SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 16
PHẨM ĐẠI (phần sau)
198. KINH ĐIỀU NGỰ ĐỊA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại thành Vương xá, ở tại Trúc lâm, trong vườn Ca-lan-đà.
Bấy giờ Sa-di
A-di-na-hòa-đề,
cũng ở tại thành Vương xá, tại một cốc thiền, trong khu rừng vắng. Lúc bấy
giờ Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na,
sau giờ trưa, thong dong đi đến Sa-di A-di-na-hòa-đề, cùng chào hỏi xong,
ngồi xuống một bên hỏi rằng:
“Hiền giả A-kì-xá-na,
tôi có điều muốn hỏi, mong Hiền giả nghe cho chăng?”
Sa-di A-di-na-hòa-đề
nói:
“Hiền Vương đồng tử,
muốn hỏi xin cứ hỏi. Tôi nghe rõ rồi sẽ suy nghĩ.”
Vương đồng tử hỏi:
“Hiền giả
A-kì-xá-na, phải chăng thật sự Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này không phóng
dật, tu hành tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm chăng?”
Sa-di đáp:
“Hiền Vương đồng tử,
thật sự như vậy, Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này, không phóng dật, tu hành
tinh cần sẽ đạt được nhất tâm.”
Vương đồng tử lại
hỏi:
“Hiền giả
A-kì-xá-na, mong Hiền giả theo những điều đã nghe, đã tụng tập, nói lại
hết cho tôi rõ, như Tỳ-kheo trong Pháp Luật này không phóng dật, tu hành
tinh cần sẽ đạt đến nhất tâm.”
Sa-di đáp:
“Hiền Vương đồng tử,
tôi không đủ sức để theo những điều đã nghe, đã tụng tập nói lại hết cho
Vương tử, như Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này không phóng dật, tu hành tinh
cần, sẽ đạt đến nhất tâm. Hiền Vương tử, nếu tôi theo những điều đã nghe,
đã tụng tập nói lại hết cho Vương tử, như Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này
không phóng dật, tu hành tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm. Hoặc Hiền giả
Vương tử không thể hiểu được. Như vậy thì tôi nhọc công vô ích.”
Vương đồng tử nói
với Sa di:
“Hiền giả
A-kì-xá-na, Hiền giả chưa bị người khác chiết phục, vì ý gì mà đã tự mình
rút lui? Hiền giả A-kì-xá-na, mong Hiền giả cứ theo những điều đã nghe, đã
tụng tập, có thể nói lại hết cho tôi, như Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này
không phóng dật, tu hành tinh cần sẽ đạt đến nhất tâm, nếu tôi hiểu được
thì hay lắm, nhưng nếu tôi không hiểu sẽ không hỏi thêm về các pháp nữa.”
Rồi thì Sa-di
A-di-na-hòa-đề theo những pháp đã nghe, đã tụng tập, nói lại cho Vương
đồng tử Kì-bà-tiên-na, như Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này, không phóng dật,
tu hành tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm. Bấy giờ Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na
nói:
“Hiền giả
A-kì-xá-na, nếu Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này không phóng dật, tu hành
tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm; không bao giờ có trường hợp này.”
Nói xong, bèn từ chỗ
ngồi đứng dậy, không nói lời từ giã mà bỏ đi. Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na
đi chưa bao lâu, rồi Sa-di A-di-na-hòa-đề đi đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ
và ngồi sang một bên, đem những điều đã thảo luận với Vương đồng tử
Kì-bà-tiên-na kể hết lại cho Đức Phật. Đức Thế Tôn nghe xong, nói với
Sa-di:
“A-kì-xá-na, thôi đủ rồi. Làm sao có thể biết được, khi Vương đồng tử
Kì-bà-tiên-na sống trong dục vọng, bị dục ái nhai nuốt, bị dục vọng đốt
cháy. Đối với sự đoạn trừ dục, đoạn trừ ái, đoạn trừ sự đốt cháy của dục,
tình trạng mà chỉ có địa vị
vô dục mới biết, vô dục mới hay, vô dục mới chứng giác; địa vị ấy mà Vương
đồng tử có thể biết được, thấy được, không thể có trường hợp này. Vì sao
vậy? Này A-kì-xá-na, vì Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na thường sống trong dục
vọng vậy.
