-
- KINH
BRAHMAYU
- (Brahmayusuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn du hành ở
Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ,
Bà-la-môn Brahmayu trú tại Mithila (Di-tát-la) già yếu, niên cao, lạp lớn,
đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, tuổi đã đến
một trăm hai mươi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật,
tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là
các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế
luận và Đại nhân tướng. Bà-la-môn Brahmayu có nghe: "Sa-môn Gotama là
Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng
với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị". Tiếng đồn tốt đẹp
sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: "Đây là Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng
trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm
thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người.
Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài
thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài
tuyên dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự
chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy ! ".
Lúc bấy giờ đệ tử của Bà-la-môn
Brahmayu là thanh niên Uttara... một vị tinh thông ba tập Veda... (như trên)...
và Đại nhân tướng. Rồi Bà-la-môn Brahmayu bảo thanh niên Uttara:
– Này Uttara thân mến, Sa-môn
Gotama này là Thích tử... Chánh Đẳng Giác... (như trên)... Thật tốt đẹp
thay được yết kiến một vị A-la-hán như vậy. Uttara thân mến, hãy đi
đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy tìm hiểu Sa-môn Gotama, có phải là Tôn
giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải, hay là Tôn giả Gotama như
thế này, hay là không phải như thế này. Chính nhờ Ông mà chúng ta biết
về Tôn giả Gotama. Ta cũng vậy, tùy theo điều Ông nói, ta sẽ biết Tôn
giả Gotama có phải là Tôn giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải,
hay là Tôn giả Gotama như thế này, hay là không phải như thế này. Này
Uttara thân mến, theo Thánh điển của chúng ta được truyền lại về ba
mươi hai Đại nhân tướng, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn một
trong hai con đường, không có con đường nào khác: nếu là tại gia, sẽ
thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy
món báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ
báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một
ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại
quân. Vị này sống thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương,
và trị vì với Chánh pháp, không dùng gậy, không dùng đao. Nếu vị này
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác quét sạch mê lầm ở đời. Này Uttara thân mến,
ta đã cho con chú thuật, Ông đã nhận những chú thuật ấy.
– Thưa vâng, Tôn giả.
Thanh niên Uttara vâng đáp Bà-la-môn
Brahmayu, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Bà-la-môn Brahmayu, giữ thân
hướng về phía hữu, rồi ra đi du hành đến Thế Tôn ở Videha, tuần tự
du hành đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi
thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu,
liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Uttara tìm xem
ba mươi hai Đại nhân tướng trên thân Thế Tôn. Thanh niên Uttara thấy
trên thân Thế Tôn phần lớn ba mươi hai Đại nhân tướng, trừ hai tướng.
Đối với hai Đại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được
thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi
rộng dài. Rồi Thế Tôn nghĩ rằng: "Thanh niên Uttara này thấy ở nơi
Ta phần lớn ba mươi hai Đại nhân tướng, trừ hai tướng. Đối với hai
Đại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa
được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài".
Thế Tôn liền dùng thần thông khiến thanh niên Uttara thấy được tướng
mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai
lỗ tai; rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vùng
trán.
Rồi thanh niên Uttara suy nghĩ:
"Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai Đại nhân tướng. Vậy ta hãy
theo sát Sa-môn Gotama để dò xem các uy nghi (của Ngài)". Rồi thanh niên
Uttara trong bảy tháng theo sát Thế Tôn như bóng không bao giờ rời hình. Rồi
thanh niên Uttara, sau bảy tháng, khởi hành đi đến Mithila ở Videha, tuần tự
du hành đi đến Mithila, rồi đi đến Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đến, đảnh
lễ Bà-la-môn Brahmayu rồi ngồi xuống một bên. Bà-la-môn Brahmayu nói với
thanh niên Uttara đang ngồi một bên:
– Này Uttara thân mến, có phải tiếng
đồn về Tôn giả Gotama là đúng như vậy, không phải khác, có phải Tôn
giả Gotama là như vậy, không phải khác ?
