- KINH
NALAKAPANA
- (Nalakapanasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala
(Câu-tát-la) tại Nalakapana, rừng cây Palasa. Lúc bấy giờ nhiều
Thiện gia nam tử có danh tiếng, vì lòng tin Thế Tôn, đã xuất gia,
từ bỏ gia đình, sống không gia đình, như Tôn giả Anuruddha
(A-na-luật-đà) Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila, Tôn giả Bhagu, Tôn
giả Kundadhana, Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda và một số Thiện gia nam
tử danh tiếng khác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn ngồi ở giữa trời,
có chúng Tỷ-kheo vây quanh. Rồi Thế Tôn nhân vì các Thiện gia nam
tử ấy, bảo các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, các Thiện gia nam tử ấy vì
lòng tin Ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này
các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy có hoan hỷ trong Phạm hạnh không ?
Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng. Lần
thứ hai... (như trên)... lần thứ ba, Thế Tôn, nhân vì các Thiện gia
nam tử ấy, bảo các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, các Thiện gia nam tử ấy vì
lòng tin Ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này
các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy có hoan hỷ trong Phạm hạnh không ?
Cho đến lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: "Nay Ta hãy hỏi các
Thiện gia nam tử ấy". Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Anuruddha:
Này các Anuruddha, các Ông có hoan hỷ trong phạm
hạnh không ?
Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con hoan hỷ trong Phạm
hạnh.
Lành thay, lành thay, các Anuruddha. Này các
Anuruddha, thật xứng đáng cho các Ông, những Thiện gia nam tử, vì
lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông có
hoan hỷ trong Phạm hạnh. Này các Anuruddha, trong khi các Ông với tuổi
trẻ tốt đẹp, trong tuổi thanh xuân, với tóc đen nhánh, có thể
hưởng thụ các dục lạc, thời các Ông, này các Anuruddha, với
tuổi trẻ tốt đẹp, trong tuổi thanh xuân, với tóc đen nhánh, lại
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Anuruddha, các
Ông không vì mệnh lệnh của vua mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình. Các Ông không vì mệnh lệnh của kẻ ăn trộm mà
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Ông không vì
nợ nần... không vì sợ hãi... Các Ông không vì mất nghề sinh sống
mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng có phải
với tư tưởng như sau: "Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não
áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể
thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này" mà các Ông,
này các Anuruddha, vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không
gia đình ?
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Và xuất gia như vậy, này các Anuruddha, người
Thiện gia nam tử cần phải làm gì ? Này các Anuruddha, ly dục, ly bất
thiện pháp. Nếu không chứng được hỷ lạc hay một trạng thái
khác an tịnh hơn, thời dục tham xâm chiếm tâm và an trú, sân xâm
chiếm tâm và an trú, hôn trầm, thụy miên... trạo cử, hối quá...
nghi hoặc... bất lạc... giải đãi xâm chiếm tâm và an trú. Này các
Anuruddha, ly dục, ly bất thiện pháp, vị ấy chứng được hỷ lạc hay
một trạng thái khác an tịnh hơn. Này các Anuruddha, ly dục, ly bất
thiện pháp, vị ấy chứng được hỷ lạc hay một trạng thái khác an
tịnh hơn, thời dục tham không xâm chiếm tâm và an trú, sân không
xâm chiếm tâm và an trú, hôn trầm thụy miên... trạo cử hối
quá... nghi hoặc... bất lạc... giải đãi không xâm chiếm tâm và an
trú. Này các Anuruddha, ly dục, ly bất thiện pháp, vị ấy chứng
được hỷ lạc hay một trạng thái khác an tịnh hơn.
Này các Anuruddha, các Ông nghĩ về Ta như thế nào ?
Các lậu hoặc nào liên hệ đến phiền não sanh khởi hậu hữu,
đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ di thục, hướng đến sanh, già,
chết trong tương lai, các lậu hoặc ấy chưa được Như Lai đoạn trừ.
Do vậy Như Lai sau khi suy tư phân tích, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư
phân tích, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư phân tích, từ bỏ một
pháp, sau khi suy tư phân tích, đoạn trừ một pháp ?
Bạch Thế Tôn, chúng con không có nghĩ như vậy
về Thế Tôn: "Các lậu hoặc nào liên hệ đến phiền não, sanh
khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng
đến sanh, già, chết trong tương lai, các lậu hoặc ấy chưa được Như
Lai đoạn trừ. Do vậy Như Lai sau khi suy tư phân tích, thọ dụng một
pháp; sau khi suy tư phân tích, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư phân
tích từ bỏ một pháp; sau khi suy tư phân tích, đoạn trừ một
pháp". Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ về Thế Tôn như sau: "Các
lậu hoặc nào liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng
sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết
trong tương lai, các lậu hoặc ấy đã được Như Lai đoạn trừ. Do
vậy, Như Lai sau khi suy tư phân tích, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư
phân tích, nhẫn thọ một pháp, sau khi suy tư phân tích, từ bỏ một
pháp; sau khi suy tư phân tích, đoạn trừ một pháp.
