SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 17
PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
209. KINH
BỆ-MA-NA-TU[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Dị học
Bệ-ma-na-tu,
sau giờ ngọ, thung dung đến chỗ Phật, chào hỏi xong, hỏi rằng:
“Bạch Cù-đàm, sắc
này hơn, sắc này hơn. Này Cù-đàm, sắc này hơn.”
Thế Tôn hỏi:
“Này Ca-chiên,
đó là những sắc nào?”
Dị học Bệ-ma-na-tu
đáp:
“Bạch Cù-đàm, nếu
sắc nào không có sắc khác tối thượng, tối diệu, tối thắng hơn, Cù-đàm, sắc
đó là tối thượng, sắc đó là tối thắng.”
Thế Tôn bảo:
“Ca-chiên, cũng như có người nói như vầy, ‘Nếu trong nước có người con gái
rất đẹp, ta muốn được người con gái đó’. Nếu có người hỏi người đó như
vầy, ‘Ông biết trong nước có người con gái rất đẹp, nhưng có biết tên gì,
họ gì, sanh sống như thế nào? Là cao hay thấp, thô hay tế, trắng hay đen,
hoặc không trắng không đen, là con gái Sát-đế-lợi, con gái Phạm chí, Cư
sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam phương Bắc?’
Người đó đáp, ‘Tôi không biết’. Người kia lại hỏi, ‘Ông không biết, không
thấy trong nước có người con gái rất đẹp, tên họ như vậy, sanh sống như
vậy, dài, ngắn, thô, tế, trắng, đen, không trắng không đen, con gái
Sát-lợi, con gái Phạm chí, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương
Tây, phương Nam hay phương Bắc, mà lại nói như vầy, ‘Ta muốn được người
con gái đó được ư’?’
“Cũng vậy, Ca-chiên,
ông nói như vầy, ‘Sắc kia là vi diệu, tối vi diệu; sắc kia là tối thắng;
sắc kia là tối thượng’. Nhưng khi hỏi sắc đó thì ông lại không biết.”
Dị học Bệ-ma-na-tu
thưa:
“Bạch Cù-đàm, cũng
như tinh vàng tử ma là thứ cực diệu, người thợ vàng khéo mài dũa, sửa sang
khiến cho trong suốt, nhờ dùng tấm lụa trắng đem giữa nắng, sắc của nó cực
diệu, ánh sáng chiếu sáng lấp lánh. Cũng vậy, bạch Cù-đàm, tôi nói ‘Sắc
kia là vi diệu, tối vi diệu; sắc kia là tối thắng; sắc kia là tối thượng’.
Thế Tôn bảo:
“Ca-chiên, nay Ta
hỏi ông, tùy theo chỗ hiểu biết mà đáp. Ý ông nghĩ sao? Vàng ròng tử ma
nhờ dùng lụa trắng, để giữa nắng mà sắc của nó cực diệu chiếu sáng lấp
lánh, và ánh sáng con đom đóm trong đêm tối chiếu sáng lấp lánh, trong hai
ánh sáng đó, cái nào tối thượïng, tối thắng?”
Dị học Bệ-ma-na-tu
đáp rằng:
“Bạch Cù-đàm, ánh
sáng con đom đóm đối với ánh sáng của vàng ròng tử ma thì ánh sáng đom đóm
tối thượng, tối thắng.”
Thế Tôn hỏi:
“Ca-chiên, ý ông
nghĩ sao? Ánh sáng đèn dầu trong đêm tối và ánh lửa đống cây lớn trong đêm
tối, trong hai ánh sáng ấy, cái nào sáng hơn?”
Dị học Bệ-ma-na-tu
đáp:
“Bạch Cù-đàm, ánh
sáng lửa đống cây lớn trong đêm tối đối với ánh sáng đèn dầu thì ánh sáng
lửa đống cây lớn sáng hơn.”
Thế Tôn hỏi:
“Ca-chiên, ý ông
nghĩ thế nào? Ánh sáng chiếu của lửa đống cây lớn trong đêm tối và ánh
sáng chiếu của sao Thái bạch vào buổi sáng trời không u ám, ánh sáng nào
sáng hơn?”
Dị học Bệ-ma-na-tu
đáp:
“Bạch Cù-đàm, ánh
sáng của sao Thái bạch đối với ánh sáng lửa đống cây lớn, thì ánh sáng sao
Thái bạch sáng hơn.”
Thế Tôn hỏi:
“Ca-chiên, ý ông
nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của sao Thái bạch vào buổi sáng trời không u
ám và ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng nửa đêm trời không u ám, trong hai
ánh sáng ấy, cái nào sáng hơn?”