– Tiếng đồn về Tôn giả Gotama
là đúng như vậy, không phải khác, Tôn giả Gotama là như vậy, không phải
khác. Và Tôn giả Gotama ấy có đầy đủ ba mươi hai Đại nhân tướng. Tôn
giả Gotama có lòng bàn chân bằng phẳng. Đây là Đại nhân tướng của Đại
nhân Tôn giả Gotama. Dưới hai bàn chân Tôn giả Gotama, có hiện ra hình
bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn
toàn đầy đủ. Tôn giả Gotama có gót chân thon dài. Tôn giả Gotama có
ngón tay, ngón chân dài. Tôn giả Gotama có tay chân mềm mại. Tôn giả
Gotama tay chân có màn da lưới. Tôn giả Gotama có mắt cá tròn như con sò.
Tôn giả Gotama có ống chân to như con dê rừng. Tôn giả Gotama đứng thẳng,
không cong lưng xuống có thể rờ đầu gối với hai bàn tay. Tôn giả
Gotama có tướng mã âm tàng. Tôn giả Gotama có màu da như đồng, màu sắc
như vàng. Tôn giả Gotama có da trơn mướt khiến bụi không có thể bám
dính vào. Tôn giả Gotama có lông da mọc từng lỗ lông một, mỗi lỗ chân
lông có một lông. Tôn giả Gotama có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi
lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy
tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt. Tôn giả Gotama có thân hình cao thẳng.
Tôn giả Gotama có bảy chỗ tròn đầy. Tôn giả Gotama có nửa thân trước
như thân con sư tử. Tôn giả Gotama không có lõm khuyết xuống giữa hai
vai. Tôn giả Gotama có thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao thân ngang bằng
bề dài hai tay sải rộng, bề dài hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của
thân. Tôn giả Gotama có bán thân trên vuông tròn. Tôn giả Gotama có vị
giác hết sức sắc bén. Tôn giả Gotama có quai hàm như con sư tử. Tôn giả
Gotama có bốn mươi răng. Tôn giả Gotama có răng đều đặn. Tôn giả
Gotama có răng không khuyết hở. Tôn giả Gotama có răng cửa trơn láng. Tôn
giả Gotama có tướng lưỡi rộng dài. Tôn giả Gotama có giọng nói tuyệt
diệu như tiếng chim ca-lăng- tần-già (karavika). Tôn giả Gotama có hai mắt
màu xanh đậm. Tôn giả Gotama có lông mi con bò cái. Tôn giả Gotama, giữa
hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên mịn màng như bông nhẹ. Tôn giả
Gotama có nhục kế trên đầu. Đây là Đại nhân tướng của Đại nhân
Tôn giả Gotama. Khi Tôn giả Gotama đi, Ngài bước chân mặt trước, không
đặt chân xuống quá xa, không rút chân lên quá gần, không bước quá mau,
không bước quá chậm, khi đi đầu gối không va chạm đầu gối, khi đi mắt
cá không va chạm mắt cá; Ngài đi không co bắp vế lên, không duỗi bắp vế
xuống, không đưa bắp vế vào trong, không đưa bắp vế ra ngoài. Khi đi Tôn
giả Gotama chỉ di động phần thân ở dưới, và không đi, dùng toàn thân
lực. Khi ngó quanh, Tôn giả Gotama ngó quanh với toàn thân. Khi đi không có
ngưỡng mặt lên, không cúi mặt xuống, không có ngó quanh, và chỉ ngó xuống
khoảng một tầm (yugamattam, bề dài một cái cày). Xa hơn, tri kiến được
mở rộng (anavatam: không bị che đậy). Khi đi vào nhà, (Tôn giả Gotama)
không ngửa thân về phía sau, không cúi thân về phía trước, không đưa thân
về phía trong, không đưa thân về phía ngoài; vị ấy quay lưng không quá
xa ghế ngồi, không quá gần ghế ngồi; ngồi trên ghế, không nắm chặt
thành ghế, không gieo thân ngồi xuống ghế. Khi ngồi trong nhà. Ngài không
rung tay, không rung chân, không ngồi tréo đầu gối với nhau, tréo mắt cá
với nhau, không ngồi tay chống cằm. Khi ngồi trong nhà, không có sợ hãi,
không có run rẩy, không có dao động, không có hoảng hốt. Như vậy Tôn giả
Gotama ngồi, không sợ hãi, không run sợ, không dao động, không hoảng hốt,
lông tóc không dựng ngược, Thiền tịnh độc cư. Khi nhận nước để rửa
bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình
bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá
ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát, không sanh tiếng động, rửa bát không
xoay tròn bình bát, không đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai
tay rửa xong, bát cũng rửa xong, khi bát rửa xong, tay cũng rửa xong. Ngài đổ
nước bình bát không quá xa, không quá gần, và không vẩy nước cùng khắp.