Lành thay, lành thay, này các Anuruddha ! Các lậu
hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi,
đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương
lai đã được Như Lai đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân
cây tala không thể sanh lại, không thể sanh khởi trong tương lai. Ví
như, này các Anuruddha, cây tala đầu cây đã bị chặt đứt, không
thể lớn lên nữa, cũng vậy này các Anuruddha, các lậu hoặc liên
hệ đến phiền não... (như trên)... không thể sanh khởi trong tương
lai. Do vậy Như Lai sau khi suy tư phân tích, thọ dụng một pháp; sau khi
suy tư phân tích, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư phân tích, từ bỏ
một pháp; sau khi suy tư phân tích, đoạn trừ một pháp.
Này các Anuruddha, các Ông nghĩ thế nào ? Do thấy mục
đích đặc biệt nào, Như Lai giải thích sự tái sanh của các đệ
tử đã từ trần, đã mệnh chung, nói rằng. "Vị này tái sanh
ở chỗ này, vị này tái sanh ở chỗ này".
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp
dựa Thế Tôn làm căn bản, hướng Thế Tôn làm lãnh đạo, nương
tựa Thế Tôn làm y cứ. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn
thuyết giảng cho ý nghĩa này.
Sau khi được nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Này các Anuruddha, Như Lai không vì mục đích
lường gạt quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng,
không vì mục đích lợi lộc, trọng vọng, danh xưng, quyền lợi vật
chất, không vì với ý nghĩ: Như vậy quần chúng sẽ biết Ta"; mà
Như Lai giải thích sự tái sanh các vị đệ tử đã từ trần đã
mệnh chung, nói rằng: "Vị này tái sanh ở chỗ này, vị này tái
sanh ở chỗ này". Và này các Anuruddha, có những Thiện gia nam
tử có tin tưởng với tín thọ cao thượng, với hoan hỷ cao
thượng, sau khi được nghe như vậy, sẽ chú tâm trên như thật
(Tathata). Như vậy, này các Anuruddha, là hạnh phúc, là an lạc lâu
đời cho các vị ấy.
Ở đây, này các Anuruddha, Tỷ-kheo có nghe:
"Tỷ-kheo với tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên
bố về vị này: "Vị ấy an trú chánh trí". Vị Tôn giả ấy
đã được thấy hay đã được nghe: "Tôn giả này có giới
hạnh như vậy, Tôn giả này có pháp như vậy, Tôn giả này có trí
tuệ như vậy, Tôn giả này có an trú như vậy, Tôn giả này có
giải thoát như vậy". Tỷ-kheo khi nhớ đến lòng tin, giới hạnh,
đa văn, bố thí và trí tuệ của vị kia, bèn chú tâm trên như thật.
Như vậy, này các Anuruddha, Tỷ-kheo được sống lạc trú. Ở đây,
này các Anuruddha, Tỷ-kheo có nghe: "Tỷ-kheo với tên như thế này,
đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên bố về vị này: "Sau khi đoạn
trừ năm hạ phần kiết sử vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn
tại chỗ ấy, không còn phải trở lui ở đời này nữa". Tôn
giả ấy đã được thấy hay đã được nghe: "Tôn giả này có
giới hạnh như vậy, Tôn giả này có pháp như vậy... (như trên)...
có trí tuệ như vậy,... có an trú như vậy, Tôn giả này có giải
thoát như vậy". Tỷ-kheo khi nhớ đến lòng tin... (như trên)... và
trí tuệ của vị kia bèn chú tâm trên như thật. Như vậy, này các
Anuruddha, Tỷ-kheo được sống lạc trú. Ở đây, này các Anuruddha,
Tỷ-kheo có nghe: "Tỷ-kheo với tâm như thế này đã mệnh chung.
Thế Tôn có tuyên bố về vị này: "Sau khi diệt trừ ba kiết sử,
sau khi làm cho nhẹ bớt tham , sân, si, vị ấy chứng Nhất Lai, chỉ phải
trở lui đời này một lần nữa rồi sẽ diệt tận khổ đau".