Dị học Bệ-ma-na-tu
đáp:
“Bạch Cù-đàm, ánh
sáng của mặt trăng đối với ánh sáng của sao Thái bạch thì ánh sáng của mặt
trăng sáng hơn.”
Thế Tôn hỏi:
“Ca-chiên, ý ông
nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng vào nửa đêm trời không u ám và
ánh sáng chiếu tỏa mặt trời vào mùa thu đứng ngay giữa bầu trời trong suốt
không u ám, trong hai ánh sáng đó cái nào sáng hơn?”
Dị học Bệ-ma-na-tu
đáp:
“Bạch Cù-đàm, ánh
sáng của mặt trời, so với ánh sáng của mặt trăng thì ánh sáng mặt trời
sáng hơn.”
Thế Tôn bảo rằng:
“Ca-chiên, có rất
nhiều chư Thiên, nay ánh sáng của mặt trời và ánh sáng của mặt trăng này
tuy có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần,
nhưng ánh sáng đó cũng không bằng ánh sáng của chư Thiên. Ta ngày xưa đã
từng cùng chư Thiên tụ tập luận sự. Những điều Ta nói đều vừa ý chư Thiên
ấy, nhưng Ta không nói, ‘Sắc vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối
thượng.” Này Ca-chiên, còn ông, với lửa đóm, lửa sâu, sắc rất tệ xấu mà
nói ‘Sắc kia là vi diệu, tối vi diệu; sắc kia là tối thắng; sắc kia là tối
thượng’. Và khi được hỏi lại nói không biết.”
Ngay lúc đó dị học
Bệ-ma-na-tu bị Thế Tôn quở trách trước mặt trong lòng buồn bã, cúi đầu im
lặng, không còn lời nào biện bạch.
Sau khi Thế Tôn quở
trách, muốn khiến ông ta hoan hỷ nên bảo:
“Này Ca-chiên, có
năm công đức của dục,
khả hỷ, khả ái, khả niệm, khả ái, có lạc tương ưng với dục.
Mắt nhận biết sắc, tai biết tiếng, mũi biết hương vị, lưỡi biết mùi, và
thân biết cảm xúc. Này Ca-chiên, sắc hoặc có ái, hoặc không ái. Nếu có một
người đối với sắc này mà khả ý, xứng ý, thích ý, thỏa ý, mãn nguyện ý,
người ấy đối với sắc khác dù tối thượng, tối thắng vẫn không ham muốn,
không tư duy, không nguyện cầu. Người đó cho sắc này là tối thắng tối
thượng. Này Ca-chiên, thanh, hương, vị, xúc cũng lại như vậy. Này
Ca-chiên, xúc hoặc có ái, hoặc không ái. Nếu có một người đối với xúc này
mà khả ý, xứng ý, thích ý, thỏa ý, mãn nguyện ý, người đó đối với những
xúc khác, dù tối thượng, tối thắng vẫn không ham muốn, không tư duy, không
nguyện, không cần. Người đó cho xúc này là tối thượng, tối thắng vậy.
Bấy giờ Dị học
Bệ-ma-na-tu chấp tay hướng về Phật bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm! Thật
kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay. Sa-môn Cù-đàm vì tôi mà dùng vô lượng
phương tiện nói, ‘Dục lạc, dục lạc đệ nhất’.
Bạch Cù-đàm, cũng như do lửa cỏ mà đốt lửa cây, do lửa cây mà đốt lửa cỏ.
Cũng vậy, Sa-môn Cù-đàm vì tôi mà dùng vô lượng phương tiện, nói: ‘Dục
lạc, dục lạc đệ nhất’.
Thế Tôn bảo:
“Thôi! Thôi! Này
Ca-chiên, ông là người vì luôn luôn có sở kiến dị biệt, nhẫn thọ dị biệt,
sở thích dị biệt, ý dục dị biệt, ý hướng dị biệt,
cho nên không thấu triệt ý nghĩa những điều Ta nói.
“Này Ca-chiên, đệ tử
Ta đầu hôm và cuối đêm thường không nằm ngủ, mà chánh định, chánh ý, tu
tập đạo phẩm, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Những người ấy mới thấu triệt
những điều Ta nói.”
Ngay lúc đó dị học
Bệ-ma-na-tu nổi giận đối với Phật, nổi ghen ghét, không vừa ý, muốn vu
báng Thế Tôn, muốn hạ nhục Thế Tôn, và ông vu báng Thế Tôn như vầy, hạ
nhục Thế Tôn như vầy:
“Cù-đàm, có Sa-môn,
Phạm chí, không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không
biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật
rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không
còn tái sanh nữa’. Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy, ‘Vì sao Sa-môn, Phạm chí này
không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không biết sanh
tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật ‘Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh
nữa’?”
