Kinh Trung bộ
HT. Thích Minh Châu dịch
- KINH
KOSAMBIYA
- (Kosambiyasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại
tịnh xá Ghosita. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận
tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ
không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải,
không chấp nhận hòa giải. Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống
một bên. Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
– Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo
ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng
những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận
thông cảm; họ không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải.
Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo
và bảo như sau:
– Này các Tỷ-kheo, hãy đi, và
nhân danh Ta, bảo các Tỷ-kheo ấy như sau: "Bậc Đạo Sư cho gọi chư Tôn
giả".
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến
chỗ các Tỷ-kheo ấy ở sau khi đến, liền thưa với các Tỷ-kheo ấy:
– Bậc Đạo Sư cho gọi chư Tôn
giả.
– Hiền giả, vâng.
Các Tỷ-kheo vâng đáp Tỷ-kheo ấy,
đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên:
– Này các Tỷ-kheo, có đúng sự
thật chăng, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương
nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Và các Ông không tự thông cảm
nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận
hòa giải?
– Bạch Thế Tôn, có vậy.
– Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ
thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả
thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các Ông có an trú từ
thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau
lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm
hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ ý hành đối
với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Như vậy, này các Tỷ-kheo, các
Ông đã chấp nhận rằng, trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu
tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy, không có an
trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn
sau lưng, không có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh
cả trước mặt lẫn sanh lưng, không có an trú từ ý hành đối với các vị
đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Như vậy, này các kẻ mê
mờ kia, do biết gì, do thấy gì, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu
tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi; và các Ông không tự
thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không
chấp nhận hòa giải. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, các Ông sẽ phải
chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.
Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
– Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp
này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa
đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào
là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân hành đối với
các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải
ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng,
đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo an trú từ khẩu hành... (như trên)... an trú từ ý hành đối với
các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải
ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng,
đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ-kheo,
đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những
tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỷ-kheo không phải là người không
san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng
chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này... (như trên)...
đưa đến nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các giới luật
không có vi phạm, không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp,
giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến
thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu trong các giới luật ấy với các vị
đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này... (như trên)...
đưa đến nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến
thuộc về bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành
chân chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo, sống thành tựu tri kiến như vậy,
cùng với các đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần
phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa
đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Này các Tỷ-kheo,
có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương
kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất
trí. Này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối
thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến
này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực
hành chân chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ví như một căn nhà
có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả,
làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng... khiến
người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là tri kiến
thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành
chân chánh diệt tận khổ đau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến
ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng và
suy nghĩ như sau: "Không biết t ó nội triền nào chưa đoạn trừ không?
Do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, thì ta không thể biết như
thật, không thể thấy như thật?" Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị
tham dục triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị sân triền phược, cho đến như vậy, tâm
(của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị hôn trầm
thụy miên triền phược, cho đến như vậy tâm (của vị này) bị triền
phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị trạo hối triền phược, cho đến
như vạy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
bị nghi triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc,
cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo,
nếu vị Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy,
tâm (của vị này) bị triền phược. Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh,
đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như
vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Vị ấy biết rõ như sau:
"Ta không có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu
tâm ta bị triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như
thật. Ý của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật".
Đó là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh,
siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập
nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chi, ta tự đạt được
tịnh chi". Vị này biết rõ như sau: "Trong khi ta thực tập, tu tập,
luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chi, ta tự
đạt được tịch chi". Đó là trí thứ hai mà vị này chứng được,
thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Tri kiến như ta đã thành tựu có thể
có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào ngoài tổ chức này, thành tựu tri kiến như
vậy không?" Vị ấy hiểu rõ như sau: "Tri kiến như ta đã thành tựu
không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, ngoài tổ chức này, thành tựu
tri kiến như vậy". Đó là tri thứ ba mà vị này chứng được, thuộc
các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng...
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Pháp tánh (Dhammata) mà một vị chứng
được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy t ó thành tựu hay
không?" Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng
được tri kiến thành tựu? Đây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị
chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vị phạm,
giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ
bày, trình bày trước bậc Đạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có
trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương
lai. Này các Tỷ-kheo, ví như một đứa trẻ con, ngây thơ, nằm ngửa, lập
tức rút lui tay hay chân nếu tay hay chân của nó chạm phải than đỏ. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu. Bất cứ giới tội nào... (như trên)... phòng hộ gìn giữ trong
tương lai. Vị ấy biết rõ như sau: "Pháp tánh mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy t ó thành tựu". Như vậy là
trí thứ tư mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế,
các phàm phu không thể cọng chứng.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Pháp tánh mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy t ó thành tựu hay không?" Và
này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu? Đây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì,
giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha
thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng
thượng tuệ học. Này các Tỷ-kheo, ví như con bò có các con nghé, khi đang
nhổ lùm cỏ lên (ăn), vẫn coi chừng con nghé. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận...
(như trên)... tăng thượng tuệ học. Vị này biết rõ như sau: "Pháp
tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy t ó
thành tựu". Như vậy là trí thứ năm mà vị này chứng được, thuộc
các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy t ó thành tựu hay không?" Và
này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu? Đây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, một vị chứng được tri
kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng
dạy, sau khi chú tâm chú ý, chuyên chú toàn tâm trí, vị này lóng tai nghe
Pháp. Vị này biết rõ như sau : "Sức mạnh mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu sức mạnh như vậy t ó thành tựu". Như vậy là
trí thứ sáu mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế,
các phàm phu không có thể cọng chứng.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy t ó thành tựu hay không?" Và
này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến
thành tựu? Đây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được
tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được
giảng dạy, vị này chứng được nghĩa tín thọ (atthaveda), Pháp tín thọ
(Dhammaveda), và sự hân hoan tương ứng với pháp; vị này hiểu rõ như sau:
"Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu sức mạnh như
vậy t ó thành tựu". Như vậy là trí thứ bảy mà vị này chứng được,
thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp
tánh được khéo an trú đối với vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi
này để chứng được quả Dự Lưu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh
đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đã thành tựu Dự Lưu quả.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
Mục
Lục
||Chương
kế
|
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
Tổ
chức đánh máy: Hứa Dân Cường
Chân thành cảm ơn Cư sĩ Bình Anson đã gởi tặng phiên bản điện
tử bộ Kinh này.