SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 15
PHẨM SONG
184. KINH NGƯU GIÁC SA-LA LÂM (I)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa đến Bạt-kì-sấu,
trong rừng Ngưu giác sa-la,
cùng với số đông các Đại đệ tử Tỳ-kheo thượng tôn tri thức, như Tôn giả
Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-việt-đa, Tôn giả A-nan.
Các Tỳ-kheo Đại đệ tử là những vị thượng tôn tri thức như vậy cũng cùng đi
đến Bạt-kì-sấu, trong rừng Ngưu giác sa-la, cùng ở gần bên ngôi nhà láù
của Phật.
Bấy giờ, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả
A-na-luật-đà, sau khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đi đến chỗ Tôn giả
Xá-lê Tử. Tôn giả A-nan từ xa trông thấy các bậc Thượng tôn đã đi qua,
bạch rằng:
“Hiền giả
Ly-việt-đa, nên biết, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, sau khi đêm đã qua, vào buổi
sáng sớm, đi đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử. Hiền giả Ly-việt-đa, bây giờ chúng
ta có thể cùng với các bậc Thượng tôn đi đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử, hoặc
giả có thể nhân cơ hội này mà được nghe pháp ít nhiều nơi Tôn giả Xá-lê
Tử.
Bấy giờ, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả
A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-việt-đa, Tôn giả A-nan, sau khi đêm đã qua, vào
buổi sáng sớm, đi đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử.
Tôn giả Xá-lê Tử sau
khi từ xa thấy các vị Thượng tôn đi đến, Tôn giả Xá-lê Tử nhân các vị
Thượng tôn ấy, nói rằng:
“Kính chào A-nan,
kính chào A-nan! Người là thị giả của Thế Tôn, hiểu được ý nghĩa, thường
được Đức Thế Tôn và các bậc trí tuệ phạm hạnh khen ngợi. Nay tôi có lời
hỏi Hiền giả A-nan, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có
trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền
giả A-nan, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn giả A-nan đáp
rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo học rộng, nghe nhiều, nhớ mãi không quên, tích lũy sự
nghe nhiều. Với những pháp sơ khởi vi diệu, khoảng giữa vi diệu và kết
thúc cũng vi diệu, có nghĩa lý, có văn chương, toàn vẹn thanh tịnh, hiển
hiện phạm hạnh; những pháp như vậy được vị ấy học rộng, nghe nhiều, tụng
tập đến ngàn lần, chuyên ý tư duy, kiến giải thông suốt. Vị ấy thuyết pháp
gọn gàng, lưu loát, hoàn toàn tương ưng với mục đích đoạn trừ các kết sử.
Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như thế làm rực sáng khu rừng Ngưu giác
sa-la này.”
Tôn giả Xá-lê Tử
hỏi:
“Hiền giả
Ly-việt-đa, Hiền giả A-nan đã nói theo hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi
Hiền giả Ly-việt-đa, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có
trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền
giả Ly-việt-đa, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn giả Ly-việt-đa
đáp rằng :
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo ưa yển tọa,
bên trong tu hành nội tâm tĩnh chỉ,
không bỏ tọa thiền, thành tựu quán tưởng, thường thích nhàn cư, ưa chỗ yên
tĩnh. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu
giác sa-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi:
“Hiền giả
A-na-luật-đà, Hiền giả Ly-việt-đa Tỳ-kheo đã nói theo sự hiểu biết của
mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả A-na-luật-đà, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác
sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát,
ví như hoa trời’. Hiền giả A-na-luật-đà, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng
khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn giả A-na-luật-đà
đáp rằng:
“Tôn giả Xá-lê Tử,
nếu có Tỳ-kheo đạt được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn, ở trong một ngàn
thế giới, với một ít phương tiện,
vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê Tử, ví như người có
mắt ở trên lầu cao nhìn xuống khu đất trống có một ngàn gò nỗng với một ít
phương tiện, vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê Tử,
cũng vâïy, nếu Tỳ-kheo có được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn, ở trong
một ngàn thế giới với một ít phương tiện, vị ấy trong chốc lát có thể thấy
tất cả. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu
giác sa-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi:
“Hiền giả
Ca-chiên-diên, Hiền giả A-na-luật-đà Tỳ-kheo đã nói theo sự hiểu biết của
mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả Ca-chiên-diên, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác
sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát,
ví như hoa trời’. Hiền giả Ca-chiên-diên, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng
khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn giả
Ca-chiên-diên đáp rằng:
“Tôn giả Xá-lê Tử,
ví như hai Tỳ-kheo pháp sư cùng bàn luận về A-tỳ-đàm thâm áo. Những điều
được hỏi đều được thấu hiểu tường tận, những lời giải đáp thì thông suốt,
sự thuyết pháp thì lưu loát. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực
sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi:
“Tôn giả Đại
Ca-diếp, Hiền giả Ca-chiên-diên Tỳ-kheo đã nói theo sự hiểu biết của mình.