Tôn giả ấy đã được thấy hay đã được nghe: "Tôn giả này
có giới hạnh như vậy... Tôn giả này có giải thoát như vậy".
Tỷ-kheo khi nhớ đến lòng tin... (như trên)... và trí tuệ của vị kia
bèn chú tâm trên như thật. Như vậy, này các Anuruddha, Tỷ-kheo
được sống lạc trú. Ở đây, này các Anurudha, Tỷ-kheo có nghe:
"Tỷ-kheo với tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên
bố về vị này: "Sau khi diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự
lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn chứng được chánh
giác". Tôn giả ấy đã được thấy hay đã được nghe:
"Tôn giả này có giới hạnh như vậy... Tôn giả này có giải
thoát như vậy". Tỷ-kheo khi nhớ đến lòng tin... (như trên)... và
trí tuệ của vị kia, bèn chú tâm trên như thật. Như vậy, này các
Anuruddha, Tỷ-kheo được sống lạc trú.
Ở đây, này các Anuruddha, Tỷ-kheo-ni có nghe:
"Tỷ-kheo-ni với tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có
tuyên bố về vị này: "Vị ấy an trú chánh trí". Tôn ni ấy
đã được thấy hay đã được nghe: "Tôn ni này có giới hạnh
như vậy, Tôn ni này có pháp như vậy, Tôn ni này có an trú như
vậy, Tôn ni này có giải thoát như vậy. Tỷ-kheo-ni khi nhớ đến
lòng tin... (như trên)... khi nhớ đến trí tuệ của vị kia, bèn chú
tâm trên như thật. Như vậy, này các Anuruddha, Tỷ-kheo-ni được sống
lạc trú. Ở đây, này các Anuruddha, Tỷ-kheo-ni có nghe:
"Tỷ-kheo-ni với tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có
tuyên bố về vị này: "Sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử,
vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không còn phải
trở lui ở đời này nữa". Tôn ni ấy đã được thấy hay đã
được nghe: "Tôn ni này có giới hạnh như vậy... Tôn ni này có
giải thoát như vậy". Tỷ-kheo-ni nhớ đến lòng tin... (như trên)...
và trí tuệ của vị kia liền chú tâm trên như thật. Như vậy, này
các Anuruddha, Tỷ-kheo-ni được sống lạc trú. Ở đây, này các
Anuruddha, vị Tỷ-kheo-ni có nghe: "Tỷ-kheo-ni với tên như thế này
đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên bố về vị này: "Sau khi diệt
trừ ba kiết sử, sau khi làm cho nhẹ bớt tham, sân, si, vị ấy chứng
Nhứt lai, chỉ phải trở lui đời này một lần nữa rồi sẽ diệt
tận khổ đau". Tôn ni ấy đã được thấy hay đã được nghe:
"Tôn ni này có giới hạnh như vậy... (như trên)... Tôn ni này
có giải thoát như vậy". Tỷ-kheo-ni khi nhớ đến lòng tin... (như
trên)... và trí tuệ của vị kia, bèn chú tâm trên như thật. Như
vậy, này các Anuruddha, Tỷ-kheo-ni được sống lạc trú. Ở đây,
này các Anuruddha, Tỷ-kheo-ni có nghe: "Tỷ-kheo-ni với tên như thế
này đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên bố về vị này: "Sau khi
diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn bị đọa lạc,
chắc chắn chứng được chánh giác". Tôn ni ấy đã được
thấy hay đã được nghe: "Tôn ni này có giới hạnh như vậy ...
(như trên) ... Tôn ni này có giải thoát như vậy". Tỷ-kheo-ni khi
nhớ đến lòng tin... (như trên)... và trí tuệ của vị kia, bèn chú
tâm trên như thật. Như vậy, này các Anuruddha, Tỷ-kheo-ni được sống
lạc trú.
Ở đây, này các Anuruddha, nam cư sĩ có nghe: "Nam
cư sĩ với tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên bố
về vị này: "Sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, vị ấy
được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không còn phải trở
lui đời này nữa". Tôn giả ấy đã được thấy hay được
nghe: "Tôn giả này có giới hạnh như vậy... có pháp như vậy...
có trí tuệ như vậy... có an trú như vậy... Tôn giả này có giải
thoát như vậy". Nam cư sĩ khi nhớ đến lòng tin... (như trên)...
