SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 18
PHẨM LỆ
213.
KINH PHÁP TRANG NGHIÊM[1]
Tôi nghe như vầy.
Một thời Phật
du hóa giữa những người họ Thích, trú trong một đô ấp của Thích gia tên là
Di-lũ-ly.
Bấy giờ
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la và Trường Tác
vì có những việc cần làm nên cùng đi đến một thị trấn tên gọi là Thành.
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, đến một khu vườn nơi ấy, nhìn thấy những
gốc cây vắng vẻ, không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng
người, thích hợp cho sự tĩnh tọa. Sau khi nhìn thấy như vậy, nghĩ nhớ Đức
Thế Tôn, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nói rằng:
“Này Trường
Tác, ở đây, những gốc cây này vắng vẻ, không có tiếng động, xa lánh, không
có sự dữ, không có bóng người, thích hợp cho sự tĩnh tọa. Tại chỗ này ta
đã nhiều lần đến thăm viếng Đức Thế Tôn. Này Trường Tác, Đức Thế Tôn hiện
giờ đang ở đâu? Ta muốn đến thăm.”
Trường Tác
trả lời:
“Tôi nghe nói
Đức Thích Tôn đang du hóa giữa những người họ Thích, trú trong một đô ấp
của Thích gia, tên gọi là Di-lũ-ly.”
Ba-tư-nặc
nước Câu-tát-la lại hỏi:
“Này Trường Tác, Di-lũ-ly, đô ấp của
Thích gia cách đây bao xa?”
“Trường Tác
đáp:
“Tâu Thiên
vương, cách đây ba cu-lô-xá.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la nói:
“Này Trường
Tác, ngươi hãy ra lệnh cho sửa soạn xa giá. Ta muốn đến chỗ Thế Tôn.”
Trường Tác
vâng lời cho sửa soạn xa giá, rồi tâu rằng:
“Tâu Thiên
vương, xa giá đã sửa soạn xong, xin vâng ý Thiên vương.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la bèn lên xe, dong khỏi thành ngoài đi đến Di-lũ-ly, đô ấp
của Thích gia.
Bấy giờ,
ngoài cổng Di-lũ-ly, một số đông các Tỳ-kheo đang đi kinh hành trên một
khoảng đất trống. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đến nơi các Tỳ-kheo hỏi
rằng:
“Thưa các Tôn
giả, Đức Thế Tôn hiện đang nghỉ mát ban ngày ở đâu?”
Các Tỳ-kheo
trả lời rằng:
“Đại vương, ngôi nhà lớn hướng Đông kia,
với cửa sổ mở và cửa lớn đóng ấy, Đức Thế Tôn hiện đang nghỉ mát ban ngày
tại đó. Đại vương nếu muốn đến thăm, có thể đi đến nơi đó, đến nơi hãy
đứng bên ngoài, rồi tằng hắng và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe tất sẽ mở cửa.”
Ba-tư-nặc vua
nước Câu-tát-la bèn xuống xe.
Khi một vị
Sát-lợi Đảnh Sanh xuất hiện để cai trị nhân dân, và ban hành giáo lệnh cho
cõi đất, thì có năm nghi trượng. Đó là kiếm, lọng, tràng hoa, phất cán
ngọc và giày thêu. Vua cởi bỏ tất cả trao cho Trường Tác. Trường Tác nghĩ
rằng:
“Thiên vương
nay tất chỉ đi vào một mình. Chúng ta nên đứng ở đây mà đợi vậy.”
Rồi Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la với đám tùy tùng vây quanh bước tới ngôi nhà hướng
Đông kia. Đến nơi, vua đứng ngoài tằng hắng và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe
rồi, bèn ra mở cửa. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đi vào trong nhà đến
trước Đức Phật cúi đầu lễ sát chân, rồi ba lần tự xưng tên họ.
“Con là
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, con là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la!”
Đức Thế Tôn
đáp:
“Như vậy, Đại
vương, ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la. Ngài là Ba-tư-nặc vua nước
Câu-tát-la!”