Khi Ngài nhận cơm, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống,
không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm
không quá ít, không quá nhiều. Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không
có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh
miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân
không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước
khi ăn miếng cơm khác. Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ
ăn, không thưởng thức lòng tham vị. Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy
đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê,
không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để
thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị
thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, Ta diệt
trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ
không lỗi lầm, sống được an ổn". Ngài ăn xong lấy nước rửa bát,
không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào
phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít,
không quá nhiều. Ngài rửa bát không sanh tiếng động, rửa bát không xoay
tròn bình bát, không có đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay
rửa xong, bình bát cũng rửa xong, khi bình bát rửa xong, hai tay cũng rửa
xong. Ngài đổ nước bình bát, không quá xa, không quá gần, không vẩy nước
cùng khắp. Khi ăn xong, Ngài đặt bình bát xuống đất, không quá xa, không
quá gần, không phải không nghĩ đến bình bát, cũng không quá lo cho bình
bát. Khi ăn xong, Ngài ngồi im lặng một lát nhưng không để quá thì giờ
nói lời tùy hỷ (công đức). Ngài nói lời tùy hỷ (công đức), không chỉ
trích bữa ăn ấy, không mong bữa ăn khác; trái lại, Ngài với pháp thoại
khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Ngài sau khi với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn
khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Ngài đi không
quá mau, không quá chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng
ấy. Tôn giả Gotama đắp y không kéo lên quá cao trên thân, không kéo xuống
quá thấp, không dính sát vào thân, không có lơi ra khỏi thân, gió thổi
không thoát y khỏi thân Tôn giả Gotama; bụi nhớp không dính trên thân Tôn
giả Gotama. Đi đến tu viện, Ngài ngồi trên ghế đã soạn sẵn, sau khi ngồi
liền rửa chân, và Tôn giả Gotama không sống chú tâm vào công việc làm
đẹp hai chân. Ngài ngồi kiết già, lưng thẳng, và đặt niệm trước mặt.