và trí tuệ của vị kia, liền chú tâm trên như thật. Như vậy, này
các Anuruddha nam cư sĩ được sống lạc trú. Ở đây, này các
Anuruddha, nam cư sĩ có nghe: "Nam cư sĩ với tên như thế này đã
mệnh chung. Thế Tôn có tuyên bố về vị này: "Sau khi diệt trừ ba
kiết sử, sau khi làm cho nhẹ bớt tham, sân, si, vị ấy chứng Nhất lai
chỉ phải trở lui đời này một lần nữa rồi sẽ diệt tận khổ
đau". Tôn giả ấy đã được thấy hay đã được nghe: "Tôn
giả này có giới hạnh như vậy... (như trên)... Tôn giả này có
giải thoát như vậy". Nam cư sĩ, khi nhớ đến lòng tin... (như
trên)... và trí tuệ của vị kia, bèn chú tâm trên như thật. Như
vậy, này các Anuruddha, nam cư sĩ được sống lạc trú. Ở đây, này
các Anuruddha, nam cư sĩ có nghe: "Nam cư sĩ với tên như thế này
đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên bố về vị này: "Sau khi diệt
trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu không còn bị đọa lạc, chắc
chắn chứng được chánh giác". Tôn giả ấy đã được thấy
hay đã được nghe: "Tôn giả này có giới hạnh như vậy... (như
trên)... có giải thoát như vậy. Tôn giả ấy khi nhớ đến lòng
tin... (như trên)... và trí tuệ của vị kia, bèn chú tâm trên như
thật. Như vậy, này các Anuruddha, nam cư sĩ được sống lạc trú.
Ở đây, này các Anuruddha, nữ cư sĩ có nghe:
"Nữ cư sĩ với tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có
tuyên bố về vị này: "Sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử,
vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không còn phải
trở lui ở đời này nữa". Nữ nhân ấy đã được thấy hay
đã được nghe: "Nữ nhân này có giới hạnh như vậy... có
pháp như vậy... có trí tuệ như vậy... có an trú như vậy... nữ
nhân này có giải thoát như vậy". Nữ cư sĩ, khi nhớ đến lòng
tin... (như trên)... và trí tuệ của vị kia, liền chú tâm trên sự
thật. Như vậy, này các Anuruddha, nữ cư sĩ được sống lạc trú.
Ở đây, này các Anurudha nữ cư sĩ có nghe: "Nữ cư sĩ với
tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có tuyên bố về vị này:
"Sau khi diệt trừ ba kiết sử, sau khi làm cho nhẹ bớt tham, sân,
si, vị ấy chứng Nhất lai, chỉ phải trở lui đời này một lần nữa,
rồi sẽ diệt tận khổ đau". Nữ nhân ấy đã được thấy hay
đã được nghe: "Nữ nhân này có giới hạnh như vậy ... (như
trên) ... nữ nhân này có giải thoát như vậy". Nữ cư sĩ, khi
nhớ đến lòng tin... (như trên)... và trí tuệ của vị kia, bèn chú
tâm trên như thật. Như vậy, này các Anuruddha, nữ cư sĩ được
sống lạc trú. Ở đây, này các Anuruddha, nữ cư sĩ có nghe:
"Nữ cư sĩ với tên như thế này đã mệnh chung. Thế Tôn có
tuyên bố về vị này: "Sau khi diệt trừ ba kiết sử, chứng quả
Dự lưu không còn bị đọa lạc, chắc chắn được chánh giác".
Nữ nhân ấy đã được thấy hay đã được nghe. "Nữ nhân
này có giới hạnh như vậy, nữ nhân này có pháp như vậy, nữ
nhân này có trí tuệ như vậy, nữ nhân này có an trú như vậy,
nữ nhân này có giải thoát như vậy". Nữ nhân ấy khi nhớ
đến lòng tin, giới hạnh, sự đa văn, bố thí và trí tuệ của vị
kia, bèn chú tâm trên như thật. Như vậy, này các Anuruddha, nữ cư
sĩ được sống lạc trú.
Như vậy, này các Anuruddha, Như Lại không vì mục đích
lường gạt quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng,
không vì mục đích được lợi lộc, trọng vọng, danh xưng, quyền
lợi vật chất, không vì với ý nghĩ: "Như vậy quần chúng sẽ
biết Ta", mà Như Lai giải thích sự tái sanh của các đệ tử
đã từ trần, đã mệnh chung, nói rằng: "Vị này tái sanh ở
chỗ này, vị này tái sanh ở chỗ này". Và này các Anuruddha, có
những Thiện gia nam tử có tin tưởng, với tín thọ cao thượng,
với hoan hỷ cao thượng, sau khi được nghe như vậy, sẽ chú tâm
trên như thật. Như vậy, này các Anuruddha, là hạnh phúc, là an lạc
lâu đời cho các vị ấy.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Anurudda hoan hỷ
tín thọ lời Thế Tôn dạy.