SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 15
PHẨM SONG
190. KINH TIỂU KHÔNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, tại Đông viên, Lộc tử mẫu giảng đường.
Bấy giờ Tôn giả
A-nan vào lúc xế, từ thiền tọa đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
sát chân Phật, lui đứng sang một bên mà bạch rằng:
“Một thời Thế Tôn du
hành giữa những người họ Thích, trong thành tên là Thích đô ấp.
Con lúc ấy được nghe Thế Tôn nói nghĩa như vầy, ‘Này A-nan, Ta phần nhiều
hành nơi không tánh’.
Thế Tôn! Phải là con biết rõ, nhận rõ và nhớ kỹ không?”
Khi ấy Thế Tôn đáp
rằng:
“Này A-nan, lời nói
của Ta đó, ông thật sự biết rõ, nhận rõ và nhớ kỹ. Vì sao? Vì Ta tự bao
giờ cho đến hôm nay phần nhiều hành nơi không tánh.
“Này A-nan, như
giảng đường Lộc tử mẫu này trống không, không có voi, ngựa, bò, dê, tài
vật, lúa thóc, nô tỳ; nhưng có cái không trống không. Đó là chỉ có chúng
Tỳ-kheo. Cho nên, này A-nan, nếu trong đó không có gì cả thì chính do đó
mà Ta thấy là trống không. Nếu trong này còn có cái khác thì Ta thấy là
chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, không tánh, sự
không điên đảo.
“Này A-nan, Tỳ-kheo nào nếu muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo ấy
đừng tác đến ý tưởng về xóm làng, đừng tác ý đến ý tưởng về người, mà hằng
tác ý đến ý tưởng về duy nhất tánh là ý tưởng về khu rừng.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về xóm làng, trống không ý
tưởng về người, nhưng có một cái không trống không, đó là duy nhất tánh do
ý tưởng về khu rừng. Nếu có sự phiền nhọc
do ý tưởng về xóm làng, thì ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc
do ý tưởng về người, thì ở đây ta không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền
nhọc là do duy nhất tánh ý tưởng về khu rừng’. Nếu trong đó không có gì cả
thì, thì chính do đó mà vị ấy thấy đó là trống không. Nếu trong này còn có
cái khác, thì vị ấy thấy là chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự
chân thật, không tánh, sự không điên đảo.
“Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo
ấy đừng tác ý đến ý tưởng về người, đừng tác ý đến ý tưởng khu rừng mà
hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý tưởng về đất. Tỳ-kheo ấy nếu thấy đất
này có cao có thấp, có ổ rắn, có bụi gai, có cát, có đá, núi chởm, sông
sâu thì chớ có tác ý đến. Nếu thấy đất này bằng phẳng như lòng bàn tay,
chỗ trông ra được rõ ràng, thì hãy thường tác ý đến.
“Này A-nan, ví như
da bò, lấy một trăm cây đinh mà căng ra; sau khi căng rất thẳng, nó không
nhăn, không rút lại. Nếu thấy chỗ đất này có cao có thấp, có ổ rắn, có bụi
gai, có cát, có đá, núi chởm, sông sâu thì đừng tác ý đến. Nếu thấy chỗ
đất này bằng phẳng như lòng bàn tay, chỗ trông ra được rõ ràng, thì hãy
thường tác ý. Vị ấy biết như vậy, biết rằng, ‘Trống không ý tưởng về
người, trống không ý tưởng về khu rừng, nhưng có một cái không trống
không, đó là duy nhất ý tưởng về đất. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về
người, thì ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về khu
rừng, thì ở đây ta không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc do duy nhất
tánh là ý tưởng về đất’. Nếu trong đó không có gì cả, thì chính do đó mà
vị ấy thấy là trống không. Nếu trong này còn có cái khác thì vị ấy thấy là
chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, không tánh, sự
không điên đảo.
“Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo
ấy đừng tác ý đến ý tưởng về khu rừng, đừng tác ý đến ý tưởng về đất, mà
hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý tưởng thuần nhất về vô lượng không xứ.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về khu rừng, trống không ý
tưởng về đất, nhưng có cái không trống không, đó là duy nhất ý tưởng về vô
lượng không xứ. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về khu rừng, thì ở đây ta
không có sự đó. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về đất, thì ta không có sự
đó. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc do duy nhất tánh là ý tưởng về vô lượng
không xứ’. Nếu trong đó không có gì cả, thì chính do đó mà vị ấy thấy là
trống không. Nếu trong này còn có cái khác, thì vị ấy thấy là chân thật
có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, tánh không, không điên đảo.
“Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo ấy
đừng tác ý đến ý tưởng về khu rừng, đừng tác ý đến ý tưởng về đất, đừng
tác ý về ý tưởng vô lượng không xứ, hãy hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý
tưởng về vô lượng thức xứ.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về khu rừng, trống không ý
tưởng về đất, trống không ý tưởng về vô lượng không xứ, nhưng có một cái
không trống không, đó là duy nhất ý tưởng về vô lượng thức xứ. Nếu có sự
phiền nhọc do ý tưởng về khu rừng, thì ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự
phiền nhọc do ý tưởng về đất, thì ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền
nhọc do ý tưởng về vô lượng không xứ, thì ở đây ta không có sự ấy. Ở đây
chỉ có sự phiền nhọc do duy nhất tánh là ý tưởng về vô lượng thức xứ.’ Nếu
trong đó không có gì cả, thì chính vì vậy mà vị ấy thấy là trống không.
Nếu trong này còn có một cái khác, thì vị ấy thấy là chân thật có. Này
A-nan, đó là hành trong sự chân thật, tánh không, không điên đảo.
“Lại nữa, này A-nan,
Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo ấy đừng tác ý đến ý
tưởng về vô lượng không xứ, đừng tác ý đến ý tưởng về vô lượng thức xứ, mà
hãy hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý tưởng về vô sở hữu xứ.
Vị ấy niệm biết như vầy, ‘Trống không vô lượng không xứ, trống không vô
lượng thức xứ, nhưng có một cái không trống không. Đó là duy nhất ý tưởng
về vô sở hữu xứ. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về vô lượng không xứ, thì
ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về vô lượng thức
xứ, thì ở đây ta không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc do duy nhất
tánh là ý tưởng về vô sở hữu xứ’. Nếu trong đó không có gì cả, thì chính
vì vậy mà vị ấy thấy là trống không. Nếu trong đó còn có cái khác, thì vị
ấy thấy là chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, tánh
không, không điên đảo.
“Lại nữa, này A-nan,
Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo ấy đừng tác ý đến ý
tưởng về vô lượng thức xứ, đừng tác ý đến ý tưởng về vô sở hữu xứ, mà hãy
hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý tưởng về vô tưởng tâm định.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về vô lượng thức xứ, trống
không ý tưởng về vô sở hữu xứ, nhưng có cái không trống không, đó là duy
nhất tánh do vô tưởng tâm định. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về vô
lượng thức xứ, thì ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc do ý
tưởng về vô sở hữu xứ, thì ở đây ta cũng không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự
phiền nhọc do duy nhất là về tưởng tâm định’. Nếu trong đó không có gì cả,
thì chính vì vậy mà vị ấy thấy là trống không. Nếu trong này còn có cái
khác, thì vị ấy thấy là chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân
thật, tánh không, không điên đảo.
“Vị ấy lại suy nghĩ
như vầy, ‘Vô tưởng tâm định mà ta đã có đây vốn là sở hành, vốn là sở tư.
Nếu nó vốn là sở hành, vốn là sở tư thì ta không ái lạc nó,
không mong cầu nó, không an trụ trên nó’.
“Vị ấy biết như vậy,
thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu và vô minh
lậu. Giải thoát rồi, thì biết là mình đã giải thoát, biết như thật rằng
‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa’. Vị ấy biết như vầy, ‘Trống không là dục lậu, trống không là
hữu lậu, trống không là vô minh lậu; nhưng có cái không trống không, đó là chỉ có thân này của ta với sáu xứ cho mạng tồn tại. Nếu có sự phiền nhọc
do dục lậu, thì ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc do hữu lậu và vô
minh lậu, ta cũng không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc do nơi thân
này của ta và sáu xứ cho mạng tồn tại’.
Nếu trong đó không có gì cả thì chính vì vậy mà vị ấy thấy là trống không.
Nếu trong này còn có cái khác thì vị ấy thấy là chân thật có. Này A-nan,
đó là hành trong sự chân thật, tánh không, không điên đảo. Đó là lậu tận,
vô lậu, vô vi, tâm giải thoát.
“Này A-nan, trong quá khứ, nếu có các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, các vị ấy tất cả đều hành trong sự chân thật, tánh không,
không điên đảo này; đó là lậu tận, vô lậu, vô vi, tâm giải thoát.
“Này A-nan, trong vị lai, nếu có các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, các vị ấy tất cả đều hành trong sự chân thật, tánh không,
không điên đảo này; đó là lậu tận, vô lậu, vô vi, tâm giải thoát.
“Này A-nan, trong
hiện tại, Ta là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Ta cũng hành
trong sự chân thật, tánh không, không điên đảo này; đó là lậu tận, vô lậu,
vô vi, tâm giải thoát.
“Cho nên, này A-nan,
hãy học như vậy.”
Phật thuyết như vậy,
Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 15
182
|
183
|
184
|
185
|
186
|
187
|
188
|
189
|
190
|
191
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003