SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 15
PHẨM SONG
191. KINH ĐẠI KHÔNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa giữa những người họ Thích, ở trong thành Ca-duy-la-vệ, tại vườn
Ni-câu-loại.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
sau khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đắp y cầm bát đi vào thành
Ca-duy-la-vệ khất thực.
Sau khi ăn xong, sau
buổi trưa, Ngài đi đến tinh xá Gia-la-sai-ma Thích.
Lúc bấy giờ tại tinh xá Gia-la-sai-ma thích có sắp đặt rất nhiều giường
chõng, có rất nhiều Tỳ-kheo trú nghỉ ở trong đó.
Lúc bấy giờ Đức Thế
Tôn từ trong tinh xá Gia-la-sai-ma Thích đi ra, đến Già-la Thích
tinh xá. Bấy giờ, Tôn giả A-nan và rất nhiều Tỳ-kheo ở trong tinh xá
Già-la Thích đang làm y. Tôn giả A-nan từ xa trông thấy Phật sắp đến, bèn
ra nghinh tiếp, rước y bát của Phật, trở vào trải giường ngồi, múc nước
rửa chân.
Phật rửa chân rồi,
ngồi trên chỗ ngồi của Tôn giả A-nan đã trải sẵn trong tinh xá Già-la
Thích và nói rằng:
“Này A-nan, trong
tinh xá Gia-la-sai-ma Thích có sắp đặt rất nhiều giường chõng, có rất
nhiều Tỳ-kheo trú nghỉ ở trong đó chăng?”
Tôn giả A-nan bạch:
“Quả như vậy, bạch
Thế Tôn, trong tinh xá Gia-la-sai-ma Thích có sắp đặt rất nhiều giường
chõng, có rất nhiều Tỳ-kheo đang trú nghỉ trong đó. Vì sao? Vì chúng con
hôm nay đang làm y.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo A-nan rằng:
“Tỳ-kheo không nên
ham muốn nói chuyện ồn ào, vui thích trong sự nói chuyện ồn ào, tụ tập để
nói chuyện ồn ào, ham muốn đông người, vui thích với sự đông người, tụ tập
đông người, không thích rời xa chỗ đông người, không thích sống cô độc ở
nơi xa vắng.
“Tỳ-kheo nào ham
muốn nói chuyện ồn ào, vui thích trong sự nói chuyện ồn ào, tụ tập để nói
chuyện ồn ào, ham muốn đông người, vui thích với sự đông người, tụ tập
đông người, không thích rời xa chỗ đông người, không thích sống cô độc ở
nơi xa vắng; vị ấy nếu có hoan lạc nơi sự hoan lạc của bậc Thánh, hoan lạc
vô dục, hoan lạc viễn ly, hoan lạc tịch tịnh, hoan lạc chánh giác, hoan
lạc không tài sản, hoan lạc phi sanh tử, đối với những hoan lạc ấy mà được
dễ dàng không khó, trường hợp này không thể xảy ra.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
nào không ham muốn nói chuyện ồn ào, không hoan lạc trong sự nói chuyện ồn
ào, không tụ tập để nói chuyện ồn ào, không ham muốn đông người, không
hoan lạc với sự đông người, không tụ tập đông người, muốn rời xa chỗ đông
người, thường hoan lạc trong sự sống cô độc nơi xa vắng; vị ấy nếu có sự
hoan lạc của bậc Thánh, hoan lạc vô dục, hoan lạc viễn ly, hoan lạc tịch
tịnh, hoan lạc chánh giác, hoan lạc không tài sản, hoan lạc phi sanh tử,
đối với những hoan lạc này mà được dễ dàng không khó, trường hợp này tất
có thể xảy ra.
“Này A-nan, Tỳ-kheo không nên ham muốn nói chuyện ồn ào, hoan lạc trong sự
nói chuyện ồn ào, tụ tập để nói chuyện ồn ào, ham muốn đông người, hoan
lạc với sự đông người, tụ tập đông người, không thích rời xa chỗ đông
người, không thích sống cô độc ở nơi xa vắng.
“Tỳ-kheo nào ham
muốn nói chuyện ồn ào, hoan lạc trong sự nói chuyện ồn ào, tụ tập để nói
chuyện ồn ào, ham muốn đông người, hoan lạc với sự đông người, tụ tập đông
người, không thích rời xa chỗ đông người, không thích sống cô độc ở nơi xa
vắng. Nếu vị ấy chứng đắc thời ái tâm giải thoát
và bất thời bất di động tâm giải thoát,
trường hợp này hoàn toàn không xảy ra.
