí quở trách ; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại
bất hạnh cà đau khổ", thời này các Sàlhà, hãy từ bỏ chúng ! Điều
này đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói
lên.
Như vậy, này các Sàlhà, chớ có
tin vì nghe người ta nói … chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sự của
mình". Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau : "Các
pháp này là thiện ; các pháp này là không có tội ; các pháp này không bị
người trí quở trách ; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận,
đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này các Sàlhà, hãy đạt đến và
an trú !
Các Ông nghĩ như thế nào, này các
Sàlhà, không tham khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy
là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy ?
- Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
- Người này không tham, này các
Sàlhà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các
sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói
láo, không khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người
ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
9. Các Ông nghĩ như thế nào, này
các Sàlhà, không sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như
vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy ?
- Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
- Người này không sân, này các
Sàlhà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các
sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói
láo, không khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người
ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
10. Các Ông nghĩ như thế nào, này
các Sàlhà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy
là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy ?
- Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
- Người này không si, này các
Sàlhà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các
sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói
láo, không khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người
ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không ?
- Thưa có, bạch Tôn giả.
11. Các ông nghĩ thế nào, này các
Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện ?
- Là thiện, thưa Tôn giả.
- Có tội hay không có tội ?
- Không có tội, thưa Tôn giả.
- Bị người trí quở trách hay được
người trí tán thán ?
- Được người trí tán thán, bạch
Tôn giả.
- Nếu được thực hiện, được
chấp thuận, có đem đến hạnh phúc an lạc không ? Hay ở đây là thế
nào ?
- Được thực hiện, được chấp
thuận, thưa Tôn giả, chúng đem đến hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với
chúng con là như vậy.
Như vậy, này các Sàlhà, điều ta
vừa nói với các thầy, "Chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì
theo truyền thống ; chớ có tin vì nghe tin đồn ; chớ có tin vì được
Kinh Tạng truyền tụng ; chớ có tin vì đúng theo một lập trường ; chớ
có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện ; chớ có tin vì phù hợp với
định kiến ; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền ; chớ có tin
vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình". Này các Sàlhà, khi nào tự
mình biết như sau : "Các pháp này là thiện ; các pháp này không có tội
; các pháp này không bị người trí quở trách ; các pháp này nếu được
thực hành và chấp nhận, đưa lại hạnh phúc an lạc", thời này các
Sàlhà, hãy chứng đạt và an trú ! Điều này đã được nói lên như vậy,
chính là do duyên như vậy được nói lên.
Này các Sàlhà, vị Thánh đệ tử
nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu
với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với
tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, cũng vậy pháp thứ hai, cũng
vậy phương thứ ba ; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế
giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới,
vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành,
vô biên, không hận, không sân. Vị ấy rõ biết như sau : "Có trạng
thái này, có trạng thái liệt, có trạng thái thù thắng, có xuất ly ra khỏi
tướng giới này." Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được
giải thoát khởi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong
sự giải thoát, trí khởi lên : "Ta được giải thoát". Vị ấy
rõ biết : "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
Vị ấy rõ biết như sau : "Trước
ta có tham, tham ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện.
Trước ta có sân, sân ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là
thiện. Trước ta có si, si ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy
là thiện". Như vậy, ngay trong đời sống hiện tại, vị ấy được
giải thoát khởi hy cầy, được tịch tịnh, được thanh lương, cảm thấy
an lạc, tự mình an trú trong Phạm tánh.
CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC NÓI ĐẾN
1. - Này các Tỷ-kheo, có ba vấn đề
này được nói đến. Thế nào là ba ? Có thể nói về quá khứ, này các Tỷ-kheo,
nói rằng : "Như vầy đã xảy ra trong thời quá khứ. Có thể nói về
tương lai, này các Tỷ-kheo, nói rằng : "Như vầy sẽ xảy ra trong thời
tương lai". Có thể nói về hiện tại, này các Tỷ-kheo, nói rằng :
"Như vầy đang xảy ra trong thời hiện tại".
Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo,
một người có thể biết được là có khả năng nói chuyện hay không có
khả năng ?
