SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 18
PHẨM LỆ
214.
KINH BỆ-HA-ĐỀ[1]
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật
du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Tôn
giả A-nan trú tại Xá-vệ, có chút việc tại Đông viên Lộc mẫu giảng đường.
Lúc đó Tôn giả A-nan dẫn một thầy Tỳ-kheo ra khỏi Xá-vệ,
đến Đông viên Lộc mẫu giảng đường. Công việc xong, Tôn giả dẫn thầy
Tỳ-kheo trở về vườn Cấp cô độc, trong rừng Thắng.
Khi ấy
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la cỡi trên con voi Nhất-bôn-đà-lị
cùng với Đại thần Thi-lị-a-trà
từ thành Xá-vệ đi ra. Tôn giả A-nan khi ấy nhìn thấy Ba-tư-nặc vua nước
Câu-tát-la từ xa đi đến, bèn hỏi vị Tỳ-kheo đồng hành rằng:
“Có phải là
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la ấy không?”
Vị Tỳ-kheo
đáp:
“Đúng vậy.”
Tôn giả A-nan
liền tẻ xuống đường, lánh vào một gốc cây. Vua Ba-tư-nặc từ xa nhìn thấy
Tôn giả A-nan nơi gốc cây bèn hỏi:
“Này
Thi-lị-a-trà, có phải là Sa-môn A-nan ấy không?”
Thi-lị-a-trà
đáp:
“Đúng vậy.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la bảo Đại thần Thi-lị-a-trà:
“Khanh hãy
giục voi đến chỗ Sa-môn A-nan.”
Thi-lị-a-trà
vâng lệnh bèn giục voi đến chỗ A-nan.
Rồi Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la vui mừng hỏi:
“A-nan, từ
đâu đến đây và muốn đi đâu bây giờ?”
“Tôn giả
A-nan trả lời:
“Đại vương,
tôi từ Đông viên Lộc mẫu giảng đường đến và muốn trở về vườn Cấp cô độc,
trong rừng Thắng.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la nói:
“A-nan, nếu
tại Thắng lâm không có việc gì gấp, xin Ngài từ mẫn đi cùng tôi đến sông
A-di-la-bà-đề.
Tôn giả A-nan nhận lời Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la. Nhà vua để Tôn giả A-nan đi trước, rồi cùng đến sông
A-di-la-bà-đề. Đến nơi, vua bước xuống, lấy yên voi gấp làm tư, trải lên
đất và mời Tôn giả A-nan:
“Xin mời ngồi
trên chỗ này!”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Thôi được
rồi, Đại vương, trong lòng thỏa mãn là đủ.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại ba lần mời Tôn giả A-nan:
“A-nan, xin
mời ngồi lên chỗ này.”
Tôn giả A-nan
cũng đáp lại ba lần:
“Thôi được
rồi, Đại vương, trong lòng thỏa mãn là đủ. Tôi đã có sẵn tọa cụ. Tôi sẽ
ngồi nơi đây.”
Nói xong Tôn
giả A-nan trải tọa cụ và ngồi kiết già.
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la chào hỏi A-nan rồi ngồi xuống một bên mà nói rằng:
“A-nan, tôi
có điều muốn hỏi mong ngài cho phép.”
Tôn giả A-nan
trả lời.
“Đại vương,
ngài có điều gì cứ hỏi; tôi nghe sẽ suy nghĩ.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la hỏi:
“A-nan, Đức
Thế Tôn có hành những thân hành như vậy chăng? Tức là thân hành mà các
Sa-môn, Phạm chí ghê tởm chăng?”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Đại vương,
Như Lai không có những thân hành như vậy tức là thân hành mà các Sa-môn
Phạm chí, những người thông minh trí tuệ và hàng thế gian khác ghê tởm.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la nghe xong khen rằng:
“Lành thay!
Lành thay! A-nan, điều mà tôi không đủ khả năng để nói, kể cả những người
thông minh trí tuệ, và những hàng thế gian khác, thì A-nan đủ khả năng.
Này A-nan, nếu ai không nhận định kỹ mà đã chê bai hay khen ngợi thì tôi
không coi đó là chơn thật. Này A-nan, Đức Thế Tôn có những thân hành như
vầy, những thân hành mà các Sa-môn Phạm chí những người thông minh trí tuệ
và những hàng thế gian khác ghê tởm chăng?”
