SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 15
PHẨM SONG
187. KINH THUYẾT TRÍ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu các Tỳ-kheo nào
đến trước các ngươi nói lên trí mà mình đã chứng đắc, biết một cách như
thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong,
không còn tái sanh nữa’. Các ngươi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ
phụng hành.
“Sau khi đã khen vị
ấy là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, các ngươi nên hỏi Tỳ-kheo ấy như
vầy, ‘Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói năm thủ uẩn,
thọ,
tưởng, hành và thức. Này Hiền giả, làm sao biết, làm sao thấy năm thủ uẩn
này để được biết là không còn chấp thủ, mà dứt sạch các lậu, tâm giải
thoát?’
“Tỳ-kheo đã dứt sạch
các lậu và biết được rằng phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp lại như
vầy, ‘Này chư Hiền, sắc thủ uẩn là không hiệu quả,
là không hư, không đáng ham muốn, không bằng hữu, cũng không thể dựa, là
pháp biến dịch. Tôi biết như vậy. Nếu đối với sắc thủ uẩn mà có tham dục,
có ô nhiễm, có đắm trước, có trói buộc; sự đắm trước, sự trói buộc, sự sai
sử này mà bị tận trừ, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó biết là không còn
chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm giải thoát. Cũng như vậy, thọ, tưởng,
hành, thức thủ uẩn là không hiệu quả, là không hư, là không đáng ham muốn,
không bằng hữu, cũng không thể dựa, là pháp biến dịch. Tôi biết như vậy.
Nếu đối với thức thủ uẩn mà có tham dục, có ô nhiễm, có đắm trước, có trói
buộc; sự đắm trước, sự trói buộc, sự sai sử này mà tận trừ, ly dục, diệt,
tịch tĩnh, do đó biết là không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm giải
thoát. Này chư Hiền, đối với năm thủ uẩn, tôi biết như vậy, thấy như vậy,
được rõ biết là không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm được giải
thoát’.
“Tỳ-kheo đã dứt sạch
các lậu và biết được rằng phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp lại như
vậy. Và các ngươi sau khi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.
“Khi đã khen là đúng
và hoan hỷ phụng hành rồi, lại hỏi Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả,Thế
Tôn đã nói bốn loại thức ăn,
chúng sanh nhờ đó mà được tồn tại và được trưởng dưỡng. Những gì là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế. Hai là xúc thực. Ba là ý niệm thực. Bốn
là thức thực’.
“‘Này Hiền giả, làm
sao biết, làm sao thấy được bốn loại thực này để rõ biết là không còn chấp
thủ, đã dứt sạch các lậu, tâm giải thoát?’
“Tỳ-kheo đã dứt sạch
các lậu và biết được phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vầy,
‘Này chư Hiền, đối với đoàn thực, ý tôi không coi trọng, không coi rẻ,
không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát,
giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo; biết một cách như
thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong,
không còn tái sanh nữa’. Cũng như vậy, đối với xúc thực, ý niệm thực và
thức thực, ý tôi không coi trọng, không coi rẻ, không đam mê, không ràng
buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt
ráo, tâm không còn điên đảo; biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã hết,
phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Này
chư Hiền, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy đối với bốn loại thực này, rõ
biết không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm giải thoát’.
“Tỳ-kheo đã dứt sạch
các lậu, biết mình phạm hạnh đã vững nên như pháp mà đáp như vậy. Các
ngươi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.
“Sau khi khen là
đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, lại hỏi Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả,
Đức Thế Tôn đã nói bốn loại tuyên thuyết.
Những gì là bốn?
Một là thấy thì nói
là thấy.
Hai là nghe thì nói
là nghe.
Ba là hay thì nói là
hay.
Bốn là biết thì nói
là biết.’
“‘Này Hiền giả, làm
sao biết, làm sao thấy bốn loại tuyên thuyết này để rõ được mình không còn
chấp thủ, đã dứt sạch các lậu, tâm được giải thoát?’
“Tỳ-kheo các lậu đã
dứt sạch, biết được mình phạm hạnh đã vững, nên như pháp mà đáp như vầy,
‘Này chư Hiền, đối với sự thấy nói thấy, tôi không coi trọng, không coi
rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải
thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo; biết một cách
như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’. Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như
vậy đối với bốn loại tuyên thuyết này, tôi biết rõ mình đã dứt sạch các
lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát’. Tỳ-kheo đã dứt sạch các
lậu, tự biết phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi
sau khi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.
“Sau khi khen là
đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, lại hỏi Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền
giả,Thế Tôn đã nói pháp sáu nội xứ,
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ. Này Hiền giả, làm sao biết, làm sao
thấy được sáu nội xứ này để biết rõ là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp
thủ, tâm được giải thoát?’