“A-kì-xá-na, cũng
như trong bốn trường hợp điều ngự;
điều ngự voi, điều ngự ngựa, điều ngự bò, điều ngự người. Trong đó có hai
trường hợp điều ngự có thể điều ngự, và hai trường hợp điều ngự không thể
điều ngự.
A-kì-xá-na, ý ngươi nghĩ sao? Nếu trong hai trường hợp điều ngự không thể
điều ngự ấy; ở đây chưa điều phục tình trạng chưa điều phục, chưa được
huấn luyện mà tiếp nhận sự huấn luyện, trường hợp này không thể có.
Nếu trong hai trường hợp điều ngự có thể điều ngự này, khéo điều ngự; ở
đây điều phục tình trạng chưa điều phục, huấn luyện để tiếp nhận sự huấn
luyện, trường hợp này có thể có.
“Cũng vậy, ở đây,
A-kì-xá-na, thôi đủ rồi. Làm sao có thể biết được, khi Vương đồng tử
Kì-bà-tiên-na sống trong dục vọng, bị dục ái nhai nuốt, bị dục vọng đốt
cháy. Đối với sự đoạn trừ dục, đoạn trừ ái, đoạn trừ sự đốt cháy của dục,
tình trạng mà chỉ có địa vị
vô dục mới biết, vô dục mới hay, vô dục mới chứng giác; địa vị ấy mà Vương
đồng tử có thể biết được, thấy được, không thể có trường hợp này. Vì sao
vậy? Này A-kì-xá-na, vì Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na thường sống trong dục
vọng vậy.
“A-kì-xá-na, cũng
như cách xóm không xa có một hòn núi đá lớn, không sứt, không thủng, không
trống, bền chặt, không lung lay, hợp thành khối duy nhất. Giả sử có hai
người đang muốn nhìn ngắm, trong đó có một người leo nhanh lên núi, người
thứ hai đứng dưới chân núi. Người đứng trên núi đá nhìn thấy bên kia núi
đá có khoảng đất bằng phẳng, vườn tược, cây rừng, suối trong, ao hoa, sông
dài, nước lớn. Người trên núi sau khi thấy, bèn hỏi người dưới núi rằng,
‘Bạn có thấy bên kia núi có khoảng đất bằng phẳng, vườn tược, cây rừng, ao
hoa, suối trong, sông dài, nước lớn chăng?’ Người dưới núi đáp, ‘Nếu tôi
thấy hòn núi này, với bên kia có khoảng đất bằng phẳng, vườn tược, cây
rừng, suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn, trường hợp này không thể
có.’ Rồi người trên núi leo nhanh xuống, nắm người dưới núi dẫn lên trên
hòn núi đá. Đến nơi rồi hỏi, ‘Bạn có thấy bên kia núi có khoảng đất bằng
phẳng, vườn tược, cây rừng, suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn chăng?’
Người kia đáp, ‘Bây giờ tôi mới thấy.’ Lại hỏi người kia, ‘Vừa rồi bạn nói
rằng không thể có trường hợp này, nay lại nói là thấy có; thế nghĩa là
sao?’ Người kia đáp, ‘Vừa rồi tôi bị hòn núi che khuất nên không thấy.’
“Cũng vậy, A-kì-xá-na, thôi đủ rồi. Làm sao có thể biết được, khi Vương
đồng tử Kì-bà-tiên-na sống trong dục vọng, bị dục ái nhai nuốt, bị dục
vọng đốt cháy. Đối với sự đoạn trừ dục, đoạn trừ ái, đoạn trừ sự đốt cháy
của dục, tình trạng mà chỉ có địa vị
vô dục mới biết, vô dục mới hay, vô dục mới chứng giác; địa vị ấy mà Vương
đồng tử có thể biết được, thấy được, không thể có trường hợp này. Vì sao
vậy? Này A-kì-xá-na, vì Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na thường sống trong dục
vọng vậy.
“Này A-kì-xá-na,
thuở xưa, vua Sát-lợi Đảnh Sanh có một người thợ săn voi. Vua nói, ‘Này
thợ săn voi. Hãy bắt voi rừng về đây cho ta. Nếu bắt được rồi hãy báo cho
ta hay.’ Bấy giờ thợ săn voi sau khi lãnh mạng của vua, bèn cỡi vương
tượng đi đến một khu rừng già. Ở trong khu rừng già này, người thợ săn
trông thấy một con voi rừng rất lớn. Sau khi thấy, bèn bắt và cột vào cổ
con vương tượng. Lúc bấy giờ con vương tượng dẫn voi rừng ra ngoài khoảng
đất trống, còn người thợ săn voi thì đi đến vua Sát-lợi Đảnh Sanh thưa
rằng, ‘Tâu thiên vương, thần đã bắt được con voi rừng, cột ở khoảng đất
trống, xin theo ý thiên vương!” Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nghe tâu, liền bảo
rằng, ‘Này nài voi giỏi, bây giờ ngươi hãy huấn luyện nhanh chóng con voi
rừng đó khiến nó khuất phục, khiến nó thành con voi được huấn luyện kỹ.