Tôn giả A-nan
trả lời:
“Đại vương,
Như Lai không bao giờ hành những thân hành như vậy, tức những thân hành mà
các Sa-môn Phạm chí những người thông minh trí tuệ và những hàng thế gian
khác ghê tởm.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, thế
nào là thân hành?”
A-nan đáp:
“Đại vương,
đó là những thân hành bất thiện.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi.
“Thế nào là
thân hành bất thiện?”
A-nan đáp:
“Đó là những
thân hành có tội.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, thế
nào là thân hành có tội?”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Đại vương,
đó là những thân hành bị người trí ghê tởm.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, thế
nào là thân hành bị người trí ghê tởm?”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Đại vương,
đó là những thân hành hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, hỗ
trợ sự ác, không chứng đắc Niết-bàn, không dẫn đến trí, không dẫn đến
giác, không dẫn đến Niết-bàn. Người ấy đối với pháp nên hành, không biết
như thật, đối với pháp không nên hành cũng không biết như thật. Khi đối
với pháp nên hành không biết như thật, và pháp không nên hành cũng không
biết như thật rồi, đối với pháp nên chấp thủ không biết như thật, và đối
với pháp không nên chấp thủ cũng không biết như thật. Sau khi đối với pháp
nên thủ đã không biết như thật, và đối với pháp không nên thủ cũng không
biết như thật rồi, đối với pháp nên đoạn trừ không biết như thật, và đối
với pháp không nên đoạn trừ cũng không biết như thật. Sau khi đối với pháp
nên đoạn trừ đã không biết như thật, và đối với pháp không nên đoạn trừ
cũng không biết như thật; thì đối với pháp nên thành tựu không biết như
thật và đối với pháp không nên thành tựu cũng không biết như thật. Sau khi
đối với pháp nên thành tựu đã không biết như thật và pháp không nên thành
tựu cũng không biết như thật rồi, do đó, pháp nên hành trì thì không hành,
pháp không nên hành trì lại hành. Sau khi pháp nên hành trì thì không
hành, pháp không nên hành trì lại hành rồi, đối với pháp nên thủ thì không
thủ và pháp không nên thủ lại thủ. Sau khi đối với pháp nên thủ thì không
thủ, đối với pháp không nên thủ lại thủ rồi, đối với pháp nên đoạn trừ thì
không đoạn trừ, đối với pháp không nên đoạn trừ lại đoạn trừ. Sau khi đối
với pháp nên đoạn trừ thì không đoạn trừ, và đối với pháp không nên đoạn
trừ lại đoạn trừ rồi, đối với pháp nên thành tựu thì không thành tựu, và
đối với pháp không nên thành tựu lại thành tựu. Sau khi pháp nên thành tựu
thì không thành tựu, và pháp không nên thành tựu lại thành tựu rồi thì
pháp bất thiện càng tăng và pháp thiện càng giảm. Vì vậy, Như Lai không
bao giờ hành những pháp ấy.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, tại
sao Như Lai không bao giờ hành những pháp ấy?”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Đại vương,
ly dục và dục đã diệt tận, ly nhuế và nhuế đã diệt tận, ly si và si đã
diệt tận, Như Lai đoạn trừ tất cả pháp bất thiện, thành tựu tất cả pháp
thiện. Đây là Bậc Thầy khuyến giáo, Bậc Thầy vi diệu, Bậc Thầy khéo tùy
thuận, là Vị dẫn dắt điều ngự, tùy thuận điều ngự, là Vị nói năng toàn
thiện, nói năng vi diệu, nói năng khéo tùy thuận. Cho nên Như Lai trọn
không bao giờ hành những pháp bất thiện ấy.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la khen rằng:
“Lành thay!
Lành thay! A-nan, Như Lai không bao giờ hành những pháp không nên hành. Vì
sao vậy? Vì Như Lai là Bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Giác. A-nan, ngài là đệ
tử của vị Đạo sư ấy, học đạo để chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng, mà còn
không hành pháp ấy, huống nữa Đức Như Lai lại hành các pháp ấy sao?”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, Như
Lai có hành những thân hành như vầy, tức là thân hành mà các Sa-môn Phạm
chí, những người thông trí tuệ và các hàng thế gian khác không ghê tởm
chăng?”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Đại vương,
Như Lai tất nhiên hành những thân hành như vậy, tức thân hành các Sa-môn
Phạm chí, những người thông minh trí tuệ và các hàng thế gian khác không
ghê tởm.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, thân
hành đó là như thế nào?”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Đại vương,
đó là những thân hành thiện.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, thế
nào là thân hành thiện?”