“Tỳ-kheo đã dứt sạch
các lậu, tự biết phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vầy, ‘Này
chư Hiền, đối với mắt và thức con mắt, pháp được biết bởi thức con mắt,
tôi đều biết. Sau khi biết hai pháp, này chư Hiền, nếu đối với mắt và thức
con mắt, pháp được biết bởi thức con mắt mà ái lạc đã dứt sạch; do dứt
sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh mà tôi biết là đã dứt sạch các lậu, không
còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Cũng như vậy, đối với tai, mũi, lưỡi,
thân, ý và ý thức, pháp biết bởi ý thức, tôi đều biết. Sau khi biết hai
pháp, này chư Hiền, nếu đối với ý và ý thức, pháp được biết bởi ý thức, mà
ái lạc đã dứt sạch; do dứt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh mà đã biết là đã
dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Này chư Hiền,
tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với nội lục xứ được biết là đã dứt
sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát’. Tỳ-kheo đã dứt
sạch các lậu và biết mình phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như
vậy. Các ngươi sau khi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.
“Sau khi khen là
đúng và hoan hỷ phụng hành rồi nên hỏi vị Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền
giả, Thế Tôn nói sáu giới, là: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới,
không giới và thức giới. Này Hiền giả, làm sao biết, làm sao thấy sáu giới
này để rõ biết mình đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải
thoát?’
“Tỳ-kheo đã dứt sạch
phiền não, biết được mình phạm hạnh đã vững, nên như pháp mà đáp như vầy,
‘Này chư Hiền, tôi không thấy rằng địa giới là sở thuộc của tôi. Tôi không
phải là sở thuộc của địa giới. Địa giới chẳng phải là thần ngã. Nhưng ba
thủ
nương địa giới mà trụ và các kết sử
dựa vào đó mà sanh. Chúng bị diệt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó mà
biết là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Cũng
như vậy, thủy, hỏa, phong, không và thức giới chẳng phải sở thuộc của tôi.
Tôi không phải sở thuộc của thức giới. Thức giới chẳng phải là thần ngã.
Nhưng ba thủ nương địa giới mà trụ và các kết sử dựa vào đó mà sanh. Chúng
bị diệt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó mà biết là đã dứt sạch các
lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết như
vậy, thấy như vậy đối với sáu giới ấy, rõ biết mình đã dứt sạch các lậu,
không còn chấp thủ, tâm được giải thoát’. Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và
biết mình phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi sau
khi nghe rồi nên khen ngợi là đúng và hoan hỷ phụng hành.
“Sau khi khen ngợi
là đúng và hoan hỷ rồi nên hỏi vị Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả, làm
sao biết, làm sao thấy bên trong thân cùng với thức này
và tất cả các tướng bên ngoài, ngã, ngã tác và kết sử mạn, thảy đều đuợc
đoạn tri,
nhổ tuyệt cội gốc của chúng, không còn tái sanh nữa?’ Tỳ-kheo đã dứt sạch
các lậu và biết mình phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vầy,
‘Này chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia học đạo đã nhàm tởm sự
sanh, già, bệnh, chết, khóc than, khốn khổ, sầu muộn, bi ai; tôi muốn đoạn
trừ khối khổ đau to lớn này. Này chư Hiền! Sau khi đã nhàm tởm ghê sợ, tôi
quán sát, tại gia là đời sống hẹp hòi, là chốn trần lao bụi bặm. Xuất gia
học đạo là đời sống rộng rãi bao la. Nay ta sống đời tại gia bị xiềng xích
quấn chặt, không thể trọn đời tịnh tu phạm hạnh. Vậy ta hãy vứt bỏ các tài
sản nhỏ và lớn, từ giã thân tộc ít hay nhiều rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo. Này chư
Hiền! Sau đó, tôi vứt bỏ tài sản nhỏ và lớn, từ giã thân tộc ít hay nhiều,
rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà
học đạo.
“Này chư Hiền! Sau
khi tôi xuất gia học đạo, từ bỏ của cải họ hàng rồi, thọ lãnh cấm giới mà
Tỳ-kheo phải tu tập, thủ hộ Tùng giải thoát, tôi lại cẩn thận thu nhiếp
các oai nghi lễ tiết, thấy tội nhỏ nhiệm cũng thường ôm lòng lo sợ, nhớ kỹ
điều cốt yếu đã học.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ sát sanh, xa lìa sát sanh, xả bỏ kiếm gậy, biết hổ, biết thẹn, nuôi
lòng từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho đến loài côn trùng. Đối với tâm
sát sanh, tôi đã tịnh trừ.
