-
- ĐẠI
KINH MALUNKYAPUTTA
- (Mahamalunkyaputtasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở
Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". – "Bạch Thế Tôn". Những vị
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thọ
trì năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy không ?
Được nghe nói vậy, Tôn giả
Malunkyaputta bạch Thế Tôn:
– Con có thọ trì năm hạ phần kiết
sử do Thế Tôn giảng dạy.
– Năm hạ phần kiết sử do Ta giảng
dạy, này Malunkyaputta, Ông thọ trì như thế nào ?
– Bạch Thế Tôn, con thọ trì
thân kiến là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn
con thọ trì nghi là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế
Tôn, con thọ trì giới cấm thủ là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng
dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì dục tham là hạ phần kiết sử do Thế
Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sân là hạ phần kiết sử do
Thế Tôn giảng dạy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì năm hạ phần
kiết sử do Thế Tôn giảng dạy.
– Này Malunkyaputta, vì vấn đề gì
(hay vì ai) Ông thọ trì năm hạ phần kiết này do Ta giảng dạy ? Này
Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này
về đứa con nít ? Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm
ngủ không có tự thân, thời đâu nó có thể khởi lên thân kiến ? Thân
kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một
đứa con nít ngây thơ, đang nằm ngửa không có các pháp, thời từ đâu
nó có thể khởi lên nghi hoặc đối với các pháp ? Nghi tùy miên thật sự
sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ
đang nằm ngửa không có giới, thời từ đâu nó có thể khởi lên giới cấm
thủ trong các giới ? Giới cấm thủ tùy miên thật sự sống tiềm tàng
trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa
không có những dục, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng dục tham
trong các dục ? Dục tham, tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này
Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có các
loài hữu tình, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng sân đối với các
loài hữu tình ? Sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này
Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này
về đứa con nít ?
Được nghe nói vậy, Tôn giả
Ananda bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời,
Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết giảng năm hạ
phần kiết sử. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
– Vậy Ananda, hãy nghe và khéo tác
ý, Ta sẽ giảng.
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn giảng như sau:
– Ở đây, này Ananda, có kẻ vô văn
phàm phu, không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các
bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc
Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp
các bậc Chân nhân, sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị
chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến
đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục,
trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị nghi hoặc
triền phược, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật tuệ tri sự xuất
ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy kiên cố, không được
nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị
giới cấm thủ triền phược, bị giới cấm thủ chi phối và không như thật
tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên. Giới cấm thủ này của
vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết
sử. Vị ấy sống với tâm bị dục tham triền phược, bị dục tham chi phối
và không như thật biết sự xuất ly dục tham đã khởi lên, dục tham này
của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần
kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị sân triền phược, bị sân chi phối
và không như thật tuệ tri, sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị
ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử.
Và này Ananda, có vị Đa văn Thánh đệ tử, đến yết kiến các bậc
Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết
kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp
các bậc Chân nhân, sống với tâm không bị thân kiến triền phược, không
bị thân kiến chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục
tham đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy với tùy miên được đoạn
trừ. Vị này sống với tâm không bị nghi hoặc triền phược, không bị
nghi hoặc chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã
khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị
ấy sống với tâm không bị giới cấm thủ triền phược, không bị giới
cấm thủ chi phối và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ
đã khởi lên, giới cấm thủ của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ.
Vị này sống với tâm không bị dục tham triền phược, không bị dục
tham chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi
lên. Dục tham này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống
với tâm không bị sân triền phược, không bị sân chi phối, và vị này
như thật tuệ tri sự xuất ly sân được khởi lên. Sân này của vị ấy
với tùy miên được đoạn trừ.
Này Ananda, con đường nào, lộ
trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực
hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử được
biết rõ, hay được thấy rõ, hay được đoạn trừ, sự tình như vậy không
xảy ra. Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn đứng thẳng có lõi
cây nếu người ấy không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây, nhưng vẫn
có thể đẽo được lõi cây, sự tình này không xảy ra. Cũng vậy này
Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần
kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ
phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được
đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Và này Ananda, con đường nào,
lộ trình nào đưa đến đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành
con đường ấy, lộ trình ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết
rõ, hãy sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy
xảy ra. Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi
cây, nếu người ấy sau khi đẻo vỏ trong, sau khi đẻo giác cây, thời sẽ
đẻo được lõi cây, sự tình này xảy ra. Cũng vậy này Ananda, con đường
nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu
thực hành con đường ấy, đạo lộ ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ
được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn diệt, sự
tình như vậy xảy ra. Này Ananda, ví như sông Hằng, nước đầy tràn, con
quạ có thể uống được. Rồi một người ốm yếu đi đến và nghĩ như
sau: "Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến
bờ bên kia an toàn". Nhưng người ấy không thể sau khi lội cắt ngang
dòng sông Hằng, với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn.
Cũng vậy, này Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để đoạn trừ thân
kiến, nếu tâm của vị ấy không thích thú, không hoan hỷ, không có định
tĩnh, không có giải thoát, thời vị ấy cần phải được xem là giống người
ốm yếu kia. Này Ananda, ví như sông Hằng, nước lớn, đầy tràn, con quạ
có thể uống được. Rồi một người lực sĩ đi đến và nghĩ như sau:
"Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ
bên kia an toàn". Người ta có thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng
với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này
Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để được đoạn trừ thân kiến,
nếu tâm của vị ấy thích thú, hoan hỷ, có định tĩnh, có giải thoát,
thời vị ấy được xem là giống như người lực sĩ kia
Và này Ananda, thế nào là con đường,
thế nào là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử ?
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo do viễn ly các sanh y (Upadhiviveka) do đoạn trừ
các bất thiện pháp, do làm cho an tịnh thân thô ác hành một cách toàn diện,
ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị này chánh quán mọi sắc
pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ,
như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh
chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải
thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị
ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: "Đây
là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả
ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Nếu
an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự
tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử,
vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời
này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự
đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo diệt
tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm... Thiền thứ ba... chứng
và trú Thiền thứ tư. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng
pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường... (như trên)... không phải trở
lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa
đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo vượt
lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối
với dị tưởng, vị Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng
và trú Hư không vô biên xứ. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp,
tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường... (như trên)... không phải
trở lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình
đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo vượt
lên mọi Hư không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng
và trú Thức vô biên xứ... (như trên)... vượt lên mọi Thức vô biên xứ,
nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị
này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức
pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều
bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là
vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm
khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung vào bất tử giới và nghĩ rằng:
"Đây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả
hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn".
Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu
hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời
do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết
sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui
đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến
sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
– Bạch Thế Tôn, nếu đây là con
đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử
thời do hành trì như thế nào mà một số vị Tỷ-kheo chứng tâm giải
thoát, một số chứng tuệ giải thoát ?
– Ở đây, này Ananda, Ta nói rằng
do sự sai khác về căn tánh.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn
giả Ananda, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.