Ngài không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến
hại cả hai. Tôn giả Gotama ngồi, tâm hướng đến lợi mình, lợi người,
lợi cả hai, lợi toàn thế giới. Đi đến tu viện, Ngài thuyết pháp cho hội
chúng, không tán dương hội chúng ấy, không chỉ trích hội chúng ấy,
trái lại với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ làm cho phấn
khởi, làm cho hoan hỷ. Tiếng nói thoát ra từ miệng Tôn giả Gotama có tám
đức tánh; lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân
minh, thâm sâu và vang động. Khi Tôn giả Gotama giải thích cho hội chúng với
tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi hội chúng. Hội chúng
sau khi được Tôn giả Gotama khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm
cho thích thú, làm cho hoan hỷ, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi vẫn
quay nhìn lại, không muốn rời bỏ. Chúng con thấy Tôn giả Gotama đi. Chúng
con thấy (Tôn giả) đứng. Chúng con thấy (Tôn giả) ngồi im lặng trong
nhà. Chúng con thấy (Tôn giả) ăn trong nhà. Chúng con thấy (Tôn giả) sau
khi ăn xong, ngồi im lặng. Chúng con thấy (Tôn giả) sau khi ăn xong, nói lời
tùy hỷ (công đức). Chúng con thấy (Tôn giả) đi trở về tu viện. Chúng
con thấy (Tôn giả) đi đến tu viện ngồi im lặng. Chúng con thấy (Tôn giả)
đi đến tu viện thuyết pháp cho hội chúng. Như vậy, và như vậy là Tôn
giả Gotama ấy và lại còn nhiều hơn như vậy nữa.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Brahmayu
từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng
đến Thế Tôn, và ba lần nói lời cảm hứng sau đây:
– Đảnh lễ Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác ! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác ! Có thể tại một
chỗ nào, thời gian nào, chúng tôi sẽ đi đến gặp Tôn giả Gotama ấy.
Có lẽ sẽ có một cuộc nói chuyện.
Rồi Thế Tôn, tuần tự du hành ở
Videha và đi đến Mithila. Ở đấy, Thế Tôn trú tại rừng xoài Makhadeva
ở Mithila. Các Bà-la-môn, Gia chủ ở Mithila nghe nói: "Sa-môn Gotama là
Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành ở Videha, cùng với
đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị đã đến Mithila và hiện trú ở rừng
xoài Makhadeva, tại Mithila. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền
đi về Tôn giả Gotama: "... (như trên)... được yết kiến một vị
A-la-hán như vậy ! " Rồi các Bà-la-môn, Gia chủ ở Mithila đi đến chỗ
Thế Tôn, sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên; một số nói lên những lời chào đón hỏi thăm Thế Tôn, sau khi nói
lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một
số chắp tay hướng vái Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số xưng
danh họ rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng rồi ngồi xuống một
bên.
Bà-la-môn Brahmayu nghe như sau:
"Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đã đến
Mithila và trú ở Mithila tại rừng xoài Makhadeva". Rồi Bà-la-môn
Brahmayu đi đến rừng xoài Makhadeva cùng với một số đông thanh niên
Bà-la-môn. Khi đến không xa rừng xoài bao nhiêu, Bà-la-môn Brahmayu khởi
lên ý nghĩ: "Thật không thích đáng cho ta đến yết kiến Sa-môn Gotama
mà không báo trước". Rồi Bà-la-môn Brahmayu bảo một người thanh niên:
– Này Thanh niên, hãy đi đến Sa-môn
Gotama, sau khi đến hãy nhân danh ta hỏi thăm Sa-môn Gotama có ít bệnh, ít
não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú: "Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn
Brahmayu hỏi thăm Tôn giả Gotama có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe,
lạc trú và thưa như sau: "Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Brahmayu già yếu,
niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời,
tuổi đã đến một trăm hai mươi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp
trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên
và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu
Thuận thế luận và Đại nhân tướng. Thưa Tôn giả, đối với các
Bà-la-môn, Gia chủ sống tại Mithila, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối
thượng về phương diện tài sản, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng
về phương diện chú thuật (manta), Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng
về phương diện tuổi tác và danh vọng. Vị ấy muốn yết kiến Tôn giả
Gotama".
– Thưa vâng, Tôn giả.
Thanh niên ấy vâng đáp Bà-la-môn
Brahmayu, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi
thăm Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền
đứng một bên. Đứng một bên, thanh niên ấy bạch Thế Tôn:
– Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn
Brahmayu hỏi thăm Tôn giả Gotama có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe,
lạc trú: "Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Brahmayu già yếu... (như trên)...
và Đại nhân tướng. Thưa Tôn giả, đối với các Bà-la-môn, Gia chủ sống
ở Mithila, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện tài
sản, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện chú thuật
(manta), Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện tuổi
tác và danh vọng. Vị ấy muốn yết kiến Tôn giả Gotama".