Sau ba lần tự
xưng tên họ, vua Ba-tư-nặc đảnh lễ dưới chân Phật và lui ngồi một bên. Đức
Thế Tôn hỏi:
“Đại vương,
Đại vương thấy Ta có những nghĩa lợi nào mà tự hạ mình đảnh lễ dưới chân
và cúng dường cung kính như vậy?”
Vua Ba-tư-nặc
thưa:
“Bạch Thế
Tôn, con có sự loại suy về pháp
đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật
khéo thú hướng.’
“Bạch Thế Tôn, khi con ngồi trên đô tọa,
con nhìn thấy mẹ tranh chấp với con, con tranh chấp với mẹ; cha tranh chấp
với con, con tranh chấp với cha; cho đến anh em, chị em, thân bằng quyến
thuộc tranh chấp lẫn nhau. Trong khi tranh chấp, mẹ nói con xấu, con nói
mẹ xấu, cha con, anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc nói xấu lẫn nhau.
Người thân thích trong nhà còn như thế, huống nữa là người ngoài. Còn ở
đây, con thấy chúng Tỳ-kheo, đệ tử của Thế Tôn theo Thế Tôn tu hành phạm
hạnh. Hoặc nếu có Tỳ-kheo nào gây ra ít nhiều tranh chấp, xả giới bỏ đạo
cũng không nói xấu Phật, không nói xấu pháp, không nói xấu chúng Tăng, mà
chỉ tự chê trách rằng, ‘Tôi xấu xa, thiếu đức hạnh. Tại sao như vậy? Vì
tôi không thể theo Thế Tôn trọn đời tu hành phạm hạnh’. Đó là sự loại suy
về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử
của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
“Bạch Thế
Tôn, lại nữa, con thấy một Sa-môn Phạm chí khác đã ít nhiều học hành phạm
hạnh, hoặc chín tháng, hoặc mười tháng, nhưng lại xả bỏ để theo sắc phục
trước kia, rồi lại bị nhiễm ô bởi dục vọng, nhiễm dục, dính trước dục, bị
dục trói chặt, kiêu ngạo, chấp thủ, thâm nhập, sống hoan lạc trong sự hành
dục mà không thấy tai họa, không thấy xuất yếu. Bạch Thế Tôn, con thấy ở
đây chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn tự nguyện trọn đời tu tập phạm hạnh,
cho đến ức số. Ngoài đây ra con không thấy ở đâu có phạm hạnh thanh tịnh
như vậy, như mái nhà của Thế Tôn. Đó là sự loại suy về pháp của con đối
với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp của Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật
là khéo thú hướng’.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một
Sa-môn Phạm chí thân thể gầy còm tiều tụy, tướng mạo xấu xí, thân nổi vẩy
trắng
không ai muốn nhìn. Con tự nghĩ rằng, ‘Các Tôn giả này vì sao thân thể lại
gầy còm, tiều tụy, tướng mạo xấu xí, thân nổi vẩy trắng, không ai muốn
nhìn. Các Tôn giả này ắt không tu phạm hạnh, hoặc vì bệnh hoạn hay lén lút
làm việc xấu xa, cho nên các Tôn giả này thân hình gầy còm, tiều tụy, hình
sắc xấu xa, mình nổi vẩy trắng không ai muốn nhìn’. Con đến hỏi họ, ‘Các
Tôn giả vì sao thân hình tiều tụy gầy còm, tướng mạo xấu xí, mình nổi vẩy
trắng, không ai muốn nhìn? Có phải các Tôn giả không thích tu hành phạm
hạnh chăng? Hoặc vì bệnh hoạn hay lén lút làm việc xấu xa, cho nên các Tôn
giả thân thể gầy còm tiều tụy?’ Những vị ấy đáp, ‘Đại vương, đây là bệnh
trắng! Đại vương, đây là bệnh trắng’.
