- KINH KITAGIRI
- (Kitagirisuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn du hành ở Kasi cùng với đại
chúng Tỷ-kheo. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, Ta ăn, từ bỏ ăn ban đêm.
Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Ta cảm thấy ít bệnh,
ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Này các Tỷ-kheo, hãy đến
và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban
đêm, các Ông sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực
và an trú.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn
tiếp tục du hành ở Kasi và đến một thị trấn xứ Kasi tên là
Kitagiri. Rồi Thế Tôn ở tại Kitagiri, một thị trấn xứ Kasi. Lúc bấy
giờ Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka đang ở Kitagiri. Rồi một số đông
Tỷ-kheo đi đến chỗ Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka, sau khi đến,
nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka như sau:
Chư Hiền, Thế Tôn ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Cả
chúng Tỷ-kheo cũng vậy. Do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các vị ấy cảm
thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Chư Hiền,
hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Chư Hiền, do ăn, từ bỏ ăn
ban đêm, chư Hiền sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức
lực và an trú.
Được nói vậy, Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka,
nói với các Tỷ-kheo ấy:
Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban
ngày và ăn phi thời. Do chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày
và ăn phi thời, chúng tôi cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có
sức lực và an trú. Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo
tương lai ? Chúng tôi sẽ ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi
thời.
Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Assaji và
Tỷ-kheo Punabbasuka chấp thuận, nên các vị ấy đi đến chỗ Thế Tôn,
sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi
xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến chỗ
các Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka, sau khi đến chúng con nói với Tỷ-kheo
Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka như sau: "Chư hiền, Thế Tôn ăn, từ
bỏ ăn ban đêm... (như trên)... có sức lực và an trú". Bạch
Thế Tôn, được nói vậy. Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka nói
với chúng con như sau: "Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng,
ăn ban ngày và ăn phi thời... (như trên)... chúng tôi sẽ ăn chiều,
ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời". Bạch Thế Tôn, vì chúng
con không thể làm cho Tỷ-kheo `Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka chấp thuận,
nên chúng con trình sự việc này lên Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:
Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, bảo Tỷ-kheo
Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka: "Bậc Đạo Sư cho gọi các Tôn
giả".
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Assaji
và Tỷ-kheo Punabbasuka, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo
Punabbasuka:
Bậc Đạo Sư cho gọi các Tôn giả.
Thưa vâng, Hiền giả.
Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka vâng đáp Tỷ-kheo
ấy, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi
xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka
đang ngồi một bên:
Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, một số đông
Tỷ-kheo đến các Ông và nói như sau: "Chư Hiền, Thế Tôn ăn,
từ bỏ ăn ban đêm, cả chúng Tỷ-kheo cũng vậy. Do ăn, từ bỏ ăn
ban đêm, các vị ấy cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức
lực và an trú. Chư Hiền, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm.
Chư Hiền, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, chư Hiền sẽ cảm thấy ít
bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú". Được nói
vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với các Tỷ-kheo ấy như sau:
"Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi
thời. Do ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời, chúng
tôi cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Sao
chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai ? Chúng tôi sẽ ăn
chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời"?
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Này các Tỷ-kheo , các Ông có hiểu pháp Ta dạy
như sau: "Một cá nhân cảm thọ bất cứ cảm giác nào, lạc,
khổ, hay bất khổ bất lạc; đối với người ấy, các pháp bất
thiện được đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng"?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Này các Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta dạy
như sau: "Ở đây đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ
như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, ở đây, đối với
một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị
đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng, ở đây, đối
với một người khi cảm thọ khổ thọ như vậy, các bất thiện pháp
được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối
với một người, khi cảm thọ khổ thọ như vậy, các bất thiện pháp
bị đoạn trừ, các thiện pháp được tăng trưởng, ở đây, đối
với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các
bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt;
ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ
như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được
tăng trưởng"?
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Lành thay, này các Tỷ-kheo ! Này các Tỷ-kheo,
nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không
chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: "Ở đây, đối với
một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp
được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt", có thể
chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: "Hãy
từ bỏ lạc thọ như vậy"? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là
xứng đáng đối với Ta chăng ?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta
biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng:
"Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy,
các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn
diệt", do vậy Ta nói: "Hãy từ bỏ lạc thọ như vậy".
Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không
giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: "Ở
đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất
thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng",
có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói:
"Hãy chứng và trú lạc thọ như vậy"? Và như vậy, này các
Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng ?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Nhưng này các Tỷ-kheo, vì sự việc này Ta biết,
Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: "Ở
đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các
thiệ? pháp được tăng trưởng, các bất thiện pháp bị đoạn
diệt", do vậy Ta nói: "Hãy chứng và trú lạc thọ như vậy.
Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết,
không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ
rằng: "Ở đây, đối với một người khi cảm giác khổ thọ...
(như trên)... khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất
thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt",
có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói:
"Hãy từ bỏ bất khổ bất lạc thọ như vậy" ? Và như vậy,
này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng ?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta
biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng:
"Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc
thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện
pháp bị đoạn diệt", do vậy Ta nói: "Hãy từ bỏ bất khổ
bất lạc thọ như vậy". Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta
không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải
với trí tuệ rằng: "Ở đây, đối với một người, khi cảm
thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn
diệt, các thiện pháp được tăng trưởng", có thể chăng, này
các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: "Hãy chứng và
trú bất khổ bất lạc thọ như vậy"? Và như vậy, này các
Tỷ-kheo là xứng đáng đối với Ta chăng ?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta
biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng:
"Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc
thọ như vậy, các thiện pháp được tăng trưởng, các bất thiện
pháp bị đoạn diệt", do vậy Ta nói: "Hãy chứng và trú bất
khổ bất lạc thọ như vậy".
Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả
Tỷ-kheo, có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các
Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không có sự
việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đối
với những Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận,
tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh
nặ?g xuống, đã thành đạt được lý tưởng, đã tận trừ hữu
kiết sử, chánh trí giải thoát; này các Tỷ-kheo, đối với những
Tỷ-kheo như vậy, Ta nói rằng không có sự việc cần phải làm, nhờ
không phóng dật. Vì sao vậy ? Vì sự việc ấy đã được các vị
này làm, nhờ không phóng dật. Các vị này không thể trở thành
phóng dật. Và này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo còn là các
bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô
thượng an ổn khỏi các triền ách; này các Tỷ-kheo, đối với
những Tỷ-kheo như vậy, Ta nói rằng có sự việc cần phải làm,
nhờ không phóng dật. Vì sao vậy ? Dầu cho trong khi các bậc Tôn giả
này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu,
chế ngự các căn, các vị ấy (cần phải) tự mình nhờ thượng trí
chứng ngộ chứng đạt, và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô
thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này, các Thiện gia nam tử chân
chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này
các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo này, vì thấy quả này của
không phóng dật nên Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không
phóng dật.
Này các Tỷ-kheo có bảy hạng người sống trong đời
này. Thế nào là bảy ? Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải
thoát, bậc thân chứng, bậc kiến đáo, bậc tín giải thoát, bậc
tùy pháp hành, bậc tùy tín hành.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc câu phần giải
thoát ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân đã
chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và
vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của
vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này, này các Tỷ-kheo,
được gọi là hạng người câu phần giải thoát. Này các Tỷ-kheo,
đối với Tỷ-kheo này, Ta không có sự việc cần phải làm, nhờ
không phóng dật. Vì sao vậy ? Vì sự việc ấy đã được vị này
làm, nhờ không phóng dật, vị ấy không có thể trở thành phóng
dật.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc tuệ giải thoát
? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân không chứng
đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô
sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị
này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là
bậc tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói
không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy
? Vì sự việc ấy đã được vị này làm, nhờ không phóng dật; vị
ấy không có thể trở thành phóng dật.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc thân chứng ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi thân chứng đắc các
tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp,
và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị này
được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là bậc
thân chứng. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự
việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy ? Dầu cho trong
khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các
thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với
thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại
mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia
nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng
dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm,
nhờ không phóng dật.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc kiến đáo ? Ở
đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi tự thân không chứng đắc
các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc
pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị
này được đoạn trừ hoàn toàn; và các pháp do Như Lai tuyên
thuyết được vị này thấy một cách hoàn toàn với trí tuệ và
thực hành một cách hoàn toàn. Này các Tỷ-kheo, vị này được
gọi là kiến đáo. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói
có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy ? Dầu
cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp ... ...
sống không gia đình. Do vậy này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của
không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc
cần phải làm, nhờ không phóng dật.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tín
giải thoát ? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người, sau khi tự thân
chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc pháp và
vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc
của vị này được đoạn trừ một cách hoàn toàn; và lòng tin của
vị này đối với Như Lai đã được xác định, phát sanh từ căn
để, an trú. Này các Tỷ kheo, vị này được gọi là bậc tín giải
thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc
cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy ? Dầu cho trong khi
Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp... ...sống không gia
đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng
dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm,
nhờ không phóng dật.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tùy
pháp hành ? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người sau khi tự thân
không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc
pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, nhưng các
lậu hoặc không được đoạn trừ một cách hoàn toàn; và các
pháp do Như Lai tuyên thuyết (chỉ) được vị này chấp nhận một cách
vừa phải với trí tuệ, dầu cho vị này có những pháp như là tín
căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, vị
này được gọi là người tùy pháp hành. Này các Tỷ-kheo, đối
với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không
phóng dật. Vì sao vậy ? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các
sàng tọa đúng pháp... ... sống không gia đình. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với
Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng
dật.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người tùy tín
hành? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi tự thân không
chứng đắc có tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và
vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, nhưng các lậu hoặc
không được đoạn trừ. Nhưng nếu vị này có đủ lòng tin và lòng
thương Như Lai, thời vị này sẽ có những pháp như là tín căn, tấn
căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, vị này được
gọi là người tùy tín hành. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo
này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì
sao vậy ? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng
pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, nhưng vị này
(cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an
trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục
đích này các Thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của
phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần
phải làm, nhờ không phóng dật.
Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng trí tuệ được
hoàn thành lập tức. Nhưng này các Tỷ-kheo, trí tuệ được hoàn
thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ. Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ được hoàn thành nhờ học
từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ ? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, một vị có lòng tin đi đến gần; sau khi đến gần, vị ấy tỏ
sự kính lễ; sau khi tỏ sự kính lễ, vị ấy lóng tai; sau khi lóng tai,
vị ấy nghe pháp; sau khi nghe pháp, vị ấy thọ trì pháp, vị ấy suy tư
ý nghĩa các pháp được thọ trì; sau khi suy tư ý nghĩa các pháp
được chấp thuận; sau khi các pháp được chấp thuận, ước muốn
sanh khởi; sau khi ước muốn sanh khởi, vị ấy nỗ lực; sau khi nỗ
lực vị ấy cân nhắc; sau khi cân nhắc, vị ấy tinh cần. Do tinh cần,
vị ấy tự thân chứng được sự thật tối thượng, và với trí
tuệ thể nhập sự thật ấy, vị ấy thấy. Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu
không có lòng tin ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự đến
gần ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có tỏ sự kính lễ ấy,
thời này các Tỷ-kheo, không có sự lóng tai ấy, thời này các
Tỷ-kheo, không có sự nghe pháp ấy, thời này Tỷ-kheo, không có
sự thọ trì pháp ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự suy tư
ý nghĩa ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự chấp thuận pháp
ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự ước muốn ấy, thời này
các Tỷ-kheo, không có sự nỗ lực ấy, thời này các Tỷ-kheo,
không có sự cân nhắc ấy, thời này các Tỷ-kheo không có sự
tinh cần ấy. Này các Tỷ kheo, ở đây, các Ông đã đi vào phi
đạo. Này các Tỷ-kheo, ở đây, các Ông đã đi vào tà đạo.
Thật là quá xa, này các Tỷ-kheo, các kẻ ngu này đã đi ra ngoài
pháp luật này.
Này các Tỷ-kheo, có sự thuyết trình gồm có bốn
phần (Catuppadam = Bốn cú) chính nhờ thuyết trình này người có trí,
không bao lâu, nhờ tuệ biết được ý nghĩa. Ta sẽ đọc sự thuyết
trình ấy lên cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các Ông nhờ Ta mà sẽ
hiểu thuyết trình ấy.
Bạch Thế Tôn, chúng con là ai có thể biết
được pháp ?
Này các Tỷ-kheo, cho đến một bậc Đạo sư sống
quá trọng vọng tài vật, là vị thừa tự tài vật, và sống liên
hệ với tài vật, thời sự mua may bán đắt này không xảy ra:
"Chúng tôi sẽ làm việc này như vậy, và như vậy chúng tôi sẽ
không làm việc này như vậy", huống nữa là Như Lai, này các
Tỷ-kheo, là vị sống hoàn toàn không liên hệ với các tài vật.
Này các Tỷ-kheo, đối với một đệ tử, có lòng tin giáo pháp
bậc Đạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, thời tùy pháp
(anudhamma) được khởi lên: "Bậc Đạo sư là Thế Tôn, đệ tử
là tôi. Thế Tôn biết, tôi không biết". Này các Tỷ-kheo, đến
với một đệ tử, có lòng tin giáo pháp bậc Đạo sư và sống thể
nhập giáo pháp ấy, thời giáo pháp bậc Đạo sư được hưng thịnh
được nhiều sinh lực. Này các Tỷ-kheo, đối với đệ tử có
lòng tin giáo pháp bậc Đạo Sư và sống thể nhập giáo pháp ấy,
thời tùy pháp này được khởi lên: "Dầu chỉ còn da, gân và
xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh
tấn lực để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng
phu nhẫn nại, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần
dõng". Này các Tỷ-kheo, đối với một đệ tử có lòng tin
giáo pháp bậc Đạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, vị ấy sẽ
chứng được một trong hai quả như sau: Chánh trí ngay trong hiện tại,
và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.
Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín
thọ lời Thế Tôn dạy.