Bây giờ tôi hỏi Tôn giả Đại Ca-diếp, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la
này, ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như
hoa trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng
Ngưu giác sa-la?”
Tôn giả Đại Ca-diếp
đáp rằng:
“Hiền giả Xá-lê Tử,
nếu có Tỳ-kheo tự mình sống nơi vô sự
khen ngợi ở nơi vô sự; tự mình có thiểu dục, khen ngợi sự thiểu dục; tự
mình tri túc, khen ngợi sự tri túc; tự mình thích sống cô độc viễn ly và
khen ngợi cô độc viễn ly; tự mình tu hành tinh tấn, khen ngợi sự tu hành
tinh tấn; tự mình lập chánh niệm chánh trí, khen ngợi sự lập chánh niệm
chánh trí; tự mình đắc định, khen ngợi sự đắc định; tự mình có trí tuệ,
khen ngợi sự có trí tuệ; tự mình các lậu đã sạch, khen ngợi các lậu đã
sạch; tự mình khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, khen ngợi khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Hiền giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy
làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi:
“Hiền giả
Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây
giờ tôi hỏi Hiền giả Mục-kiền-liên, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la
này, ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như
hoa trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng
Ngưu giác sa-la?”
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên đáp rằng:
“Tôn giả Xá-lê Tử,
nếu có Tỳ-kheo nào có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có
đại oai thần, được tự tại vô lượng như ý túc, thực hành vô lượng như ý
túc, có thể biến một thành nhiều, hợp nhiều làm thành một, một thì trụ
trên một, được biết, được thấy;
không bị trở ngại bởi vách đá, cũng như đi trong hư không; chìm xuống đất
như chìm xuống nước, đi trên nước như đi trên đất; ngồi xếp kiết già mà
bay trên không như chim bay liệng; với mặt trời và mặt trăng này vốn có
đại như ý túc, đại phước hựu, đại oai thần mà có thể đưa tay bắt nắm, thân
cao đến trời Phạm thiên. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng
khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên hỏi:
“Tôn giả Xá-lê Tử,
tôi và các vị Thượng tôn mỗi người đã tự nói theo sự hiểu biết của mình.
Bây giờ tôi hỏi Tôn giả Xá-lê Tử, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này,
ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa
trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu
giác sa-la?”
Tôn giả Xá-lê Tử đáp
rằng:
“Hiền giả
Mục-kiền-liên, nếu có Tỳ-kheo tùy dụng tâm tự tại, chứ không phải tùy tâm.
Nếu muốn trú định nào,
vị ấy vào buổi sáng an trú
định ấy. Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị
ấy an trú trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả
Mục-kiền-liên, ví như y phục của vua và các quan rất nhiều màu sắc rực rỡ,
nếu họ muốn mặc thứ nào vào buổi sáng, liền lấy mặc vào. Nếu họ muốn mặc
thứ nào vào buổi trưa hay buổi chiều, liền lấy mặc. Hiền giả
Mục-kiền-liên, cũng vậy, nếu có Tỳ-kheo nào tùy dụng tâm tự tại, chứ không
phải tùy tâm. Nếu muốn trú định nào, vị ấy vào buổi sáng an trú định ấy.
Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị ấy an
trú trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, vị
Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Tôn giả Xá-lê Tử bảo
rằng:
“Hiền giả
Mục-kiền-liên, tôi và chư Hiền mỗi người đã nói theo sự hiểu biết của
mình. Hiền giả Mục-kiền-liên, chúng ta hãy cùng với chư Hiền đi đến chỗ
Phật để biết trong những điều vừa thảo luận ấy, vị nào nói hay.”
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-việt-đa, Tôn giả A-nan,
tất cả cùng đi đến chỗ Phật. Các Tôn giả đều cúi đầu lễ sát chân Phật rồi
ngồi qua một bên. Tôn giả A-nan cũng cúi đầu lễ sát chân Phật rồi lui đứng
một bên. Tôn giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm nay có Hiền giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp,
Hiền giả Ca-chiên-diên, Hiền giả A-na-luật-đà, Hiền giả Ly-việt-đa, Hiền
giả A-nan, vào buổi sáng sớm tất cả đều đi đến chỗ con.
“Con thấy chư Hiền
đến, nhân đó mới nói rằng:
“‘Kính chào A-nan,
kính chào A-nan! Người là thị giả của Thế Tôn, hiểu được ý nghĩa, thường
được Đức Thế Tôn và các bậc trí tuệ phạm hạnh khen ngợi. Nay tôi có lời
hỏi Hiền giả A-nan, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có
trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền
giả A-nan, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?’