“Bạch Thế
Tôn, con thấy chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn, sống hân hoan đoan chánh,
sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh khiết, vô vi vô cầu
sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng,
tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh. Thấy vậy, con nghĩ rằng, ‘Các Tôn giả
này vì sao được hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi hình thể tịnh,
khiết, vô vi, vô cầu, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng? Tự
mình trọn đời tu hành phạm hạnh? Các Tôn giả hoặc đã đạt đến ly dục, hoặc
chứng đắc tăng thượng tâm, đối với hiện pháp lạc trụ
chứng đạt dễ dàng không khó. Cho nên các Tôn giả này mới được hân hoan,
đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh, khiết, vô vi, vô cầu, sống
đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rằng, tự mình trọn đời tu hành phạm
hạnh. Nếu sống trong dục lạc mà được hân hoan, đoan chánh, thì chính ta
phải được đời sống hân hoan đoan chánh ấy. Vì sao? Vì ta hưởng thụ năm thứ
diệu dục, một cách dễ dàng không khó. Nhưng các Tôn giả này đạt đến sự ly
dục, chứng đắc tăng thượng tâm, đối với hiện pháp lạc trú thành tựu dễ
dàng không khó. Vì vậy cho nên các Tôn giả này sống hân hoan, đoan chánh,
sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh khiết, vô vi vô cầu, sống đời tịnh hạnh,
ăn uống như loài nai rừng, tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh. Đó là sự
loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn, do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được
Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện.
Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí thông minh trí tuệ, tự xưng
mình thông minh trí tuệ, bác văn quyết định, thuộc làu các kinh, chế phục
cường dịch, đàm luận thông suốt, danh tiếng đồn khắp, mọi người ai cũng
đều nghe biết, đi đến nơi nào thảy đều đả phá tông chủ của người mà tự lập
luận điểm của mình, và nói rằng, ‘Chúng ta hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, mà
hỏi ông những điều như vầy, như vầy. Nếu ông trả lời được như thế này, thì
ta vặn hỏi thế kia. Nếu ông không trả lời được thì ta cũng vặn hỏi rồi bỏ
đi’. Họ nghe Thế Tôn du hóa tại làng nọ, vị này liền tìm đến, nhưng khi
gặp Phật thì lại chẳng dám hỏi lời nào huống nữa là vấn nạn. Đó là sự loại
suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như
Lai Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng
đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí, thông minh trí tuệ, tự xưng là
thông minh trí tuệ, bác văn quyết định, thuộc làu các kinh, chế phục cường
địch, đàm luận thông suốt, danh tiếng đồn khắp, mọi người đều nghe biết,
đi đến chỗ nào thảy đều đả phá tông chỉ người khác mà tự lập luận điểm của
mình. Và nói rằng, ‘Chúng ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi ông những
điều như vầy như vầy. Nếu ông trả lời được thế này, ta lại vặn hỏi ông
cách kia. Nếu ông trả lời không được, ta cũng vặn hỏi rồi bỏ đi’. Họ nghe
Thế Tôn du hóa tại làng nọ, vị này liền đến tìm hỏi, được Thế Tôn trả lời
rõ ràng. Nghe xong Sa-môn Phạm chí này vui mừng hớn hở, cúi đầu lễ sát
chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui. Đó là sự loại suy về pháp của con
đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế
Tôn thật là khéo thú hướng’.