– Này Thanh niên, nay Bà-la-môn
Brahmayu hãy làm những gì vị ấy nghĩ là hợp thời.
Rồi vị thanh niên ấy đi đến Bà-la-môn
Brahmayu, sau khi đến, liền thưa với Bà-la-môn Brahmayu:
– Tôn giả đã được Sa-môn
Gotama chấp nhận. Nay Tôn giả hãy làm những gì Tôn giả nghĩ là hợp thời.
Rồi Bà-la-môn Brahmayu đi đến Thế
Tôn. Hội chúng ấy thấy Bà-la-môn Brahmayu từ xa đi đến, sau khi thấy liền
tránh chỗ hai bên vì vị này được nhiều người biết đến và có danh vọng.
Bà-la-môn Brahmayu nói với hội chúng ấy:
– Thôi vừa rồi, các Tôn giả,
hãy ngồi trên chỗ ngồi của mình. Ở đây, tôi sẽ ngồi gần Sa-môn
Gotama.
Rồi Bà-la-môn Brahmayu đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm Thế Tôn, sau khi
nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Brahmayu tìm xem ba mươi hai Đại nhân
tướng trên thân Thế Tôn. Bà-la-môn Brahmayu thấy phần lớn ba mươi hai Đại
nhân tướng trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng, đối với hai Đại nhân tướng
ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài
lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài. Rồi
Bà-la-môn Brahmayu nói với Thế Tôn những bài kệ sau đây:
- Tôn giả Gotama !
- Ba hai Đại nhân tướng,
- Con được nghe nói đến,
- Hai tướng con không thấy
- Trên thân của Tôn giả,
- Tôn giả, mã âm tàng,
- Bậc tối thượng loài Người,
- Ngài có hay không có ?
- Hay là tướng nữ nhân ?
- Hay lưỡi Ngài quá ngắn ?
- Hay lưỡi Ngài rộng dài ?
- Để con như thật biết.
- Hãy đưa lưỡi Ngài ra,
- Mong bậc Đại Tiên Nhân,
- Trừ nghi cho chúng con,
- Vì an lạc hiện tại,
- Vì hạnh phúc tương lai,
- Chúng con xin được phép,
- Hỏi điều muốn được biết.
Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Bà-la-môn
Brahmayu này thấy trên thân Ta phần lớn ba mươi hai Đại nhân tướng, trừ
hai tướng, đối với hai Đại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh,
chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là mã tướng âm tàng
và tướng lưỡi rộng dài". Thế Tôn liền dùng thần thông khiến
Bà-la-môn Brahmayu thấy được tướng mã âm tàng của Thế Tôn, và Thế
Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai; rờ đến liếm đến hai lỗ
mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vùng trán.
Rồi Thế Tôn trả lời Bà-la-môn
Brahmayu với bài kệ:
- Ba hai Đại nhân tướng,
- Ông đã được nghe đến,
- Đều có trên thân Ta,
- Hiền giả, chớ có nghi !
- Điều cần biết, đã biết,
- Điều cần tu, đã tu,
- Điều cần trừ, đã trừ,
- Do vậy, Ta là Phật.
- (Này Bà-la-môn ! )
- Vì an lạc hiện tại,
- Vì hạnh phúc tương lai,
- Ông được phép vấn hỏi,
- Những điều Ông muốn biết.
Rồi Bà-la-môn Brahmayu suy nghĩ như
sau: "Nay Sa-môn Gotama đã cho phép ta. Vậy ta nên hỏi Sa-môn Gotama về mục
đích hiện tại hay tương lai". Rồi Bà-la-môn Brahmayu suy nghĩ: "Ta
đã thiện xảo về mục đích hiện tại và các người khác hỏi ta về mục
đích hiện tại. Vậy ta hãy hỏi Sa-môn Gotama về mục đích tương
lai". Rồi Bà-la-môn Brahmayu dùng bài kệ thưa Thế Tôn:
- Thế nào (là) Bà-la-môn ?