“Này A-nan, Tỳ-kheo nào không ham nói chuyện ồn ào, không hoan lạc trong
sự nói chuyện ồn ào, không tụ tập để nói chuyện ồn ào, không ham muốn đông
người, không hoan lạc với sự đông người, không tụ tập đông người, muốn rời
xa chỗ đông người, thường hoan lạc trong sự sống cô độc nơi xa vắng; vị ấy
chứng đắc thời ái tâm giải thoát và bất thời bất di động tâm giải thoát,
trường hợp này tất có xảy ra.
“Vì sao vậy? Này
A-nan, Ta không thấy có một sắc nào khiến Ta ham muốn hoan lạc. Sắc ấy bại
hoại, biến dịch, và khi nó đổi khác thì sanh ra sầu bi, khóc lóc, ưu khổ,
ảo não. Vì vậy, Ta an trụ nơi một trú xứ khác mà thành tựu Chánh đẳng
Chánh giác. Đó là vượt qua tất cả sắc tưởng, an trụ nơi ngoại không.
“Này A-nan, Ta an
trụ nơi trụ xứ này rồi, phát sanh sự hoan duyệt. Sự hoan duyệt này Ta cảm
thọ trong toàn thân với chánh niệm chánh trí, rồi phát sanh hỷ, phát sanh
khinh an,
phát sanh lạc, phát sanh định. Định này Ta cảm thọ toàn thân với chánh
niệm chánh trí.
“Này A-nan, nếu có
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc hay Ưu-bà-di nào tìm đến Ta, Ta bèn vì họ
mà an trụ trong tâm như vậy như vậy, viễn ly, an lạc, vô dục. Ta cũng vì
họ mà thuyết pháp, khuyến khích, hỗ trợ họ.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
nào muốn hằng an trụ trong không tánh,
Tỳ-kheo ấy sẽ giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và
định
Vị ấy sau khi giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và
định rồi, hãy suy niệm về nội không.
“Này A-nan, nếu
Tỳ-kheo nói như vầy: “Tôi không giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, không
khiến cho chuyên nhất và định”, thì này A-nan, nên biết vị ấy tự làm cho
mình rất phiền nhọc.
“Này A-nan,Thế nào
là Tỳ-kheo giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và
định? Tỳ-kheo đối với thân này có hỷ lạc do ly dục phát sanh, thấm ướt
khắp tất cả, thấm ướt nhuần một cách phổ biến sung mãn; hỷ lạc do ly dục
sanh không chỗ nào không biến mãn. Này A-nan, cũng như một người tắm gội,
đựng đầy bột tắm trong nhà rồi đổ nước vào khuấy rất đều cho nổi bọt lên,
thấm ướt thấm nhuần khắp tất cả, phổ biến sung mãn, trong ngoài kín đáo
không có chỗ nào rỉ ra. Cũng vậy, này A-nan, Tỳ-kheo nơi thân này có hỷ
lạc do ly dục phát sanh, thấm ướt khắp tất cả, thấm ướt nhuần một cách phổ
biến sung mãn. Hỷ lạc do ly dục sanh không chỗ nào không biến mãn.
“Này A-nan, như vậy,
Tỳ-kheo giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và định
rồi,
hãy tác ý về nội không. Vị ấy sau khi tác ý về nội không rồi, mà tâm bèn
di động, không hướng đến gần, không được trong vắt, không an trụ, không
giải thoát đối với nội không, Tỳ-kheo ấy hãy tác ý về ngoại không. Vị ấy
sau khi tác ý về ngoại không rồi, tâm bèn di động, không hướng đến gần,
không được trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với ngoại không.
“Này A-nan, nếu
Tỳ-kheo trong lúc quán, biết rằng mình đang tác ý về ngoại không mà tâm di
động, không hướng đến gần, không an trụ, không giải thoát đối với ngoại
không, Tỳ-kheo ấy hãy tác ý về nội ngoại không. Vị ấy sau khi suy niệm về
nội ngoại không rồi mà tâm bèn di động, không hướng đến gần, không trong
vắt, không an trụ, không giải thoát đối với nội ngoại không. Này A-nan,
nếu Tỳ-kheo trong lúc lúc quán mà biết rằng mình đang suy niệm về nội
ngoại không mà tâm di động, không hướng đến gần, không được trong vắt,
không an trụ, không giải thoát đối với nội ngoại không, Tỳ-kheo ấy hãy tác
ý về sự không di động.
