SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 17
PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
211. KINH
ĐẠI CÂU-HY-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử vào lúc xế từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hy-la,
chào hỏi nhau xong rồi ngồi xuống một bên.
Tôn giả Xá-lê Tử nói
rằng:
“Này Hiền giả Đại
Câu-hy-la, tôi có điều muốn hỏi, Hiền giả nghe cho chăng?
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, muốn hỏi xin cứ hỏi, tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.”
Tôn giả Xá-lê Tử hỏi
rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, bất thiện, được nói là bất thiện; bất thiện căn, được nói là
bất thiện căn. Thế nào là bất thiện? Thế nào là bất thiện căn?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Thân ác hành, khẩu
và ý ác hành, đó là bất thiện vậy. Tham, nhuế, si, đó là bất thiện căn
vậy. Đó là bất thiện và bất thiện căn.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Hay thay! Lành
thay! Hiền giả Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Câu-hy-la,
thiện, được nói là thiện; thiện căn, được nói là thiện căn. Thế nào là
thiện? Thế nào là thiện căn?
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Thân diệu hạnh,
khẩu và ý diệu hạnh, đó là thiện vậy. Không tham, không nhuế, không si, đó
là thiện căn vậy. Đó là thiện và thiện căn.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Trí tuệ, được nói
là trí tuệ. Thế nào là trí tuệ?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp rằng:
“Biết như vậy, cho
nên nói là trí tuệ. Biết những gì? Biết như thật ‘Đây là Khổ’, biết như
thật ‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là Khổ diệt Đạo’. Biết như
vậy cho nên được nói là trí tuệ.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại Câu-hy-la, thức, được nói là thức; thế nào là thức?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Thức, nhận thức,
cho nên nói là thức.
Nhận thức những gì? Nhận thức, sắc, nhận thức thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Thức, nhận thức, cho nên nói là thức.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, trí tuệ và thức, hai pháp này hiệp nhất hay riêng biệt? Có thể
thi thiết hai pháp này riêng biệt chăng?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Hai pháp này hiệp
nhất chứ không riêng biệt. Không thể thi thiết hai pháp ấy riêng rẽ. Vì
sao vậy? Những gì được biết bởi trí tuệ cũng được biết bỡi thức. Cho nên
hai pháp này hiệp nhất chứ không riêng biệt, và không thể cho rằng hai
pháp này riêng rẽ.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, người biết, ngài lấy gì để biết?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Biết, tôi do trí
tuệ mà biết.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Tôn giả Đại Câu-hy-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, trí tuệ có nghĩa gì? Có sự thù thắng gì? Có công đức gì?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Trí tuệ có nghĩa
yểm ly, có nghĩa vô dục, có nghĩa thấy như thật.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, thế nào là chánh kiến?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Biết như thật về
Khổ, biết như thật về Khổ tập, Khổ diệt và Khổ diệt đạo. Đó gọi là chánh
kiến.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, có bao nhiêu duyên sanh chánh kiến?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có hai nhân, có hai
duyên sanh chánh kiến. Những gì là hai? Một là duyên từ người khác, hai là
nội tâm tư duy. Đó là có hai nhân, có hai duyên sanh chánh kiến.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt được tâm giải
thoát quả, tuệ giải thoát quả, đạt được tâm giải thoát công đức, tuệ giải
thoát công đức?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có năm chi thâu
nhiếp chánh kiến để đạt được tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả; đạt
được tâm giải thoát công đức, tuệ giải thoát công đức. Những gì là năm?