Lúc đó Thế Tôn liền
nghĩ rằng:
“Dị học Bệ-ma-na-tu
nổi giận đối với Ta, nổi ghen ghét, không vừa ý, muốn vu báng Ta, muốn hạ
nhục Ta, và vu báng Ta như vậy, hạ nhục Ta như vậy mà nói với Ta như vầy,
‘Cù-đàm, có Sa-môn, Phạm chí, không biết biên tế đời trước, không biết
biên tế đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu
cánh trí, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy, ‘Vì
sao Sa-môn, Phạm chí này không biết biên tế đời trước, không biết biên tế
đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí,
biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’?’.”
“Thế Tôn biết rồi
bảo rằng:
“Này Ca-chiên, nếu
có Sa-môn, Phạm chí này không biết biên tế đời trước, không biết biên tế
đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí,
biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’; thì người đó phải nói như vầy, ‘Hãy gác qua
biên tế đời trước, hãy gác qua biên tế đời sau’. Nhưng này Ca-chiên, Ta
cũng nói như vầy, ‘Hãy gác qua biên tế đời trước, hãy gác qua biên tế đời
sau’. Giả sử không nhớ một đời. Khi đệ tử Tỳ-kheo của Ta đến, không nịnh
hót, không lừa gạt, mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo
hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh pháp.
“Này Ca-chiên, cũng
như một đứa trẻ nhỏ thân còn yếu, nằm ngửa. Cha mẹ nó buộc tay chân nó
lại. Đứa bé đó sau lớn lên, các căn thành tựu, cha mẹ lại cởi trói tay
chân cho nó ra. Nó chỉ nhớ khi được cởi trói, chớ không nhớ khi bị trói.
“Cũng vậy, này
Ca-chiên, Ta nói như vầy, ‘Hãy gác lại biên tế đời trước, hãy gác lại biên
tế đời sau’. Giả sử không nhớ một đời. Khi đệ tử Tỳ-kheo Ta đến, không
nịnh hót, không lừa dối, mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự
giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh
pháp.
“Này Ca-chiên, cũng
như do dầu, do tim, mà đốt đèn, không có người thêm dầu, không có người
đổi tim, dầu trước đã hết, sau lại không rót thêm thì không thể còn mà
chóng tự tắt vậy.
“Cũng vậy, này
Ca-chiên, Ta nói như vầy, ‘Hãy gác lại biên tế đời trước, hãy gác lại biên
tế đời sau’. Giả sử không nhớ một đời. Khi đệ tử của Ta đến, không nịnh
hót, không lừa dối mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo
hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh pháp.
“Này Ca-chiên, cũng
như có mười đống cây, hoặc hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi hay sáu
mươi đống cây, dùng lửa mà đốt, tất cả đều bùng cháy, bèn thấy ngọn lửa.
Đống lửa ấy nếu không có người thêm cỏ cây hoặc đổ thêm vỏ trấu vào củi
trước đã hết, sau không thêm nữa, thì không thể còn mà chóng tự tắt vậy.
“Cũng vậy, này
Ca-chiên, Ta nói như vầy, ‘Hãy gác lại biên tế đời trước, hãy gác lại biên
tế đời sau’. Giả sử không nhớ một đời. Khi đệ tử của Ta đến, không nịnh
hót, không lừa dối mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo
hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh pháp.”
Khi thuyết pháp này
Dị học Bệ-ma-na-tu xa lìa trần cấu, pháp nhãn của các pháp phát sanh. Lúc
đó, Dị học Bệ-ma-na-tu thấy pháp, chứng pháp, giác ngộ bạch tịnh pháp,
không còn thấy ai hơn, lại không do kẻ khác mà độ nghi, đoạn hoặc, không
còn do dự, đã an trú quả chứng đối với pháp của Thế Tôn, chứng được vô sở
úy, cúi đầu sát chân Phật mà thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
xin được theo Phật xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo,
thực hành phạm hạnh.”
Thế Tôn dạy:
“Thiện lai Tỳ-kheo,
hãy hành phạm hạnh! Dị học được theo Phật xuất gia học đạo, thọ cụ túc
giới, được làm Tỳ-kheo, thực hành phạm hạnh. Tôn giả Bệ-ma-na-tu xuất gia
học đạo, thọ giới cụ túc rồi, biết pháp, thấy pháp, cho đến chứng được quả
vị A-la-hán.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả Bệ-ma-na-tu và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng
hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 17
202
|
203
|
204
|
205
|
206
|
207
|
208
|
209
|
210
|
211
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003