“Tôn giả A-nan đáp
rằng, ‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo học rộng, nghe nhiều, nhớ mãi
không quên, tích lũy sự nghe nhiều. Với những pháp sơ khởi vi diệu, khoảng
giữa vi diệu và kết thúc cũng vi diệu, có nghĩa lý, có văn chương, toàn
vẹn thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh; những pháp như vậy được vị ấy học
rộng, nghe nhiều, tụng tập đến ngàn lần, chuyên ý tư duy, kiến giải thông
suốt. Vị ấy thuyết pháp gọn gàng, lưu loát, hoàn toàn tương ưng với mục
đích đoạn trừ các kết sử. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như thế làm
rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la này’.”
Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Xá-lê Tử, đúng như thật lời Tỳ-kheo A-nan đã nói. Vì sao? Vì Tỳ-kheo
A-nan đã thành tựu Đa-văn.”
Tôn giả Xá-lê Tử
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Hiền
giả A-nan nói như vậy rồi, con lại hỏi, ‘Hiền giả Ly-việt-đa, Hiền giả
A-nan đã nói theo hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả Ly-việt-đa,
‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây
sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền giả Ly-việt-đa,
những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?’
“Hiền giả Ly-việt-đa
đáp con rằng, ‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo ưa yển tọa, bên trong
tu hành nội tâm tĩnh chỉ, không bỏ tọa thiền, thành tựu quán tưởng, thường
thích nhàn cư, ưa chỗ yên tĩnh. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy
làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Ly-việt-đa đã nói. Vì sao? Vì Tỳ-kheo
Ly-việt-đa ưa Tọa thiền.”
Tôn giả Xá-lê Tử
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Hiền
giả Ly-việt-đa nói như vậy rồi, con lại hỏi, ‘Hiền giả A-na-luật-đà, Hiền
giả Ly-việt-đa Tỳ-kheo đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi
Hiền giả A-na-luật-đà, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có
trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền
giả A-na-luật-đà, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác
sa-la?’
“Hiền giả A-na-luật-đà liền đáp lại con rằng, ‘Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có
Tỳ-kheo đạt được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn, ở trong một ngàn thế
giới, với một ít phương tiện, vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn
giả Xá-lê Tử, ví như người có mắt ở trên lầu cao nhìn xuống khu đất trống
có một ngàn gò nỗng với một ít phương tiện, vị ấy trong chốc lát có thể
thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê Tử, cũng vâïy, nếu Tỳ-kheo có được thiên nhãn,
thành tựu thiên nhãn, ở trong một ngàn thế giới với một ít phương tiện, vị
ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy
làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã nói. Vì sao? Vì
A-na-luật-đà Tỳ-kheo đã thành tựu Thiên nhãn.”
Tôn giả Xá-lê Tử
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Hiền
giả A-na-luật-đà nói như vậy rồi, con lại hỏi, ‘Hiền giả Ca-chiên-diên,
Hiền giả A-na-luật-đà Tỳ-kheo đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ
tôi hỏi Hiền giả Ca-chiên-diên, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này,
ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa
trời’. Hiền giả Ca-chiên-diên, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng
Ngưu giác sa-la?’
“Hiền giả
Ca-chiên-diên liền đáp lại con rằng, ‘Tôn giả Xá-lê Tử, ví như hai Tỳ-kheo
pháp sư cùng bàn luận về A-tỳ-đàm thâm áo. Những điều được hỏi đều được
thấu hiểu tường tận, những lời giải đáp thì thông suốt, sự thuyết pháp thì
lưu loát. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu
giác sa-la’.”
Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Ca-chiên-diên đã nói. Vì sao? Vì
Ca-chiên-diên Tỳ-kheo là Phân biệt pháp sư.”
Tôn giả Xá-lê Tử
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Hiền
giả Ca-chiên-diên nói như vậy rồi, con lại hỏi, ‘Tôn giả Đại Ca-diếp, Hiền
giả Ca-chiên-diên Tỳ-kheo đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi
hỏi Tôn giả Đại Ca-diếp, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm
có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’.
Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác
sa-la?”
“Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên liền đáp lại con rằng, ‘Hiền giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo tự
mình sống nơi vô sự khen ngợi ở nơi vô sự; tự mình có thiểu dục, khen ngợi
sự thiểu dục; tự mình tri túc, khen ngợi sự tri túc; tự mình thích sống cô
độc viễn ly và khen ngợi cô độc viễn ly; tự mình tu hành tinh tấn, khen
ngợi sự tu hành tinh tấn; tự mình lập chánh niệm chánh trí, khen ngợi sự
lập chánh niệm chánh trí; tự mình đắc định, khen ngợi sự đắc định; tự mình
có trí tuệ, khen ngợi sự có trí tuệ; tự mình các lậu đã sạch, khen ngợi
các lậu đã sạch; tự mình khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, khen
ngợi khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Hiền giả Xá-lê Tử, vị
Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Ca-diếp đã nói. Vì sao? Vì Đại
Ca-diếp Tỳ-kheo thường tu hạnh Vô sự.”