Nếu huấn luyện đã hoàn hảo rồi, hãy trở về báo cho ta biết.’ Rồi người
huấn luyện voi giỏi sau khi vâng mạng vua, vác cây gậy rất lớn trên vai
hữu, đi đến chỗ con voi rừng. Người ấy cắm cây gậy xuống đất, cột cổ voi
rừng lại, chế ngự tâm ý vui thích núi rừng của nó, trừ khử tâm niệm ham
muốn núi rừng, dứt bỏ mệt nhọc núi rừng, khiến cho nó vui thích thôn ấp,
tập yêu người đời.
“Người huấn luyện
voi giỏi trước hết cho nó ăn uống. Này A-kì-xá-na, khi voi rừng bắt đầu
nghe theo thợ huấn luyện voi giỏi mà chịu ăn uống, người huấn luyện voi
giỏi bèn nghĩ rằng, ‘Bây giờ con voi rừng này có thể sống được rồi. Vì sao
vậy? Vì con voi rừng to lớn này bắt đầu chịu ăn uống.’ Khi voi rừng bắt
đầu chịu ăn uống, nghe lời người huấn luyện, người huấn luyện voi nói với
nó bằng những lời dịu dàng khả ái, bảo nó nằm xuống, đứng dậy, đi tới, đi
lui, lấy, bỏ, co lại, đuổi ra. Khi người luyện voi nói với voi rừng bằng
những lời dịu dàng khả ái, bảo nó nằm xuống, đứng dậy, đi tới, đi lui, lấy
bỏ, co lại duỗi ra, và voi rừng làm y theo lời dạy của người huấn luyện
voi như vậy. Này A-kì-xá-na, khi voi rừng nghe theo lời dạy của người huấn
luyện voi, bấy giờ người huấn luyện voi mới buộc hai chân trước, hai chân
sau, hai bàn thối, hai sườn hông, đùi, xương sống, đầu, trán, tai, ngà, và
buộc cả vòi nó lại, rồi sai người cầm móc câu cỡi lên đầu nó; khiến một số
đông người cầm dao, thuẫn, sảo, mâu, kích, búa, việt, đứng phía trước, còn
người huấn luyện voi thì tay cầm một cây mâu nhọn đứng ngay trước voi mà
nói rằng, ‘Bây giờ ta trị ngươi, khiến ngươi không di động. Ta trị ngươi
chớ có di động.’ Khi voi rừng nghe người huấn luyện voi sửa trị không di
động, nó không giở chân trước, cũng không động đậy chân sau, hai bàn thối,
hai sườn hông, đùi, xương sống, đầu, trán, tai ngà và vòi, tất cả thảy đều
không động đậy. Voi rừng nghe theo người huấn luyện voi đứng im bất động
như vậy.
“Này A-kì-xá-na, khi
voi rừng nghe theo người huấn luyện voi mà không di động, lúc bấy giờ nó
nhẫn chịu những dao, sảo, mâu, kích, búa, việt, hô hoán to tiếng, hoặc gào
thét, hoặc thổi tù và, đánh trống, động chuông, nó có thể nhẫn chịu tất
cả. Khi voi rừng đã có thể kham nhẫn, bấy giờ nó là con voi điều ngự, khéo
điều ngự, thượng điều ngự, tối thượng điều ngự, thượng nhanh nhẹn, tối
thượng nhanh nhẹn, có thể vào cho vua cỡi, ăn lẫm của vua, được gọi là
vương tượng.