“Tôi từ bỏ lấy của
không cho, tránh xa lấy của không cho; chỉ lấy của đã cho, thích của đã
cho, thường thích bố thí, vui vẻ không cầu mong sự đáp lại. Đối với tâm ưa
lấy của không cho, tôi đã tịnh trừ
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ sự phi phạm hạnh, tránh xa phi phạm hạnh, siêng năng tu phạm hạnh,
tinh tấn với diệu hạnh, thanh tịnh không ô uế, từ bỏ dục vọng, dứt trừ dâm
dục. Đối với tâm phi phạm hạnh, tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói điều chân thật, ưa điều chân thật,
dựa trên sự chân thật không sai chạy. Tất cả lời nói của tôi đều đáng tin
cậy, không lừa dối thế gian. Đối với tâm nói láo, tôi đã dứt trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, tu hạnh không nói hai lưỡi,
không phá hoại người khác, không nghe lời người này đem nói với người kia
để phá hoại người này, không nghe lời người kia đem nói với người này để
phá hoại người kia; người ly gián tôi làm cho hòa hợp, người đã sống hòa
hợp, tôi làm cho họ hoan hỷ, không chia phe đảng, không thích phe đảng,
không khen ngợi phe đảng. Đối với tâm nói hai lưỡi, tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác, giọng điệu thô bỉ, lớn
tiếng, nghịch tai, người nghe không ưa không mến, khiến họ khổ não không
định tâm. Tôi đoạn trừ lời nói như vậy. Nếu có lời nói êm dịu, nhẹ nhàng,
thuận tai, thông cảm đến tâm, làm cho người nghe vui vẻ, mến chuộng, sung
sướng, tiếng nói rõ ràng, không làm cho người khác sợ, trái lại họ được
định tâm, tôi nói lời nói như vậy. Đối với tâm nói lời độc ác, tôi đã tịnh
trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ lời nói thêu dệt, tránh xa lời nói thêu dệt, nói đúng lúc, nói chân
thật, nói đúng pháp, nói đúng nghĩa, nói về tịch tĩnh, ưa nói về tịch
tĩnh, hợp thời, hợp lý, khéo dạy, khéo la mắng. Đối với tâm nói thêu dệt,
tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ buôn bán, tránh xa sự buôn bán, xả bỏ thói cân lường và đấu hộc,
cũng không nhận hàng hóa, không chèn ép người, không mong gian lận, không
vì lợi nhỏ mà lấn lướt người. Đối với sự sinh hoạt buôn bán, tâm tôi đã
tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không nhận đàn bà góa, con gái thơ, tránh xa việc nhận đàn bà góa,
con gái thơ. Đối với việc nhận đàn bà góa, con gái thơ, tâm tôi đã tịnh
trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không nhận nô tỳ, tránh xa việc nhận nô tỳ. Đối với việc nhận nô tỳ,
tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không nhận voi, ngựa, bò, dê; tránh xa việc nhận voi, ngựa, bò, dê.
Đối với việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không nhận gà, heo; tránh xa việc nhận gà, heo. Đối với việc nhận
gà, heo, tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không nhận ruộng nương, hàng quán; tránh xa việc nhận ruộng nương,
hàng quán. Đối với việc nhận ruộng nương, hàng quán, tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không nhận lúa giống, lúa mạch, đậu; tránh xa việc nhận lúa giống,
lúa mạch, đậu. Đối với việc nhận lúa giống, lúa mạch, đậu, tâm tôi đã tịnh
trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ rượu, tránh xa rượu. Đối với việc uống rượu, tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không dùng giường cao, rộng lớn; tránh xa giường cao, rộng lớn. Đối
với việc dùng giường cao, rộng lớn, tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không trang sức vòng hoa, chuỗi ngọc, hương liệu, dầu thơm; tránh xa
không trang sức vòng hoa, ngọc ngà, hương thoa, phấn sáp. Đối với việc
trang sức vòng hoa, chuỗi ngọc, hương thoa, phấn sáp, tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không ca múa, xướng hát và đi xem nghe; tránh xa sự ca múa, xướng
hát và đi xem nghe. Đối với sự ca múa, xướng hát và đi xem nghe, tâm tôi
đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ không nhận vàng bạc, tránh xa việc nhận vàng bạc. Đối với việc nhận
vàng bạc, tâm tôi đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
từ bỏ sự ăn quá ngọ, tránh xa sự ăn quá ngọ, ăn đúng ngọ, không ăn ban
đêm, không ăn phi thời, học ăn đúng thời. Đối với sự ăn quá ngọ, tâm tôi
đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
đã thành tựu Thánh giới này, thân lại tu hành sự tri túc, áo cốt để che
thân, ăn cốt đủ để nuôi thân. Tôi đến chỗ nào mang theo y bát, không có
luyến tiếc, ví như chim nhạn cùng với hai cánh bay liệng trong không theo
hai cánh, tôi cũng như vậy.