Nếu người nào, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu không trả lời dứt khoát một câu hỏi cần phải
trả lời dứt khoát, không trả lời một cách phân tích một câu hỏi cần
trả lời một cách phân tích, không trả lời một câu hỏi ngược lại với
một câu hỏi cần phải trả lời với một hỏi ngược lại, không có gạt
qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
một người như vậy không có khả năng để thảo luận.
Nếu người nào, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu trả lời dứt khoát một câu hỏi cần phải trả
lời dứt khoát, trả lời một cách phân tích một câu hỏi cần trả lời
một cách phân tích, trả lời với một câu hỏi ngược lại một câu hỏi
cần phải trả lời với một hỏi ngược lại, gạt qua một bên một câu
hỏi cần phải gạt qua một bên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, một người
như vậy có khả năng để thảo luận.
Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo,
một người có thể biết được là có khả năng thảo luận hay không có
khả năng thảo luận ?
Nếu một người, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu, không xác nhận là đúng hay không đúng, không
xác nhận là một giả thuyết, không xác nhận là quan điểm của bậc trí,
không xác nhận là sở hành thường làm. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo,
người ấy không có khả năng thảo luận.
Nếu một người, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu, xác nhận là đúng hay không đúng, xác nhận là một
giả thuyết, xác nhận là quan điểm của bậc trí, xác nhận là sở hành
thường làm. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy có khả năng
thảo luận.
Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo,
một người có thể biết được là có khả năng thảo luận hay không có
khả năng thảo luận ?
Nếu một người, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu, tránh câu hỏi ấy với một câu hỏi khác, hướng
câu chuyện ra ngoài vấn đề, bày tỏ sự phẫn nộ, sân, hận, bất mãn.
Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này không có khả năng thảo luận.
Nếu một người, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu, không tránh câu hỏi ấy với một câu hỏi khác,
không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không bày tỏ sự phẫn nộ,
sân, hận, bất mãn. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này có khả
năng thảo luận.
Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo,
một người có thể biết được là có khả năng thảo luận hay không có
khả năng thảo luận ?
Nếu một người, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu, lại mắng chửi, đánh đập, nhạo báng, chụp lấy
chỗ sơ hở. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này có không khả
năng thảo luận.
Nếu một người, này các Tỷ-kheo,
khi được hỏi một câu, không lại mắng chửi, không đánh đập, không nhạo
báng, không chụp lấy chỗ sơ hở. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người
này có khả năng thảo luận.
Với sự thảo luận, này các Tỷ-kheo,
có thể biết được một người có duyên hay không có duyên.
Không có lóng tai, này các Tỷ-kheo,
là không có duyên. Có lóng tai là có duyên. Người có duyên thắng tri một
pháp, biến tri một pháp. Do thắng tri một pháp, liễu tri một pháp, từ bỏ
một pháp, chứng đắc một pháp, vị ấy cảm thấy chánh giải thoát. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của thảo luận, như vậy là lợi ích
của đàm luận, như vậy là lợi ích có duyên, như vậy là lợi ích nghe lời
khuyên, tức là tâm giải thoát không có chấp thủ.
Nói chuyện với hiềm thù
Thiên chấp và kiêu mạn
Nghịch lại đức bậc Thánh
Bới móc lỗi lầm nhau
Thích nghe nói xấu người
Người lầm, người bối rối
Người bị thua, bị hại
Bậc Thánh không làm vậy.
Nếu muốn cùng đàm luận
Bậc hiền biết thời gian
Câu chuyện của bậc Thánh
Liên hệ pháp, pháp nghĩa
Người có trí nói chuyện
Không hiềm thù kiêu mạn
Với tâm không chấp trước
Không hiềm tận độc đoán
Không để tâm lơ đãng
Nói lên với chánh trí
Hoan hỷ lời khéo nói
Không vui lời vụng về
Không học cách chỉ trích,
Không chụp sơ hở người
Không nhiếc mắng đánh đập
Không nói lời vu vơ
Lời nói của bậc Thánh
Vừa dạy vừa hoan hỷ
Như vầy bậc Thánh nói
Như vầy bậc Thánh luận đàm
Bậc trí biết rõ vậy
Nói lời thật khiêm tốn
DU SĨ NGOẠI ĐẠO
1. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ
ngoại đạo hỏi như sau : "Có ba pháp này, này các Hiền giả. Thế
nào là ba ? Tham, sân, si. Những pháp này, này các Hiền giả, là ba pháp.