“Cũng vậy, A-kì-xá-na, nếu khi Như Lai xuất hiện thế gian, là Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Chúng Hựu, vị ấy đối
với thế gian này, giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ người đến
trời, mà tự tri, tự giác, tự chứng ngộ, thành tựu an trụ. Vị ấy thuyết
pháp phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu, phần cuối cũøng vi diệu, có
nghĩa có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh; pháp được vị ấy nói,
khi con nhà cư sĩ nghe được, và sau khi nghe thì có tín tâm nơi pháp được
Như Lai nói. Người này sau khi có tín tâm, bèn cạo bỏ râu tóc, khoác áo
ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, để học đạo. Này
A-kì-xá-na, đó là lúc Thánh đệ tử ra nơi khoảng đất trống, cũng như vương
tượng dẫn voi rừng ra. Và cũng như voi rừng còn tham luyến ái dục, ái dục
nơi đời sống trong rừng núi. Này A-kì-xá-na, cũng vậy, chư Thiên và Nhân
loại tham luyến dục lạc ở nơi ngũ dục, sắc, thanh, hương, vị, xúc, Như Lai
bắt đầu điều ngự Tỳ-kheo ấy rằng, ‘Ngươi hãy thủ hộ thân và mạng thanh
tịnh. Hãy thủ hộ miệng ý và mạng thanh tịnh.
“Khi Thánh đệ tử thủ
hộ thân và mạng thanh tịnh, thủ hộ miệng, ý và mạng thanh tịnh. Như Lai
lại điều phục Tỳ-kheo ấy rằng, ‘Ngươi hãy quán nội thân như thân, cho đến
quán thọ, tâm, pháp như pháp.’ Khi Thánh đệ tử quán nội thân như thân,
quán thọ, tâm, pháp như pháp, thì bốn niệm xứ này ở trong tâm của Hiền
Thánh đệ tử, buộc trói tâm của vị ấy lại, chế ngự tâm ý vui say theo thế
tục, trừ khử tâm niệm ham muốn thế tục, dứt trừ sự mệt nhọc thế tục, khiến
cho vui với Chánh pháp, tu tập Thánh giới. Này A-kì-xá-na, cũng như người
huấn luyện voi, sau khi vâng mạng vua Sát-lợi Đảnh Sanh rồi, vác cây gậy
rất lớn rồi trên vai phải đi đến chỗ voi rừng, cắm cây xuống đất, cột cổ
voi rừng lại, chế ngự tâm ý vui thích núi rừng, trừ khử tâm niệm ham muốn
núi rừng, dứt bỏ sự mệt nhọc núi rừng, khiến vui với thôn ấp, quen yêu
thích nhân gian; cũng vậy, này A-kì-xá-na,, bốn niệm xứ này ở trong tâm
của Hiền Thánh đệ tử, buộc trói tâm người ấy lại, chế ngự tâm ta vui say
thế tục, dứt bỏ sự mệt nhọc thế tục, khiến vui với Chánh pháp, tu tập
Thánh giới.
“Khi Thánh đệ tử quán nội thân như thân, cho đến quán, thọ, tâm, pháp như
pháp, Như Lai điều phục Tỳ-kheo ấy rằng, ‘Ngươi hãy quán nội thân như
thân, đừng suy niệm những tư niệm tương ưng với dục, cho đến quán thọ,
tâm, pháp như pháp, không suy niệm những tư niệm tương ưng với phi pháp.’
Và đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai vậy. Này A-kì-xá-na, cũng như voi
rừng nghe theo người huấn luyện voi, bằng những lời dịu dàng khả ái, bảo
nằm xuống, đứng dậy, đi tới, đi lui, lấy, bỏ, co lại, duỗi ra. Voi rừng
tuân theo lời dạy của người huấn luyện voi như vậy. Cũng vậy, này
A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử quán nội thân như thân, không suy niệm tư niệm
tương ưng với dục, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp, không suy niệm tư
niệm tương ưng với phi pháp. Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai như
vậy.