“Này chư Hiền, tôi
đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, rồi lại thủ hộ các căn,
thường niệm sự khép kín, niệm tưởng muốn minh đạt, thủ hộ niệm tâm mà được
thành tựu, hằng mướn khởi ý. Khi mắt thấy sắc, không chấp thủ sắc tướng,
không đắm sắc vị; vì sự phẫn tránh
mà thủ hộ căn con mắt, trong tâm không sanh tham lam, ưu não, ác bất thiện
pháp, vì thú hướng đến kia,
nên thủ hộ căn con mắt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, khi ý biết pháp
không chấp thủ pháp tướng, không đắm pháp vị; vì sự phẫn tránh mà thủ hộ ý
căn, trong tâm không sanh tham lam, ưu não, ác bất thiện pháp, vì thú
hướng đến kia, nên thủ hộ ý căn.
“Này chư Hiền, tôi
đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, Thánh thủ hộ các căn, lại
biết rõ chân chánh sự ra vào, khéo quán sát phân biệt sự co, duỗi, cúi,
ngước, nghi dung chững chạc, khéo đắp Tăng-già-lê và mang các y bát; đi,
đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, nói năng thảy đều biết rõ chân chánh.
“Này chư Hiền, tôi
đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, và cũng thành tựu Thánh
thủ hộ các căn, chân chánh biết sự ra vào, rồi lại sống cô độc tại nơi xa
vắng, ở trong rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, những nơi trống
vắng yên tĩnh, sườn non, động đá, đất trống, lùm cây, hoặc đến trong rừng,
hoặc giữa bãi tha ma. Tôi sau khi ở trong rừng vắng, hoặc đến gốc cây,
những chỗ không nhàn yên tĩnh, trải ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già, chánh
thân chánh nguyện, hướng niệm nội tâm,
đoạn trừ tâm tham lam, không có não hại, thấy tài vật và các nhu dụng sinh
sống của người khác mà không khởi tâm tham lam muốn khiến về mình. Tôi đối
với tham lam, tâm được tịnh trừ. Cũng vậy, đối với sân nhuế, thùy miên,
trạo hối, đoạn trừ nghi hoặc, đối với các thiện pháp không còn do dự. Tôi
đối với sự nghi hoặc, tâm đã tịnh trừ.
“Này chư Hiền, tôi
đã đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly
ác bất thiện pháp, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, cho đến,
chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ.
“Này chư Hiền, tôi
đã đắc định tâm như vậy, thanh tịnh không ô uế, không phiền nhiệt, nhu
nhuyến, an trú vững vàng, được bất động tâm, hướng đến chứng ngộ Trí lậu
tận thông. Này chư Hiền, tôi biết như thật rằng, ‘Đây là Khổ’, biết như
thật: ‘Đây là Khổ tập’, biết như thật: ‘Đây là Khổ diệt’, và biết như
thật: ‘Đây là Khổ diệt đạo’. Biết như thật, ‘Đây là lậu’, ‘Đây là lậu
tập’, ‘Đây là lậu diệt’, và ‘Đây là lậu diệt đạo’. Biết như vậy, thấy như
vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu và vô minh lậu. Khi đã
giải thoát liền biết mình đã giải thoát và biết một cách như thật rằng,
‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa’. Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy đối với bên
trong thân cùng với thức này và tất cả các tướng bên ngoài, ngã, ngã tác
và kết sử mạn, thảy đều được đoạn tri, nhổ tuyệt cội gốc của chúng, không
còn tái sanh nữa’. Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và tự biết phạm hạnh đã
vững ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi sau khi nghe rồi, nên khen
ngợi là đúng và hoan hỷ phụng hành.
“Sau khi khen ngợi
là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, nên nói với vị Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này
Hiền giả, khi Hiền giả vừa nói, chúng tôi đã đẹp lòng, đã hoan hỷ, nhưng
chúng tôi muốn theo Hiền giả để tăng tiến càng tăng tiến, mong cầu trí tuệ
và ứng đối biện tài. Vì vậy chúng tôi hỏi Hiền giả, rồi lại hỏi nữa’.”
Phật thuyết như vậy,
các Tỳ-kheo nghe lời Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 15
182
|
183
|
184
|
185
|
186
|
187
|
188
|
189
|
190
|
191
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003