Trong ba pháp này, này các Hiền giả, thế nào là đặc thù, thế nào là
thù thắng, thế nào là khác biệt ? "Được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo,
các Ông trả lời như thế nào với các du sĩ ngoại đạo ấy ?
- Đối với chúng con, bạch Thế
Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làn căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lất
Thế Tôn làm nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết ý
nghĩa lời nói này cho chúng con. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ
trì.
- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và
khéo tác ý, ta sẽ nói !
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các vị
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :
- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ
ngoại đạo hỏi như sau : "Có ba pháp này, này các Hiền giả. Thế
nào là ba ? Tham, sân, si. Những pháp này, này các Hiền giả, là ba pháp.
Trong ba pháp này, này các Hiền giả, thế nào là đặc thù, thế nào là
thù thắng, thế nào là khác biệt ? "Được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo,
các Thầy cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau :
"Tham, thưa các Hiền giả, là tội nhỏ, nhưng ly tham là chậm chạp.
Sân là tội lớn, nhưng ly sân là mau chóng. Si là tội lớn, và ly si là chậm
chạp."
"Do nhân gì, này chư Hiền, do
duyên gì tham chưa sanh được sanh khởi, và tham sanh rồi đưa đến tăng
trưởng, quảng đại ?"
Cần phải trả lời là "Tịnh
tướng". "Với ai không như lý tác ý tịnh tướng, thời tham chưa
sanh được sanh khởi, và tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại. Đây
là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên, tham chưa sanh được sanh khởi,
và tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại".
3. "Do nhân gì, này các chư Hiền,
do duyên gì sân chưa sanh được sanh khởi, và sân đã sanh được tăng trưởng,
quảng đại ?"
Cần phải trả lời là "Chướng
ngại tướng". "Với ai không như lý tác ý chướng ngại tướng,
thời sân chưa sanh được sanh khởi, và tham đã sanh được tăng trưởng
quảng đại. Đây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên, khiến sân chưa
sanh được sanh khởi, và tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại".
4. "Do nhân gì, này các chư Hiền,
do duyên gì si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng,
quảng đại ?"
Cần phải trả lời là "Không
như lý tác ý". "Với ai không như lý tác ý chướng ngại tướng,
thời si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng quảng
đại. Đây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên, khiến si chưa sanh
được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng quảng đại".
"Do nhân gì, này các chư Hiền,
do duyên gì tham chưa sanh được không sanh khởi, hay tham đã sanh được đoạn
tận ?"
Cần phải trả lời là "tướng
bất tịnh". "Với ai như lý tác ý tướng bất tịnh, thời tham
chưa sanh khởi không sanh khởi, hay tham đã sanh khởi được đoạn tận. Đây
là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên khiến tham chưa sanh khởi không
sanh khởi, hay tham đã sanh khởi được đoạn tận."
6. "Do nhân gì, này các chư Hiền,
do duyên gì sân chưa sanh được không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn
tận ?"
Cần phải trả lời là "từ
tâm giải thoát". "Với ai như lý tác ý từ tâm giải thoát, thời
sân chưa sanh khởi không sanh khởi, hay sân đã sanh khởi được đoạn tận.
Đây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên khiến sân chưa sanh khởi
không sanh khởi, hay sân đã sanh khởi được đoạn tận."
7. "Do nhân gì, này các chư Hiền,
do duyên gì si chưa sanh được không sanh khởi, hay si đã sanh được đoạn
tận ?"
Cần phải trả lời là "như lý
tác ý". "Với ai như lý tác ý thời si chưa sanh khởi không sanh khởi,
và si đã sanh khởi được đoạn tận. Đây là nhân, này các Hiền giả,
đây là duyên khiến si chưa sanh khởi không sanh khởi, hay si đã sanh khởi
được đoạn tận."
CÁC CĂN BẢN BẤT THIỆN
1. - Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản
bất thiện. Thế nào là ba ? Tham là căn bản bất thiện, sân là căn bản
bất thiện, si là căn bản bất thiện.