Tôn giả A-nan
trả lời:
“Đại vương,
đó là thân hành không có tội.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, thế
nào là thân hành không có tội?”
Tôn giả A-nan
trả lời:
“Đại vương,
đó là thân hành mà kẻ trí không ghê tởm.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, thế
nào là thân hành mà kẻ trí không ghê tởm?”
Tôn giả A-nan
trả lời:
“Đại vương,
đó là những thân hành không hại mình, không hại người, không hại cả hai,
có giác, có tuệ, không hỗ trợ bởi sự ác, chứng đắc Niết-bàn, đưa đến trí,
đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn. Đối với pháp nên hành thì biết như
thật, đối với pháp không nên hành cũng biết như thật. Sau khi đối với pháp
nên hành đã biết như thật, đối với pháp không nên hành cũng biết như thật
rồi, đối với pháp nên thủ biết như thật, đối với pháp không nên thủ cũng
biết như thật. Sau khi đối với pháp nên thủ đã biết như thật, và đối với
pháp không nên thủ cũng biết như thật rồi, đối với pháp nên đoạn trừ biết
như thật, và pháp không nên đoạn trừ biết như thật. Sau khi đối với pháp
đã biết như thật và pháp không nên đoạn trừ đã biết như thật rồi, đối với
pháp nên thành tựu biết như thật và pháp không nên thành tựu cũng biết như
thật. Sau khi đối với pháp nên thành tựu đã biết như thật và pháp không
nên thành tựu cũng biết như thật rồi, đối với pháp nên hành thì hành, đối
với pháp không nên hành thì không hành. Sau khi đối với pháp nên hành thì
hành, đối với pháp không nên hành thì không hành rồi, đối với pháp nên thủ
thì thủ, đối với pháp không nên thủ thì không thủ. Sau khi đối với pháp
nên thủ thì thủ, đối với pháp không nên thủ thì không thủ rồi, đối với
pháp nên đoạn trừ thì đoạn trừ đối với pháp nên đoạn trừ thì không đoạn
trừ. Sau khi biết pháp nên đoạn trừ thì đoạn trừ, và pháp không nên đoạn
trừ thì không đoạn trừ rồi, đối với pháp nên thành tựu thì thành tựu và
đối với pháp không nên thành tựu thì không thành tựu. Sau khi đối với pháp
nên thành tựu thì thành tựu, pháp không nên thành tựu thì không thành tựu
rồi, pháp bất thiện càng giảm, pháp thiện càng tăng trưởng. Cho nên Như
Lai tất nhiên hành những pháp ấy.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“A-nan, tại
sao Như Lai tất nhiên hành những pháp ấy?”
Tôn giả A-nan
trả lời:
“Đại vương,
ly dục và dục đã diệt tận, ly nhuế và nhuế đã diệt tận, ly si và si đã
diệt tận, Như Lai đã thành tựu tất cả pháp thiện, và đoạn trừ tất cả pháp
bất thiện. Ngài là Bậc Thầy khuyến giáo, Bậc Thầy vi diệu, Bậc Thầy khéo
tùy thuận, là Vị hướng dẫn điều ngự và tùy thuận điều ngự, là Vị nói năng
toàn thiện, nói năng vi diệu, nói năng khéo tùy thuận, cho nên Như Lai tất
nhiên hành những pháp ấy.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la khen ngợi:
“Hay thay, hay thay, A-nan, Như Lai tất
nhiên hành những pháp nên hành. Vì sao vậy? Vì Như Lai là Bậc Vô Sở Trước,
là Bậc Đẳng Chánh Giác. Này A-nan, Ngài là bậc đệ tử của Đức Đạo Sư ấy,
học đạo để chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thường, mà còn phải hành những pháp
ấy, huống nữa Như Lai lại không hành những pháp ấy sao? A-nan nói thật
khéo léo khiến tôi hoan hỷ. Nếu A-nan được phép thâu nhận thuế tô trong
làng, tôi sẽ vì pháp mà bố thí thuế tô đó. Nếu A-nan được phép tùy thuận
nhận voi, ngựa, trâu, dê, tôi sẽ vì pháp mà bố thí voi, ngựa, trâu, dê đó.