Một là được thâu nhiếp bởi chân đế, hai là được thâu nhiếp bởi giới, ba là
được thâu nhiếp bởi bác văn, bốn là được thâu nhiếp bởi chỉ, năm là được
thâu nhiếp bởi quán. Đó gọi là năm chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt được
tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả, đạt được tâm giải thoát công đức,
tuệ giải thoát công đức.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, như thế nào sanh sự hữu trong tương lai?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Phàm phu ngu si, vô
tri, không đa văn, bị vô minh che lấp, bị ái kết trói buộc, không gặp
thiện tri thức, không hiểu biết Thánh pháp, không điều ngự Thánh pháp, đó
gọi là làm phát sanh sự hữu trong tương lai.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, thế nào là không sanh sự hữu trong tương lai?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Nếu vô minh đã
diệt, minh đã sanh, tất diệt tận khổ. Đó gọi là không phát sanh sự hữu
trong tương lai.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu thọ?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có ba thọ, là khổ
thọ, lạc thọ và không khổ không lạc thọ. Thọ này duyên đâu mà có? Duyên
xúc mà có.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, thọ, tưởng, tư, ba pháp này hiệp nhất hay riêng biệt? Có thể
thi thiết ba pháp này riêng biệt chăng?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp rằng:
“Thọ, tưởng, tư, ba
pháp này hiệp nhất không riêng biệt. Không thể thi thiết ba pháp này là
riêng biệt. Vì sao? Những gì được cảm thọ bởi thọ, cũng được tưởng bởi
tưởng, được tư bởi tư. Cho nên nói ba pháp này hiệp nhất không riêng biệt,
và không thể thi thiết ba pháp này riêng biệt.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Diệt có sự đối ngại
gì?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Diệt không có sự
đối ngại.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có năm căn với hành dị biệt,
cảnh giới dị biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng. Nhãn căn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân căn. Năm căn hành tướng dị biệt, cảnh giới dị biệt, mỗi căn tự
lãnh thọ cảnh giới riêng. Vậy cái gì lãnh thọ tất cả cảnh giới cho chúng?
Cái gì làm sở y cho chúng?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp rằng:
“Năm căn với hành
tướng dị biệt, với cảnh giới dị biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng.
Nhãn căn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn. Năm căn này với hành tướng riêng biệt,
với cảnh giới riêng biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng; ý lãnh thọ tất
cả cảnh giới cho chúng. Ý làm sở y cho chúng.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Ý nương tựa vào đâu
mà tồn tại?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Ý nương tựa vào
tuổi thọ mà tồn tại.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, tuổi thọ nương vào đâu mà tồn tại?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp rằng:
“Tuổi thọ nương vào
hơi ấm mà tồn tại.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, tuổi thọ và hơi ấm, hai pháp này hiệp nhất hay riêng biệt? Có
thể thi thiết hai pháp này riêng biệt chăng?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Tuổi thọ và hơi ấm
hai pháp này hiệp nhất không riêng biệt. Không thể cho rằng hai pháp này
riêng biệt. Vì sao? Nhân tuổi thọ mà có hơi ấm; nhân hơi ấm mà có tuổi
thọ. Nếu không có tuổi thọ thì không có hơi ấm, nếu không có hơi ấm thì
không có tuổi thọ. Cũng như do dầu do bấc mà đốt được đèn; và ở đây do
ngọn mà có ánh sáng, do ánh sáng mà có ngọn. Nếu không có ngọn thì không
có ánh sáng, không có ánh sáng thì không có ngọn. Cũng vậy, nhân tuổi thọ
mà có hơi ấm, nhân hơi ấm mà có tuổi thọ. Nếu không có tuổi thọ thì không
có hơi ấm, không có hơi ấm thì không có tuổi thọ. Cho nên hai pháp này
hiệp nhất không riêng biệt, và không thể cho rằng hai pháp này riêng
biệt.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu pháp khi sanh thân chết rồi bỏ xác ngoài bãi tha
ma như cây gỗ vô tình?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có ba pháp khi sanh
thân chết rồi bỏ xác ngoài bãi tha ma như cây gỗ vô tình. Những gì là ba?