Cái gì là tham, này các Tỷ-kheo,
cái ấy bất thiện. Ai với lòng tham có làm về thân, về lợi, về ý,
cái ấy bất thiện. Ai có lòng tham, bị lòng tham chinh phục, tâm không được
tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc,
tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên : "Ta là sức mạnh,
ta có sức mạnh." Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất
thiện pháp này sanh từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, khởi
lên nơi người ấy.
Cái gì là sân, này các Tỷ-kheo,
cái ấy bất thiện. Ai với lòng sân có làm gì về thân, về ý, cái ấy bất
thiện. Với ai có lòng sân, bị lòng sân chinh phục, tâm không được tự
chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch
thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên : "Ta là sức mạnh,
ta có sức mạnh." Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất
thiện pháp này sanh từ sân, duyên khởi từ sân, tập khởi từ sân, khởi
lên nơi người ấy.
Cái gì là si, này các Tỷ-kheo, cái
ấy bất thiện. Ai với lòng si có làm gì về thân, về lời, về ý, cái
ấy bất thiện. Với ai có lòng si, bị lòng si chinh phục, tâm không được
tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc,
tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên : "Ta là sức mạnh,
ta có sức mạnh." Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất
thiện pháp này sanh từ si, duyên khởi từ si, tập khởi từ si, khởi lên
nơi người ấy.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, người
này được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng
đích, nói phi pháp, nói phi luật. Vì sao người như vậy, này các Tỷ-kheo,
được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích,
nói phi pháp, nói phi luật ? Như vầy là vì người này, này các Tỷ-kheo,
đã vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch
thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên : "Ta là sức mạnh,
ta có sức mạnh." Khi được đối chất với sự thật, người ấy phủ
nhận, không có chấp nhận ; khi được đối chất với sự thật, người
ấy không có nhiệt tình thoát mở ra ngoài, nói rằng : "Đây là không
chân, đây là không thực". Cho nên, người như vậy được gọi là người
nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi
luật. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do
tham sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ
với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại
mạng chung, được chờ đợi là ác thú. Người như vậy, này các Tỷ-kheo,
bị các ác bất thiện pháp do sân sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay
trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự
nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú. Người
như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do si sanh nhiếp phục,
tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với
sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ
đợi là ác thú.
Ví như này các Tỷ-kheo, cây sàla
hay cây dhava hay cây phandana bị phá hoại, bị bao trùm bởi ba loại tầm gởi,
đi đến tổn hại, đi đến bất hạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người
như vậy, bị các ác bất thiện pháp do tham sanh chinh phục, tâm mất tự
chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não,
với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác
thú … bị các ác bất thiện pháp so sân sanh … bị các ác bất thiện
pháp so si sanh chinh phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau
khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân
hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú
Những pháp này, này các Tỷ-kheo,
là ba căn bản bất thiện.
Có ba căn bản của thiện, này các
Tỷ-kheo. Thế nào là ba ? Không tham là căn bản của thiện, không sân là căn
bản của thiện, không si là căn bản của thiện.
Cái gì là không tham, này các Tỷ-kheo,
cái ấy thiện. Ai với lòng không tham có làm về thân, về lợi, về ý,
cái ấy thiện. Ai không có lòng tham, không bị lòng tham chinh phục, tâm
được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại,
trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên :
"Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh." Cái ấy là thiện. Như vậy, rất
nhiều thiện pháp này sanh từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi
từ không tham, khởi lên nơi người ấy.
Cái gì là không sân, này các Tỷ-kheo,
cái ấy thiện. Ai với lòng không sân có làm về thân, về lợi, về ý,
cái ấy thiện. Với ai không có lòng sân, không bị lòng sân chinh phục,
tâm được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát
hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên :
"Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh." Cái ấy là thiện. Như vậy, rất
nhiều thiện pháp này sanh từ không sân, duyên khởi từ không sân, tập khởi
từ không sân, khởi lên nơi người ấy.