Tôn giả Xá-lê Tử
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Tôn
giả Đại Ca-diếp nói như vậy rồi, con lại hỏi ‘Hiền giả Mục-kiền-liên, Tôn
giả Đại Ca-diếp đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền
giả Mục-kiền-liên, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có
trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền
giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?’
“Hiền giả Đại
Mục-kiền-liên liền đáp lại con rằng, ‘Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo nào
có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, được
tự tại vô lượng như ý túc, thực hành vô lượng như ý túc, có thể biến một
thành nhiều, hợp nhiều làm thành một, một thì trụ trên một, được biết,
được thấy; không bị trở ngại bởi vách đá, cũng như đi trong hư không; chìm
xuống đất như chìm xuống nước, đi trên nước như đi trên đất; ngồi xếp kiết
già mà bay trên không như chim bay liệng; với mặt trời và mặt trăng này
vốn có đại như ý túc, đại phước hựu, đại oai thần mà có thể đưa tay bắt
nắm, thân cao đến trời Phạm thiên. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy
làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Mục-kiền-liên đã nói. Vì sao? Vì
Tỳ-kheo Mục-kiền-liên có Đại như ý túc.”
Bấy giờ Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo một bên, chấp tay mà bạch
Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
và chư Tôn giả nói như vậy rồi, liền bạch Tôn giả Xá-lê Tử rằng, ‘Tôn giả
Xá-lê Tử, tôi và các vị Thượng tôn mỗi người đã tự nói theo sự hiểu biết
của mình. Bây giờ tôi hỏi Tôn giả Xá-lê Tử, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác
sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát,
ví như hoa trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu
rừng Ngưu giác sa-la?’
“Tôn giả Xá-lê Tử
liền đáp lại lời con rằng, ‘Hiền giả Mục-kiền-liên, nếu có Tỳ-kheo tùy
dụng tâm tự tại, chứ không phải tùy tâm. Nếu muốn trú định nào, vị ấy vào
buổi sáng an trú định ấy. Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa hay buổi
chiều, tức thì vị ấy an trú trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền
giả Mục-kiền-liên, ví như y phục của vua và các quan rất nhiều màu sắc rực
rỡ, nếu họ muốn mặc thứ nào vào buổi sáng, liền lấy mặc vào. Nếu họ muốn
mặc thứ nào vào buổi trưa hay buổi chiều, liền lấy mặc. Hiền giả
Mục-kiền-liên, cũng vậy, nếu có Tỳ-kheo nào tùy dụng tâm tự tại, chứ không
phải tùy tâm. Nếu muốn trú định nào, vị ấy vào buổi sáng an trú định ấy.
Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị ấy an
trú trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, vị
Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Mục-kiền-liên, đúng như lời Tỳ-kheo Xá-lê Tử đã nói. Vì sao? Vì
Xá-lê Tử Tỳ-kheo tùy dụng Tâm tự tại.”
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo một bên mà bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
và chư Hiền nói như vậy rồi, bảo rằng, ‘Hiền giả Mục-kiền-liên, tôi và chư
Hiền mỗi ngườøi đã tự trình bày theo sự hiểu biết của mình. Hiền giả
Mục-kiền-liên, chúng ta hãy cùng với chư Hiền đi đến chỗ Đức Phật để biết
trong những điều vừa bàn luận ấy vị nào nói hay. Bạch Thế Tôn, trong chúng
con, ai nói hay?”
Thế Tôn đáp rằng:
“Này Xá-lê Tử, tất
cả đều hay. Vì sao? Vì các pháp đó chính là những điều Ta nói. Xá-lê Tử,
hãy nghe Ta nói. Vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.
Này Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo tùy theo chỗ ở hoặc thành quách, thôn ấp, vào
buổi sáng sớm mang y cầm bát vào thôn khất thực, khéo thủ hộ thân, khéo
thúc liễm các căn, khéo giữ tâm niệm. Vị ấy sau khi khất thực xong, sau
giờ ngọ, thâu xếp y bát, rửa chân tay, lấy tọa cụ vắt lên trên vai, đến
chỗ vô sự, hoặc dưới gốc cây, hay chỗ thanh vắng, trải ni-sư-đàn mà ngồi
kiết già, ngồi luôn cho đến chứng lậu tận mới giải kiết già. Vị ấy không
giải kiết già cho đến khi nào chưa chứng được lậu tận. Này Xá-lê Tử,
Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Phật thuyết giảng
như vậy. Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 15
182
|
183
|
184
|
185
|
186
|
187
|
188
|
189
|
190
|
191
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003