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí khác, thông minh trí tuệ, tự
xưng là thông minh trí tuệ, bác văn quyết định, thuộc làu các kinh, chế
phục cường địch, đàm luận thông suốt, danh tiếng đồn khắp, mọi người đều
nghe biết, đi đến nơi nào thảy đều đả phá chủ trương tông chỉ của người mà
tự lập luận điểm của mình và nói rằng, ‘Chúng ta hãy đi đến chỗ Sa-môn
Cù-đàm để hỏi ông những điều như vầy, như vầy. Nếu ông trả lời được như
thế này, ta lại vặn hỏi ông cách khác. Nếu ông không trả lời được, ta cũng
vặn hỏi ông rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế Tôn du hóa tại làng nọ, vị này liền
đến hỏi, được Thế Tôn trả lời rõ ràng. Nghe xong, Sa-môn Phạm chí này liền
vui mừng phấn khởi, liền tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo; được Thế
Tôn thọ nhận làm Ưu-bà-tắc; trọn đời quy y cho đến tận mạng. Đó là sự loại
suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện; chúng
đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí khác thông minh trí tuệ, tự
xưng là thông minh trí tuệ, bác văn quyết định, thuộc làu các kinh, chế
phục được cường địch, đàm luận thông suốt, danh tiếng đồn khắp mọi người
đều nghe biết, đi đến nơi nào thảy đều đả phá chủ trương tông chỉ của
người mà lập luận điểm của mình mà nói rằng, “Chúng ta hãy đi đến chỗ
Sa-môn Cù-đàm để hỏi ông những điều như vầy, như vầy. Nếu ông trả lời được
như thế này, ta lại vặn hỏi ông cách kia. Nếu ông trả lời không được, ta
cũng vặn hỏi ông rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế Tôn du hóa tại làng nọ, vị này
liền tìm đến hỏi, được Thế Tôn trả lời rõ ràng. Nghe xong, Sa-môn Phạm chí
này vui mừng phấn khởi bèn theo Thế Tôn cầu xin xuất gia thọ giới Cụ túc,
đắc pháp Tỳ-kheo. Thế Tôn bèn độ cho và truyền trao giới Cụ túc, đắc pháp
Tỳ-kheo. Khi các Tôn giả ấy xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, đắc pháp
Tỳ-kheo rồi, sống cô độc một nơi xa vắng, tâm không buông lung, tinh cần
tu tập. Vị ấy sau khi sống cô độc tại một nơi xa vắng, tâm không phóng
dật, tinh cần tu tập, đạt đến mục đích mà một thiện nam tử cạo bỏ râu tóc,
mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học
đạo, là duy chỉ để thành tựu vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời hiện tại
mà tự tri, tự giác, tự thân chứng ngộ an trú, biết một cách như thật rằng
‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa’. Khi các Tôn giả ấy biết pháp rồi, cho đến chứng đắc
A-la-hán; chứng đắc A-la-hán rồi, bèn nói rằng, ‘Này chư Hiền, trước kia
tôi gần bị suy vong gần bị hủy diệt. Vì sao vậy? Trước kia tôi không phải
là Sa-môn tự xưng là Sa-môn; không phải phạm hạnh tự xưng phạm hạnh, không
phải A-la-hán tự xưng A-la-hán. Bấy giờ chúng ta mới thực sự là Sa-môn,
thực sự là phạm hạnh, thực sự là A-la-hán’. Đó là sự loại suy về pháp của
con đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế
Tôn thật là khéo thú hướng’.
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, con tự do trong quốc thổ của mình, muốn giết kẻ không lỗi
lầm thì ra lệnh giết, muốn giết kẻ có lỗi lầm ra lệnh giết; nhưng khi con
ngồi trên đô tọa, con vẫn không được tự do mà nói như vầy, ‘Các khanh hãy
giữ im. Không ai hỏi việc nơi các khanh, mà chính là hỏi việc nơi ta. Các
khanh không thể quyết đoán việc này, chỉ có ta mới có thể quyết đoán việc
này’. Nhưng ở trong đó vẫn có người bàn cãi việc khác, không đợi người
trước nói xong. Con đã nhiều lần thấy Thế Tôn thuyết pháp với đại chúng
vây quanh. Bấy giờ có một người ngủ gật mà ngáy, thấy gây tiếng động, một
người khác bèn nói rằng, ‘Ngài chớ có ngáy gây tiếng động. Ngài không muốn
nghe pháp được Thế Tôn nói như cam lồ chăng?’ Người ấy nghe rồi tức thì im