Cái gì là không si, này các Tỷ-kheo,
cái ấy thiện. Ai với lòng không si có làm về thân, về lợi, về ý, cái
ấy thiện. Với ai không có lòng si, không bị lòng si chinh phục, tâm được
tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói
buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên : "Ta là
sức mạnh, ta có sức mạnh." Cái ấy là thiện. Như vậy, rất nhiều
thiện pháp này sanh từ không si, duyên khởi từ không si, tập khởi từ
không si, khởi lên nơi người ấy.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, người
này được gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói
đúng pháp, nói đúng luật. Vì sao người như vậy, này các Tỷ-kheo, được
gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp,
nói đúng luật ? Như vầy là vì người này, này các Tỷ-kheo, đã không vu
cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu
tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên : "Ta là sức mạnh, ta
có sức mạnh." Khi được đối chất với sự thật, người ấy chấp
nhận, không có phủ nhận ; khi được đối chất với sự thật, người
ấy nhiệt tình thoát mở ra ngoài, nói rằng : "Đây là chân, đây là
thực". Cho nên, người như vậy được gọi là người nói đúng thời,
nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp, nói đúng luật.
Người như vậy, này các Tỷ-kheo,
đoạn tận các ác bất thiện do tham sanh, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho
như thân cây tala, làm cho không hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi
trong tương lai, ngay trong hiện tại sống an lạc, không có tổn não, không
có ưu não, không có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, ngay trong hiện
tại được Bát-niết-bàn. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị
các ác bất thiện pháp do sân sanh nhiếp phục, tâm không mất tự chủ …
Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị các ác bất thiện pháp do si
sanh nhiếp phục, tâm không mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống an lạc,
không có tổn não, không có ưu não, sau khi thân hoại mạng chung, ngay trong
hiện tại được Bát-niết-bàn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, cây sàla
hay cây dhava, cây phandana, bị ba cây tầm gởi phá hoại bao trùm. Rồi có
người đi đến, cầm cuốc và thúng. Người ấy chặt đứt rễ cây tầm
gởi ấy, sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào mương. Đào mương xong,
người ấy nhổ các rễ lên, nhỏ cho đến các rễ nhỏ, rễ usira. Rồi người
ấy chặt cây tầm gởi thành từng khúc nhỏ, bửa và chẻ thành từng mảnh
nhỏ, người ấy đem phơi giữa gió và mặt trời. Sau khi phơi giữa gió
và mặt trời, người ấy lấy lửa đốt, làm thành một đống tro, và quạt
chúng ra giữa gió lớn, hay đổ chúng xuống dòng nước chảy nhanh. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, các cây tầm gởi ấy, bị cắt đứt gốc từ rễ, bị làm
cho như thân cây tala, làm cho không hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi
trong tương lai. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với người như vậy, các ác bất
thiện pháp do tham sanh đã được đoạn tận, được chặt từ gốc rễ,
được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được
làm cho không sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại được sống an
lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, ngay trong hiện
tại được Bát-niết-bàn … do sân, sanh … các ác bất thiện pháp do si
sanh đã được đoạn tận, được chặt từ gốc rễ, được làm cho như
thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không
sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại được sống an lạc, không
có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, ngay trong hiện tại được
Bát-niết-bàn
Những pháp này, này các Tỷ-kheo,
là ba căn bản của thiện.
CÁC LỄ UPOSATHA
Như vầy tôi nghe.
1. Một thời Thế Tôn ở Savatthi
(Xá-vệ), Pubbarama (Đông viên), lâu đài của mẹ Migara. Rồi Visakha, mẹ của
Migara, trong ngày Uposatha (Bố tát trai-giới) đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visakha, mẹ
của Migara đang ngồi xuống một bên :
- Này Visàkhà, từ đâu bà đến sáng
sớm như thế này ?
- Bạch Thế Tôn, hôm nay con thọ
trai giới.
- Có ba loại trai giới này, này
Visàkhà. Thế nào là ba ?
Trai giới người chăn bò, trai giới
Niganthà, trai giới bậc Thánh.
Như thế nào, này Visàkhà, là trai
giới người chăn bò ?