“Vị ấy sau khi suy
niệm về sự không di động mà tâm di động, không hướng đến gần, không được
trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với sự bất di động. Này
A-nan, nếu Tỳ-kheo nào trong lúc quán sát biết được rằng mình đang suy
niệm về sự không di động mà tâm di động, không hướng đến gần, không được
trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với sự bất di động, Tỳ-kheo
ấy có tâm như thế này hay thế khác, bằng định như thế này hay thế khác mà
điều phục, liên tục điều phục, tu tập, liên tục tu tập, làm nhu nhuyến rồi
lại nhu nhuyến, rất hân hoan trong sự nhu hòa, rất tịnh lạc trong sự viễn
ly.
“Nếu vị ấy có tâm
như thế này hay thế khác bằng định như thế này hay thế khác mà điều phục
rồi lại điều phục, tu tập rồi lại tu tập, nhu nhuyến rồi lại nhu nhuyến,
rất hân hoan trong sự nhu hòa, rất tịnh lạc trong sự viễn ly rồi, hãy bằng
nội không mà thành tựu an trụ.
“Vị ấy sau khi nội
không thành tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt,
an trụ, giải thoát đối với nội không. Này A-nan, Tỳ-kheo trong lúc quán
thì biết nội không thành tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần,
được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với nội không, đó là chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
hãy bằng ngoại không thành tựu an trụ. Vị ấy sau khi ngoại không thành tựu
an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải
thoát đối với ngoại không. Này A-nan, như vậy Tỳ-kheo trong lúc quán thì
biết ngoại không thành tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được
trong vắt, an trụ, giải thoát đối với ngoại không. Đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
hãy bằng nội ngoại không thành tựu an trụ. Vị ấy sau khi nội ngoại không
thành tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an
trụ, giải thoát đối với nội ngoại không. Này A-nan, như vậy Tỳ-kheo trong
lúc quán thì biết nội ngoại không thành tựu an trụ, tâm không di động,
hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với nội ngoại không.
Đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan, hãy bằng
bất di động thành tựu an trụ. Vị ấy sau khi bất di động thành tựu an trụ,
tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối
với bất di động. Này A-nan, như vậy Tỳ-kheo trong lúc quán thì biết bất di
động thành tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt,
an trụ, giải thoát đối với bất di động. Đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan, vị
Tỳ-kheo ấy với tâm an trụ trên trụ xứ này, nếu muốn kinh hành, Tỳ-kheo ấy
từ thiền thất đi ra, đi kinh hành trên khoảng đất trống, trong bóng mát
của thiền thất, các căn hướng vào trong tâm, không hướng ra ngoài, lấy
phía sau tác ý làm phía trước. Kinh hành như vậy rồi, trong tâm không sanh
tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
với tâm an trụ trên trụ xứ này, nếu muốn tọa định, Tỳ-kheo ấy rời khỏi chỗ
kinh hành, đến cuối con đường kinh hành, trải ni-sư-đàn, ngồi kiết già.
Sau khi ngồi như vậy vững vàng rồi, trong tâm không sanh tham lam, ưu sầu,
ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
với tâm an trụ trong trụ xứ này, nếu muốn có suy niệm,
thì Tỳ-kheo ấy đối với ba sự suy niệm về ác bất thiện này là niệm dục,
niệm nhuế và niệm hại, đừng suy niệm đến ba suy niệm ác bất thiện ấy. Đối
với ba suy niệm thiện là: niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại, hãy suy
niệm trên ba suy niệm thiện ấy. Sau khi suy niệm như vậy rồi, trong tâm
không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp, đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
ấy đối với những luận bàn không phải là Thánh luận, không tương ưng nghĩa,
tức là luận bàn về những vấn đề vua chúa, vấn đề đạo tặc, vấn đề đấu
tranh, vấn đề ẩm thực, vấn đề đàn bà, vấn đề đồng nữ, vấn đề dâm nữ, vấn
đề thế gian, vấn đề tà đạo, vấn đề trong biển. Vị ấy không bàn luận các
loại súc sanh luận như vậy. Nếu có những vấn đề thuộc Thánh luận, tương
ưng nghĩa, khiến tâm nhu hòa, không có những sự che đậy,
tức là vấn đề thí, vấn đề giới, vấn đề định, vấn đề giải thoát, vấn đề
giải thoát tri kiến, vấn đề tiệm giảm,
vấn đề không tụ hội, vấn đề thiểu dục, vấn đề tri túc, vấn đề vô dục, vấn
đề đoạn, vấn đề diệt, vấn đề tĩnh tọa, vấn đề duyên khởi. Sau khi luận bàn
những vấn đề mà Sa-môn luận bàn như vậy rồi, trong tâm không sanh tham
lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.