“Khi Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai như vậy, Như Lai lại điều
phục Tỳ-kheo ấy rằng, ‘Ngươi hãy ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến
chứng đắc đệ Tứ thiền thành tựu và an trụ. Như vậy Thánh đệ tử vâng theo
lời dạy của Như Lai, an trụ không di động.’ Này A-kì-xá-na, cũng như voi
rừng vâng theo sự sửa trị của người huấn luyện voi không di động, không
giở hai chân trước, hai chân sau, hai bàn thối, hai sườn hông, đùi xương
sống, đầu, tai, ngà và vòi, tất cả đều không di động. Voi rừng nghe theo
người huấn luyện voi đứng im không di động như vậy. Cũng vậy, này
A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng
đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ, như vậy Thánh đệ tử vâng theo lời dạy
của Như Lai mà an trụ không di động. Khi Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của
Như Lai mà an trụ không di động, vị ấy lúc bấy giờ có thể kham nhẫn đói,
khát, nóng lạnh, muỗi, chí, rận, gió, nắng bức bách, tiếng dữ, gậy đánh
cũng đều có thể kham nhẫn. Thân gặp những bệnh tật rất đau đớn, gần như
tuyệt mạng, và những điều không khả lạc, tất cả đều có thể kham nhẫn. Này
A-kì-xá-na, cũng như voi rừng nghe theo người huấn luyện voi đứng im không
di động, nó lúc bấy giờ nhẫn chịu được dao, thuẫn, sảo, mâu, kích, búa,
việt, hô hoán to tiếng, hoặc gào thét, thổi tù và, đánh trống, động chuông
thảy đều có thể kham nhẫn. Cũng vậy, này A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử vâng
theo lời dạy của Như Lai mà an trụ không di động, vị ấy lúc bấy giờ có thể
kham nhẫn đói, khát, lạnh, nóng, muỗi, chí, rận, gió, nắng, bức bách,
tiếng dữ, gậy đánh, cũng có thể kham nhẫn, thân gặp những bệnh tật rất đau
đớn, gần như tuyệt mạng, và những điều không khả lạc, thảy đều có thể kham
nhẫn. Này A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai mà có
thể kham nhẫn, vị ấy lúc bấy giờ là vị điều ngự, thiện điều ngự, được
thượng điều ngự, tối thượng điều ngự, được thượng tịch tịnh, tối thượng
tịch tịnh. Vị ấy trừ bỏ các tà vạy, sợ hãi, ngu si và siểm nịnh, thanh
tịnh lắng đọng trần lao, không cấu nhiễm không ô uế, xứng đáng tán thán,
đáng thỉnh, đáng kính, đáng trọng, thật sự xứng đáng được cúng dường, là
ruộng phước cho tất cả chư Thiên và Nhân loại. Này A-kì-xá-na, cũng như
voi rừng đã có thể kham nhẫn. Lúc bấy giờ nó là voi điều ngự, thiện điều
ngự, thượng điều ngự, tối thượng điều ngự, thượng nhanh nhẹn, tối thượng
nhanh nhẹn, có thể xung vào cho vua cỡi, được ăn lẫm của vua, được gọi là
vương tượng. Cũng vậy, này A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử vâng theo Như Lai
mà có thể kham nhẫn, vị ấy lúc bấy giờ được gọi là điều ngự, thiện điều
ngự, được thượng điều ngự, tối thượng điều ngự, thượng tịch tịnh, tối
thượng tịch tịnh, trừ bỏ các tà vạy, sợ hãi, ngu si và siểm nịnh, thanh
tịnh lắng đọng các trần lao, không cấu nhiễm, không ô uế, xứng đáng tán
thán, đáng thỉnh, đáng kính, đáng trọng, thật sự xứng đáng cúng dường, là
ruộng phước cho hết thảy chư Thiên và Nhân loại.
“Này A-kì-xá-na, con
voi rừng còn nhỏ, không được điều ngự, mà chết, thì đó gọi là cái chết
không được điều ngự. Con voi rừng trung niên, không được điều ngự mà chết,
thì gọi là cái chết không được điều ngự. Này A-kì-xá-na, Thánh đệ tử niên
thiếu không được điều mà mạng chung, thì đó gọi là mạng chung không được
điều ngự. Thánh đệ tử trung niên không được điều ngự mà mạng chung thì đó
gọi là mạng chung không được điều ngự.
“Này A-kì-xá-na, con
voi rừng còn nhỏ được thiện điều ngự mà chết thì đó gọi là cái chết thiện
điều ngự. Con voi rừng trung niên, được thiện điều ngự mà chết, thì đó gọi
là cái chết được thiện điều ngự. Này A-kì-xá-na, Thánh đệ tử niên thiếu
được thiện điều ngự mà mạng chung, đó gọi là mạng chung thiện điều ngự.
Thánh đệ tử trung niêm được thiện điều ngự mà mạng chung, thì đó gọi là
mạng chung thiện điều ngự.”
Phật thuyết như vậy,
Sa-di A-di-na-hòa-đề và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 16
192
|
193
|
194
|
195
|
196
|
197
|
198
|
199
|
200
|
201
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003