Kinh Trung bộ
HT. Thích Minh Châu dịch
- TIỂU
KINH PHÁP HÀNH
- (Culadhammasamadanasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại
Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
– Này các Tỷ-kheo !
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Những vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
– Này các Tỷ-kheo, có bốn loại
pháp hành này. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện
tại lạc, tương lai quả báo khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện
tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp
hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, có loại
pháp hành hiện tại lạc, và tương lai quả báo cũng lạc.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là loại
pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ? Này các Tỷ-kheo, có mọt
số Sa-môn thuyết như sau, có sở kiến như sau: "Không có lỗi trong
các dục". Những vị này đắm mình trong các dục, hoan lạc với các
cô gái lang thang có tóc quấn trên đầu. Họ nói như sau: "Làm sao các
Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn kia thấy sự sợ hãi tương lai củ ác dục, nói
đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Khoái
lạc thay, sự xúc chạm với bàn tay có lông mịn củ ác cô gái lang thang
trẻ trung này!" Sau khi đắm mình trong các dục, khi thân hoại mạng
chung, các vị ấy phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Ở đây, họ cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt.
Họ nói như sau: "Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự sợ hãi
tương lai củ ác dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu
biết về các dục. Nhưng chúng ta, do các dục này làm nhân, do các dục
này làm duyên, phải cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc
liệt". Này các Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa nóng, một bẹ hột
giống cây leo nứt ra và này các Tỷ-kheo, một hột giống cây leo rơi dưới
gốc một cây sala. Này các Tỷ-kheo, các vị thần ở trên cây sala ấy lo sợ,
run sợ, và hoảng sợ. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống các vị thần
trên cây sala ấy, thần vườn, thần rừng, thần cây, thần các dược thảo,
cỏ, rừng hội họp lại, an ủi như sau: "Này Tôn giả, chớ có sợ
hãi! Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Vì hạt giống ấy, con khổng tước có
thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, người làm rừng
có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống có thể không nẩy
mầm". Nhưng này các Tỷ-kheo, hạt giống ấy, con khổng tước không nuốt,
con nai không ăn, lửa rừng không đốt, người làm rừng không nhặt đi, các
loài mối không ăn, và hạt giống có thể nẩy mầm. Được mưa lớn nhờ
các làn mây đúng mùa, hạt giống ấy được lớn lên, và một dây leo trẻ,
mềm mại, có lông, chậm chậm mọc lên và bám dính cây sala ấy. Này các
Tỷ-kheo, các vị thần trên cây sala ấy suy nghĩ như sau: "Không hiểu
vì sao các Tôn giả bạn bè thân hữu, bà con huyết thống ấy, các thần vườn,
thần rừng, thần cây, các vị thần trên các dược thảo, cỏ, rừng, thấy
sự sợ hãi tương lai trong hột giống, hội họp lại, an ủi như sau:
"Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Này Tôn giả chớ có sợ hãi! Vì hột
giống ấy, con khổng tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có
thể đốt, những người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể
ăn, hay hạt giống có thể không nẩy mầm". Khoái lạc thay sự xúc chạm
củ ây leo trẻ trung mềm mại, có lông đang bám vào!" Cây leo ấy có
thể bao trùm cây sala ấy, sau khi bao trùm, liền làm thành một tàn che trên
cây ấy, và ở dưới khởi lên cả một lùm cây rậm rạp. Khi ở dưới
khởi lên cả một lùm cây rậm rạp, các cành lớn củ ây sala ấy có thể
bị bóp nghẹt. Rồi này các Tỷ-kheo, các thần trú trên cây sa la ấy suy
như sau: "Chính vì thấy sự sợ hãi tương lai này, trong hột giống
cây leo ấy mà những Tôn giả, bạn bè thân hữu, bà con huyết thống ấy,
các thần vườn, thần rừng, thần cây, các vị thần ở trên các dược
thảo, cỏ, rừng, đã hội họp lại và an ủi như sau: "Này Tôn giả
chớ có sợ hãi! Này Tôn giả, chớ sợ hãi! Vì hạt giống ấy, con khổng
tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, những
người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống
có thể không nẩy mầm". Và nay ta, vì nguyên nhân hạt giống cây leo,
cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt". Cũng vậy,
này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, có sở kiến
như sau: "Không có lỗi trong các dục". Những vị này đắm mình
trong các dục, họ hoan lạc với các cô gái lang thang có tóc quấn trên đầu.
Họ nói như sau: "Làm sao các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy thấy sự sợ
hãi tương lai củ ác dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự
hiểu biết về các dục. Khoái lạc thay, sự xúc chạm với bàn tay có
lông mịn củ ô gái lang thang trẻ trung này!" Sau khi đắm mình trong
các dục, khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Ở đây, họ cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống
khổ, khốc liệt. Họ nói như sau: "Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy
thấy sự sợ hãi tương lai củ ác dục, nói đến sự đoạn trừ các dục,
nêu lên sự hiểu biết về các dục. Nhưng chúng ta, vì nhân các dục này,
vì duyên các dục này, phải cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ,
khốc liệt". Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là pháp hành hiện tại lạc,
tương lai quả báo khổ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
có người sống lõa thể, sống phóng túng, không theo lễ nghi, liếm tay cho
sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng
lại, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu
cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không
nhận đồ ăn đặt tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những
cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận
đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có
thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ
ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không
nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi
bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men, cháo cám. Vị
ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ
nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại
bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một
bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ
ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị
ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần.
Vị ấy chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải
nivara, ăn da vụn, ăn cám, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ,
ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống.
Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải
tẩm liệm quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tikitaka làm áo, mặc
d on sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh d on sơn dương đen, mặc áo bằng
cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng
tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng
lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người tập tục sống
nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, là
người ngồi chò hỏ, sống theo hạnh ngồi chò hỏ một cách tinh tấn, là
người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng
ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên
hông, sống để bụi và nhớp che dấu thân mình, sống và ngủ ngoài trời,
theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, theo hạnh ăn các uế
vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống
một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi).
Như vậy, vị ấy sống theo hạnh hành hạ xác thân dưới nhiều hình thức
như vậy. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là
pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo,
thế nào là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, có người tự tánh sanh ra quá nặng về tham ái, luôn
luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do tham ái sanh; có người tự tánh
sanh ra quá nặng về sân hận, luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu
do sân hận sanh; có người tự tánh sanh ra quá nặng về si mê, luôn luôn cảm
thọ những cảm giác khổ ưu do si mê sanh. Với khổ và với ưu, với mặt
đầy nước mắt và khóc than, vị ấy sống theo phạm hạnh, hoàn toàn đầy
đủ trong sạch. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú,
Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp
hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
có người tự tánh sanh ra không quá nặng về tham ái, không luôn luôn cảm
thọ những cảm giác khổ ưu do tham ái sanh; có người tự tánh sanh ra
không quá nặng về sân hận, không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ
ưu do sân hận sanh; có người tự tánh sanh ra không quá nặng về si mê,
không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do si mê sanh. Vị ấy ly
dục, ly các pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ; diệt tầm và tứ, chứng và
trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm
không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân
cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an
trú Thiền thứ ba; xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước,
chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới,
cõi đời này. Như vậy này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại
lạc và tương lai quả báo cũng lạc. Này các Tỷ-kheo, như vậy là bốn loại
pháp hành.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
Mục
Lục
||Chương
kế
|
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
Tổ
chức đánh máy: Hứa Dân Cường
Chân thành cảm ơn Cư sĩ Bình Anson đã gởi tặng phiên bản điện
tử bộ Kinh này.