“Lại nữa, này A-nan,
có năm công đức của dục, khả lạc, khả ý, khả niệm, sắc ái lạc tương ưng
với dục; đó là, sắc được biết bởi mắt, tiếng được biết bởi tai, hương được
biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân. Tỳ-kheo với
tâm chuyên chuù
mà quán
năm diệu dục này, tùy theo diệu dục ấy mà có hành ấy trong tâm.
Vì sao vậy? Không trước, không sau, năm dục công đức này tùy theo dục công
đức nào mà có hành ấy trong tâm.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
trong lúc quán thì biết năm công đức của dục này, tùy theo công đức dục
nào mà có hành ấy trong tâm. Tỳ-kheo ấy với công đức dục này hay công đức
dục kia quán là vô thường, quán suy hao, quán vô dục, quán đoạn, quán
diệt, quán đoạn xả ly. Nếu năm công đức dục này có dục, bị nhiễm dục,
chúng tức thì bị tiêu diệt. Này A-nan, nếu Tỳ-kheo khi quán như vậy thì
biết năm công đức dục này có dục và bị nhiễm dục, chúng đã bị đoạn trừ
rồi. Đó gọi là chánh tri.
“Lại nữa, này A-nan,
có năm thủ uẩn,
sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Tỳ-kheo như vậy mà quán sự
hưng suy, quán sát rằng, đây là sắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự
diệt tận của sắc. Đây là thọ, tưởng, hành và thức. Đây là sự tập khởi của
thức, đây là sự diệt tận của thức. Nếu năm thủ uẩn này có ngã mạn,
nó liền bị tiêu diệt. Này A-nan, nếu Tỳ-kheo khi quán như vậy thì biết
trong năm thủ uẩn, ngã mạn đã bị diệt rồi. Đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan! Pháp này
tuyệt đối khả ý, tuyệt đối khả lạc, tuyệt đối ý niệm, vô lậu, không chấp
thủ,
ma không đến gần được, ác không thể đến gần được. Các pháp ác bất thiện ô
uế làm gốc rễ cho sự hữu trong tương lai là phiền nhiệt, khổ báo, là nhân
của sanh, già, bệnh, chết cũng không thể đến gần được; tức là thành tựu sự
không phóng dật này. Vì sao vậy? Nhân không phóng dật mà Như Lai, Bậc Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác chứng đắc giác ngộ, nhân gốc rễ không phóng dật
mà phát sanh vô lượng thiện pháp, cho đến các trợ đạo phẩm.
“Cho nên, này A-nan,
ngươi phải học như vầy, ‘Ta cũng thành tựu nơi sự không phóng dật’. Hãy
học như vậy.
“Này A-nan, do nghĩa
lợi nào mà một tín đồ đệ tử đi theo Thế Tôn mà hành phụng sự cho đến trọn
đời?”
Tôn giả A-nan bạch
Thế Tôn rằng:
“Thế Tôn là pháp
bổn, Thế Tôn là pháp chủ, pháp do Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn thuyết giảng
điều đó. Con nay sau khi nghe xong sẽ được biết rộng ý nghĩa ấy.”
Đức Phật bèn nói:
“Này A-nan, hãy lắng
nghe. Hãy khéo tư niệm. Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho thầy nghe.”
Tôn giả A-nan vâng
lời, lắng nghe.