Một là tuổi thọ, hai là hơi ấm, ba là thức. Ba pháp này sau khi sanh thân
chết rồi, bỏ xác ngoài bãi tha ma như cây gỗ vô tình.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, chết và nhập diệt tận định khác nhau như thế nào?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Chết là thọ mạng đã
diệt, hơi nóng ấm đã đi, các căn tan rã. Tỳ-kheo nhập diệt tận định, tuổi
thọ chưa hết, hơi ấm cũng chưa đi, các căn chưa tan rã. Chết và nhập diệt
tận định khác nhau như vậy.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, nhập diệt tận định và nhập vô tưởng định khác nhau như thế
nào?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo nhập diệt
tận định thì tưởng và tri đã diệt. Tỳ-kheo nhập vô tưởng định thì tưởng và
tri không diệt. Nhập diệt tận định và nhập vô tưởng định khác nhau như
vậy.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, ra khỏi diệt tận định và ra khỏi vô tưởng định khác nhau như
thế nào?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo ra khỏi
diệt tận định không nghĩ như vầy, ‘Ta ra khỏi diệt tận định’. Tỳ-kheo ra
khỏi vô tưởng định suy nghĩ như vầy, ‘Ta có tưởng hay ta không có tưởng?’
Ra khỏi diệt tận định và vô tưởng định khác nhau như vậy.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, Tỳ-kheo nhập diệt tận định trước hết diệt pháp nào, thân hành,
khẩu hành hay ý hành?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo nhập diệt
tận định trước hết diệt thân hành, kế đến khẩu hành và sau hết là ý hành.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, Tỳ-kheo ra khỏi diệt tận định, pháp nào phát sanh trước hết?
Thân hành, khẩu hành hay ý hành?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo ra khỏi
diệt tận định, trước hết sanh thân hành, kế đến sanh khẩu hành và sau cùng
sanh ý hành.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Tỳ-kheo khi ra khỏi
diệt tận định, xúc bao nhiêu loại xúc?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo ra khỏi
diệt tận định, xúc ba loại xúc. Những gì là ba? Một là xúc không di động;
hai là xúc vô sở hữu; ba là xúc vô tướng. Tỳ-kheo khi ra khỏi diệt tận
định xúc ba loại xúc này.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, không, vô nguyện, vô tướng, ba pháp này khác nhau về nghĩa, về
văn? Hay cùng một nghĩa một văn?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Không, vô nguyện, vô tướng, ba pháp này khác nghĩa, khác văn.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong, khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh bất động định?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có bốn nhân, bốn
duyên phát sanh bất động định. Những gì là bốn? Nếu Tỳ-kheo ly dục, ly ác
bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền thành tựu an trụ. Đó gọi là bốn
nhân bốn duyên phát sanh bất động định.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh vô sở hữu định?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có ba nhân, ba
duyên phát sanh vô sở hữu định. Những gì là ba? Nếu Tỳ-kheo vượt tất cả
sắc tưởng cho đến chứng đắc vô sở hữu xứ thành tựu an trụ. Đó gọi là ba
nhân ba duyên phát sanh vô sở hữu định.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh vô tưởng định?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có hai nhân, hai
duyên phát sanh vô tưởng định. Những gì là hai? Một là không suy niệm tất
cả mọi tưởng, hai là suy niệm vô tưởng giới. Đó gọi là có hai nhân, hai
duyên phát sanh vô tưởng định.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên trụ vô tưởng định?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có hai nhân, hai
duyên trụ vô tưởng định. Những gì là hai? Một là không niệm tất cả tưởng,
hai là niệm vô tưởng giới. Đó là hai nhân duyên hai duyên trụ vô tưởng
định.”
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe xong khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
“Hiền giả Đại
Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân bao nhiêu duyên ra khỏi vô tưởng định?”
Tôn giả Đại
Câu-hy-la đáp:
“Có ba nhân ba duyên
ra khỏi vô tưởng định. Những gì là ba? Một là niệm tất cả tưởng; hai là
không niệm vô tưởng giới; ba là do thân này và do sáu xứ duyên mạng căn.
Đó gọi là có ba nhân, ba duyên ra khỏi vô tưởng định.”
Như vậy, hai vị Tôn
giả tán thán lẫn nhau rằng: “Lành thay! Lành thay!” và những điều được
thảo luận đó, hoan hỷ phụng hành, rồi rời khỏi chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 17
202
|
203
|
204
|
205
|
206
|
207
|
208
|
209
|
210
|
211
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003