Nếu A-nan được phép thâu nhận đàn bà con gái, tôi sẽ vì pháp mà bố thí vợ,
đàn bà, con gái. Nếu A-nan được phép thâu nhận vàng bạc châu báu,
tôi sẽ vì pháp mà bố thí vàng bạc và châu báu. Nhưng A-nan không được phép
thâu nhận vàng bạc và châu báu như thế. Vương gia Câu-tát-la của tôi có
một chiếc áo tên là bệ-ha-đề
rất tốt, tôi đặt nó trong ống cán dù, được gởi đến để làm tin.
Trong các loại áo kiếp-bối
của vương gia Câu-tát-la, áo này là bậc nhất trong tất cả. Vì sao vậy? Áo
bệ-ha-đề dài mười sáu khủy tay. Tôi nay vì Pháp đem chiếc áo này bố thí
A-nan. A-nan sẽ dùng nó mà may thành ba y để vương gia Câu-tát-la ấy được
mãi mãi tăng ích phước lành.”
Tôn giả A-nan
đáp:
“Thôi đủ rồi
Đại vương? Trong tâm thỏa mãn là đủ. Tôi đã có đủ ba y rồi.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại thưa:
“A-nan, xin
nghe tôi nói một ví dụ, người có trí tuệ nghe ví dụ sẽ thấu rõ ý nghĩa. Ví
như sau trận mưa lớn, nước đầy cả sông A-di-la-bà-đề này, ngập cả hai bên
bờ và chảy tràn ra cả ngoài. A-nan có thấy vậy không?”
Tôn giả A-nan
đáp: Đại vương, tôi có thấy.
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la lại thưa rằng:
“Cũng thế,
này A-nan, nếu có ba y thì hãy đem cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các vị
tiệm học, xá-la, xá-la-ma-ni-ly.
Còn A-nan đem bệ-ha-đề này làm thành ba y để vương gia Câu-tát-la được
tăng ích phước lành.”
Tôn giả A-nan
im lặng nhận lời. Khi biết A-nan nhận rồi, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la
sau khi theo pháp bố thí chiếc y bệ-ha-đề cho Tôn giả A-nan rồi, liền từ
chỗ đứng dậy nhiễu quanh ba vòng rồi lui về. Sau khi vua đi không bao lâu,
Tôn giả A-nan bèn đem chiếc y bệ-ha-đề đến trước Phật, cúi đầu đảnh lễ
dưới chân, rồi lui đứng một bên mà thưa rằng:
“Bạch Thế
Tôn, hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la vì pháp mà bố thí chiếc y
bệ-ha-đề này, vậy con xin Thế Tôn đặt chân lên trên chiếc y này để vương
gia nước Câu-tát-la được tăng ích phước lành.”
Khi ấy Đức
Thế Tôn bèn dẫm hai chân lên y bệ-ha-đề rồi bảo:
“A-nan, nếu
ông đã bàn luận những gì cùng Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hãy kể lại cho
Ta nghe.”
Khi ấy Tôn
giả A-nan bèn kể lại hết những điều đã luận bàn cùng vua nước Câu-tát-la
cho Thế Tôn nghe rồi chắp tay thưa:
“Con nói như
vậy không xuyên tạc Thế Tôn chăng? Con nói đúng sự thật, nói đúng như
pháp, nói đúng pháp như pháp, đối với pháp như pháp không có điều gì sai
lầm chăng?”
Đức Thế Tôn
bảo:
“Ông nói như
vậy là không xuyên tạc Ta, là nói sự thật, là nói đúng pháp, nói đúng như
pháp, đối với pháp như pháp, không có điều gì sai lầm. Này A-nan, nếu
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi Ta bằng nghĩa này, với câu này, với văn
này, Ta cũng trả lời bằng nghĩa này, với câu này, với văn này mà trả lời
cho nhà vua.”
“A-nan, nghĩa
ấy đúng như lời ông đã nói, ông nên theo đúng như vậy mà thọ trì. Vì sao
vậy? Vì nói như vậy chính là nghĩa như vậy.”
Phật thuyết
như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 18
212
|
213
|
214
|
215
|
216
|
217
|
218
|
219
|
220
|
221
|
222
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003