Đức Phật nói:
“Này A-nan, không
phải chỉ vì chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết mà một tín đệ tử đi theo Thế
Tôn để hành phụng sự cho đến trọn đời. Này A-nan, hoặc từ lâu vị ấy đã
từng nghe pháp này, tụng tập đến cả ngàn, chuyên ý tư duy quán sát, thấy
rõ, thấu triệt sâu xa. Nếu vấn đề này là Thánh luận tương ưng với cứu
cánh, khiến tâm nhu hòa, không có những che lấp, tức các vấn đề bố thí,
vấn đề giới, vấn đề định, vấn đề tuệ, vấn đề giải thoát, vấn đề giải thoát
tri kiến, vấn đề tiệm giảm, vấn đề không tụ hội, vấn đề thiểu dục, vấn đề
tri túc, vấn đề vô dục, vấn đề đoạn, vấn đề diệt, vấn đề tĩnh tọa, vấn đề
duyên khởi. Những vấn đề mà Sa-môn luận bàn như vậy, được dễ dàng chứ
không khó. Do ý nghĩa này mà một tín đệ tử đi theo Thế Tôn để hành phụng
sự cho đến trọn đời. Này A-nan, như vậy là phiền lụy
cho Tôn sư, phiền lụy cho đệ tử, phiền lụy cho các vị đồng phạm hạnh.
“Này A-nan, thế nào
là phiền lụy cho Tôn sư?
“Ở đây, một vị Tôn
sư xuất thế, có sách lự tư duy, bằng tâm trạng sách lự mà quán sát các
loại phàm nhân. Có biện tài, vị ấy đi đến nơi rừng vắng, trong rừng sâu,
dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh,
không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa, hoặc sống tại
nơi đó mà học sự viễn ly, tinh cần, được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay
trong đời hiện tại.
“Vị ấy sau khi học
sự viễn ly, tinh cần, sống an ổn khoái lạc, rồi theo các đệ tử trở về với
các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân. Vị ấy sau khi theo đệ tử trở về,
với các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân, bèn tự cao mà trở về nhà.
Như vậy là phiền lụy cho Tôn sư và cũng bị phiền lụy bởi các pháp ác bất
thiện, ô uế, là gốc rễ cho sự hữu trong tương lai, phiền nhiệt, khổ báo,
nhân của sanh-già-bệnh-chết; đó là phiền lụy cho Tôn sư.
“Này A-nan, thế nào
là sự phiền lụy cho đệ tử? Đệ tử của vị Tôn sư ấy học sự viễn ly của vị
ấy, vị ấy sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, trên sườn non,
vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người,
tùy thuận mà tĩnh tọa, hoặc sống tại nơi đó mà học sự viễn ly, tinh cần,
được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này. Vị ấy sau
khi học sự viễn ly, tinh cần, sống an ổn khoái lạc rồi, bèn theo đệ tử trở
về với các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân. Vị ấy sau khi theo đệ tử
về với các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân rồi, bèn tự cao mà trở về
nhà. Như vậy là làm phiền lụy cho đệ tử, và cũng bị phiền lụy bởi các pháp
ác, bất thiện, gốc rễ của sự hữu trong tương lai, phiền nhiệt, khổ báo,
nhân của sanh-già-bệnh-chết. Đó là phiền lụy cho đệ tử.
“Này A-nan, thế nào là phiền lụy cho các vị phạm hạnh? Ở đây Đức Như Lai
xuất thế, Ngài là Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật
Thế Tôn. Ngài sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, trên sườn
cao, vắng bặt không chút động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng
người, tùy thuận mà tĩnh tọa.
“Này A-nan, Đức Như
Lai vì nghĩa lợi nào mà sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây,
hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ,
không có bóng ngườøi, tùy thuận tĩnh tọa?”
“Tôn giả A-nan bạch
Đức Thế Tôn rằng:
“Thế Tôn là Pháp
bổn, Thế Tôn là Pháp chủ, Pháp do Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn thuyết giảng
điều ấy, con nay sau khi nghe xong được biết rộng nghĩa ấy.”
Đức Phật bèn nói:
“Này A-nan, hãy lắng
nghe, hãy khéo tư niệm. Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho thầy nghe.”
Tôn giả A-nan vâng
lời lắng nghe.
Đức Phật nói:
“Này A-nan, như Lai
không phải vì để được những gì chưa được, thu hoạch những gì chưa thu
hoạch, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà sống nơi rừng vắng, trong rừng
sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa
lánh, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa. Này A-nan, vì hai ý
nghĩa mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở
trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có bóng người,
tùy thuận mà tĩnh tọa. Một là sống an lạc ngay trong hiện tại cho chính
mình. Hai là từ mẫn đối với những người đời sau.