- Thế nào thông Vệ-đà ?
- Thế nào là ba minh ?
- Thế nào gọi cát tường ?
- Thế nào là ứng cúng ?
- Thế nào bậc Viên mãn ?
- Thế nào bậc Mâu-ni ?
- Thế nào gọi Phật-đà ?
Rồi Thế Tôn dùng bài kệ trả lời
Bà-la-môn Brahmayu:
- Ai biết được đời trước,
- Thấy thiện thú, ác thú,
- Đoạn tận được tái sanh,
- Thắng trí được viên thành,
- Vị ấy gọi Mâu-ni.
- Ai biết tâm thanh tịnh,
- Giải thoát gọi tham dục,
- Sanh tử đều đoạn tận,
- Phạm hạnh được viên thành,
- Thông đạt nhứt thiết pháp,
- Vị ấy xưng Phật-đà.
Khi được nghe vậy, Bà-la-môn
Brahmayu từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu
xuống dưới chân Thế Tôn, dùng miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, lấy
tay rờ xung quanh và tự xưng danh:
– Thưa Tôn giả Gotama, con là
Bà-la-môn Brahmayu.
Và hội chúng ấy tâm tư trở thành
kinh dị, vi diệu: "Thật vi diệu thay ! Thật hy hữu thay, đại uy lực,
đại thần lực của vị Sa-môn đã khiến cho Bà-la-môn Brahmayu này, với
danh tiếng, danh vọng như vậy, lại hạ mình tối đa như vậy". Rồi
Thế Tôn nói với Bà-la-môn Brahmayu:
– Thôi vừa rồi, Bà-la-môn, hãy
đứng dậy. Ông hãy ngồi trên ghế của Ông vì tâm của Ông đã hoan hỷ
đối với Ta.
Rồi Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đứng
dậy, liền ngồi trên ghế của mình. Rồi Thế Tôn thứ lớp thuyết pháp
cho Bà-la-môn Brahmayu, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về
các cõi Trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục
lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn
Brahmayu đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn
khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã đề cao, tức
là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa
các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi
này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Brahmayu:
"Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt".
Bà-la-môn Brahmayu thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp,
nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tin, không y cứ nơi
người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Brahmayu liền
bạch Thế Tôn:
– Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Như người dựng đứng lại những
gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho
người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có
mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama
dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y
Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ
nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng ! Mong Tôn giả Gotama
ngày mai nhận lời mời của con đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo !
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi
Bà-la-môn Brahmayu khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi
ra đi.
Bà-la-môn Brahmayu sau khi đêm ấy đã
mãn, sau khi đã sửa soạn tại trú xá của mình các món ăn thượng vị,
loại cứng và loại mềm, liền báo thì giờ cho Thế Tôn: "Tôn giả
Gotama, nay đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng". Rồi Thế Tôn buổi sáng
đắp y, lấy y bát, đi đến trú xá của Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đến liền
ngồi trên chỗ đã soạn sẵn với chúng Tỷ-kheo. Bà-la-môn Brahmayu tự tay
làm cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn bằng những
món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
Rồi Thế Tôn sau bảy ngày liền khởi
sự du hành ở Videha.
Sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu,
Bà-la-môn Brahmayu mệnh chung. Một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau
khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một
bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
– Bà-la-môn Brahmayu đã mệnh
chung. Sanh thú của vị ấy là gì, tương lai tái sanh thế nào ?
– Này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn
Brahmayu là bậc hiền triết. Vị ấy theo Pháp đúng với Chánh pháp, không
có phiền nhiễu Ta với những kiện cáo về Chánh pháp (Dhammadhikaranam).
Này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử,
được hóa sanh, từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không có trở lui đời này nữa.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.