Ví như, này Visàkhà, người chăn bò
vào buổi chiều lùa các con bò về cho chủ của chúng. Người ấy suy nghĩ
: "Hôm nay, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống
nước tại chỗ này và chỗ này. Này mai, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ
này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này". Cũng vậy,
này Visàkhà, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ : "Hôm nay, ta đã
ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta đã ăn loại đồ
ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này. Ngày mai ta sẽ ăn loại đồ ăn cứng
này, loại đồ ăn cứng này ; ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ
ăn mềm này". Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành
với thâm dục. Như vậy, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò.
Này Visàkhà, thế nào là trai giới
các Nigantha ?
Ở đây, này Visàkhà, có hạng
Sa-môn tên là Niganthà, họ khích lệ đệ tử như sau : "Ông hãy quăng
bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Đông, ngoài một trăm do tuần.
Hãy quăng bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Tây, ngoài một
trăm do tuần … sống ở phương Bắc … sống ở phương Nam, ngoài một trăm
do tuần." Như vậy, họ khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn đối
với một số sinh loại mà thôi, họ không khích lệ vì lòng thương, vì
lòng từ mẫn, đối với một số sinh loại khác. Trong ngày Uposatha, họ
khích lệ đệ tử như sau : "Này các Ông, hãy quăng bỏ tất cả áo quần
và nói như sau : "Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất
cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không
có cái gì là của ta. ""Nhưng cha và mẹ của người ấy biết người
ấy là con của mình. Và người ấy biết họ là cha mẹ của mình. Vợ và
con người ấy biết người ấy là chồng, là cha của mình, và người ấy
biết họ là vợ, là con của mình. Các người nô tỳ làm công biết người
ấy là chủ của họ. Và người ấy biết họ là nô tỳ, là nhân viên của
mình. Như vậy, trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật,
trong thời gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo. Đây ta
tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, người ấy thọ hưởng
tất cả tài sản chưa đem cho. Đây ta tuyên bố là lấy của không cho. Như
vậy, này Visàkhà, là lễ Uposathà của các Niganthà không quả lớn, không
lợi ích lớn, không chói sáng, không ánh sáng lớn.
Và này Visàkhà, thế nào là trai giới
các bậc Thánh ? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp
thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là làm
thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi ?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử
niệm Phật : "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiên Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân Sư, Phật, Thế Tôn." Do vị ấy niệm Như Lai. tâm được tịnh tín,
hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này
Visàkhà, đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là đầu
uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi ?
Do duyên bột nhồi, do duyên đất sét,
do duyên nước và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. như vậy, này
Visàkhà, là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp
thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế
nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi ?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử
niệm Như Lai : "Đây là Thế Tôn, …, Phật, Thế Tôn". Do vị ấy
niệm Như Lai. tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của
tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử để thực
hành trai giới Phạm Thiên, vị ấy cùng sống với Phạm Thiên. Do duyên Phạm
Thiên, tâm vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của
tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột
sạch với phương pháp thích nghi.
Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được
gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế
nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi ?
Ở đây, này Visàkhà, vị Thánh đệ
tử niệm pháp : "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực
hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng
thượng, được nhà nước trí tự mình giác hiểu". Do vị ấy niệm
Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được
đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, thân uế nhiễm được gột sạch với
phương pháp thích nghi.
Này Visàkhà, thế nào là thân uế
nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi ? Do duyên sottim (một
thứ đá bọt dùng để chà lưng), do duyên bột tắm, do duyên nước và do
duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là thân uế
nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này
Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và như thế nào, này Visàkhà, là
tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi ?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử
niệm pháp : "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, … được người
trí tự mình giác hiểu". Do vị ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín,
hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này
Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành pháp trai giới, vị ấy sống
với pháp. Chính nhờ pháp, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các
phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, uế nhiễm
được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.
Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được
gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế
nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi ?
Ở đây, này Visàkhà, vị Thánh đệ
tử niệm Tăng : "Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn ; Trực hạnh
là chúng đệ tử Thế Tôn ; ứng lý là hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn ;
Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng.
Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng
cúng dường, đáng được bắt tay, là phước điền vô phượng ở đời".
Do vị ấy niệm Tăng, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền
não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, một tấm vải bị uế
được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là một tấm
vải bị uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi ?
Do duyên usam (đất mặn) do duyên |