“Hoặc giả, đời sau
người người noi bóng Như Lai mà sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới
gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không
có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa. Này A-nan, chính vì
nghĩa lợi này mà Như Lai sống trong rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc
cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có
giận dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Hoặc sống ở nơi đó mà
học sự viễn ly, tinh cần, được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay trong đời
hiện tại.
“Như Lai sau khi học sự viễn ly, tinh cần, sống an ổn khoái lạc rồi, theo
các vị Phạm hạnh mà trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di. Như Lai sau khi theo các vị phạm hạnh trở về với các Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di rồi, không tự cao mà trở về nhà.
“Này A-nan, nếu vị
ấy chứng ngộ bất động tâm giải thoát, thì Ta không nói vị ấy có sự chướng
ngại. Nhưng nếu vị ấy chứng đắc Bốn tăng thượng tâm,
sống an lạc trong đời hiện tại, vốn do trước kia sống tinh cần, không
phóng dật, thì ở đây, hoặc giả có thể bị thối thất vì sự tụ hội đông đảo
nhiều đệ tử.
“Lại nữa, này A-nan,
đệ tử của Tôn sư ấy noi theo Tôn sư mà sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu,
dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh,
không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Hoặc sống tại nơi
đó mà học sự viễn ly, tinh cần, được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay
trong đời hiện tại. Vị ấy sau khi học sự viễn ly, tinh cần, sống an ổn
khoái lạc rồi theo các vị phạm hạnh mà trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Vị ấy sau khi theo các vị phạm hạnh trở về với các
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di rồi bèn tự cao mà trở về nhà. Như
vậy là phiền lụy cho các vị phạm hạnh và cũng bị phiền lụy bởi các pháp ác
bất thiện, gốc rễ của sự hữu trong tương lai, phiền nhiệt, khổ báo, nhân
của sanh-già-bệnh-chết. Đó gọi là phiền lụy cho các phạm hạnh.
“Này A-nan, trong sự
phiền lụy Tôn sư và đệ tử, sự phiền lụy cho các phạm hạnh rất là bất khả,
không khả lạc, không khả ái, rất là không khả ý, khả niệm. Cho nên, này
A-nan, các ngươi hãy hành sự từ hòa đối với Ta, đừng gây sự oán hận.
“Này A-nan, thế nào
là đệ tử đối với Tôn sư mà gây sự oán hận, không hành sự từ hòa?
“Nếu Tôn sư thuyết
pháp cho đệ tử, là vì thương yêu, lo lắng, mong cầu thiện lợi và phước
lành, mong cầu sự an ổn khoái lạc cho đệ tử mà phát khởi từ bi tâm, nói
rằng, ‘Đây là điều hữu ích. Đây là sự an lạc. Đây là sự hữu ích an lạc’.
Nếu đệ tử ấy mà không cung kính, cũng không tùy thuận theo, không an trụ
nơi chánh trí, tâm không hướng đến pháp tùy, pháp hành, không thọ lãnh
chánh pháp, trái phạm những điều Tôn sư dạy, không được định, đệ tử như
vậy là đối với Tôn sư mà gây sự oán hận, không hành sự từ hòa.
“Nếu Tôn sư thuyết
pháp cho đệ tử, thương yêu, lo lắng, mong cầu thiện lợi và an lành, mong
cầu sự an ổn khoái lạc cho đệ tử phát khởi từ bi tâm mà nói rằng, ‘Đây là
điều hữu ích. Đây là sự an lạc. Đây là sự hữu ích an lạc’. Nếu đệ tử thuận
hành theo, an lập nơi chánh trí, tâm quy hướng đến pháp tùy, pháp hành,
thọ lãnh Chánh pháp, không trái phạm lời giáo huấn của Tôn sư, có thể được
định. Vị đệ tử như thế là đối với Tôn sư mà hành sự từ hòa, không gây sự
oán hận.
“Cho nên này A-nan, các ngươi đối với Ta hãy hành sự từ hòa, không gây sự
oán hận. Vì sao vậy? Này A-nan, Ta không nói như vầy ‘Như người thợ gốm
làm ngói.’
Nhưng, này A-nan, Ta nói: ‘Nghiêm khắc, khắc khổ.’
Nghiêm cấp chí khổ. Cái gì chắc thật, cái ấy đứng vững.
Đức Phật thuyết như
vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 15
182
|
183
|
184
|
185
|
186
|
187
|
188
|
189
|
190
|
191
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003