lặng. Con nghĩ rằng, ‘Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, là Bậc
Điều Ngự đại chúng. Thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay! Vì sao vậy? Vì
Ngài không cần dùng dao, dùng gậy, nhưng tất cả đều đúng như pháp mà được
an ổn khoái lạc’. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó
con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, giảng
dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, hai viên thần tá Tiên Dư và Túc Cựu
được con ban phát tiền tài, và con thường khen ngợi họ; đời sống họ do nơi
con. Nhưng con không thể khiến cho hai vị thần tá này hạ ý cung kính, cúng
dường, phụng sự con như họ hạ ý cung kính tôn trọng cúng dường phụng sự
Thế Tôn. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ
rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật
là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, thuở xưa trong lúc xuất chinh, ngủ đêm trong một ngôi nhà
nhỏ, con muốn thử hai viên thần tá Tiên Dư và Túc Cựu khi ngủ quay đầu về
phía nào, quay về phía con hay quay về phía Thế Tôn ở. Rồi hai vị thần tá
Tiên Dư và Túc Cựu, vào lúc đầu hôm, ngồi kiết già im lặng tĩnh tọa. Đến
nửa hôm nọ nằm ngủ, đầu hướng về phía mà họ biết Thế Tôn đang ở, còn chân
thì quay về phía con. Thấy thế con suy nghĩ, ‘Hai viên thần tá Tiên Dư và
Túc Cựu này không quan tâm đến sự thù thắng trước mắt, cho nên họ không hạ
ý cung kính tôn trọng cúng dường phụng sự ta như hạ ý cung kính tôn trọng,
cúng dường phụng sự Thế Tôn’. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với
Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là
khéo thú hướng.’
“Lại nữa,
bạch Thế Tôn, con là quốc vương, Thế Tôn cũng là Pháp vương. Con thuộc
dòng Sát-lợi, Thế Tôn cũng thuộc dòng Sát-lợi. Con là người nước
Câu-tát-la, Thế Tôn cũng người nước Câu-tát-la. Con đã tám mươi tuổi, Thế
Tôn cũng tám mươi tuổi. Con có thể trọn đời hạ ý cung kính, tôn trọng,
cúng dường phụng sự Thế Tôn.
“Bạch Thế Tôn, hôm nay có nhiều công
việc, con xin phép lui về.”
Đức Thế Tôn
bảo:
“Đại vương,
mong Đại vương tự biết đúng thời.”
Rồi thì
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, sau khi nghe những lời Phật dạy, khéo léo
ghi nhớ, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
quanh ba vòng rồi lui ra về.
Lúc đó ngài
A-nan cầm quạt đứng hầu sau Phật. Thế Tôn bảo:
“A-nan, nếu
có Tỳ-kheo nào đang sống ở rừng Di-lũ-ly này, hãy tập họp tất cả về giảng
đường.”
Rồi thì, Tôn
giả A-nan sau khi vâng lời Phật dạy, tập họp tất cả Tỳ-kheo đang sống
trong rừng Di-lũ-ly tất cả cùng vào giảng đường. Rồi trở lại bạch Phật:
“Bạch Thế
Tôn, những Tỳ-kheo tại rừng Di-lũ-ly này, tất cả đều đã tụ tập tại giảng
đường này rồi, mong Thế Tôn tự biết thời.”
Bấy giờ Thế
Tôn cùng Tôn giả A-nan đi đến giảng đường. Đến nơi Ngài trải chỗ ngồi
trước đại chúng và nói:
“Này các
Tỳ-kheo, hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đã đứng trước Ta nói kinh
‘Pháp Trang Nghiêm’
xong, liền đứng dậy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ta, nhiễu quanh ba vòng rồi
lui về. Này các Tỳ-kheo, các ngươi nên thọ trì kinh Pháp Trang Nghiêm đó,
hãy khéo léo tụng đọc. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì kinh Pháp Trang
Nghiêm này là như pháp, là như nghĩa, là căn bản của phạm hạnh, dẫn đến
trí tuệ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn. Nếu một thiện nam tử đã chí
tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, hãy nên thọ
trì, hãy khéo léo tụng tập kinh Pháp Trang Nghiêm này.”
Phật thuyết
như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 18
212
|
213
|
214
|
215
|
216
|
217
|
218
|
219
|
220
|
221
|
222
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003