SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 14
PHẨM TÂM
181. KINH ĐA GIỚI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ, Tôn giả
A-nan một mình trong tịnh thất, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi lên ý nghĩ này:
“Những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí
tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh,
chứ không phải từ trí tuệ.”
Rồi Tôn giả A-nan
vào lúc xế chiều, từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân
Phật, rồi đứng sang một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm
nay con một mình trong tịnh thất, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi lên ý nghĩ
này: “Những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ
trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà
sanh, chứ không phải từ trí tuệ”.
Thế Tôn nói rằng:
“Thật vậy, A-nan,
những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí
tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh,
chứ không phải từ trí tuệ.
“Này A-nan, cũng như lửa dậy từ bụi lau, bụi cỏ, cháy luôn cả lầu các,
điện đường. Này A-nan, cũng vậy, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ
ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất
cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
“Này A-nan, trong quá khứ, nếu những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu
si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Nếu những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất
cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
“Này A-nan, trong
thời vị lai, nếu những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh
chứ không từ trí tuệ. Nếu những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng
đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
“Này A-nan, trong
thời hiện tại, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ
không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu
si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. “Này A-nan, đó gọi là, ngu si có
sợ hãi, trí tuệ không sợ hãi; ngu si có vấp ngã, tai hoạn, ưu não; trí tuệ
không có vướng tai hoạn, ưu não.
“Này A-nan, những ai
có sợ hãi, vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng có thể tìm thấy nơi ngu si
chứ không phải nơi trí tuệ.
Lúc bấy giờ, Tôn giả
A-nan buồn rầu, khóc lóc, nước mắt chảy, chấp tay hướng về Đức Phật, bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, thế
nào là Tỳ-kheo ngu si, không phải trí tuệ?”
Thế Tôn đáp rằng:
“Này A-nan, nếu có
Tỳ-kheo nào không biết giới, không biết xứ, không biết nhân duyên, không
biết thị xứ phi xứ.
A-nan, Tỳ-kheo như vậy là ngu si, không phải trí tuệ.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo như vậy là ngu si, không phải là trí tuệ. Nhưng bạch Thế Tôn, thế
nào là Tỳ-kheo trí tuệ, không phải ngu si?”
Thế Tôn đáp rằng:
“A-nan, nếu Tỳ-kheo
nào biết giới, biết xứ, biết nhân duyên, biết thị xứ phi xứ; A-nan,
Tỳ-kheo như vậy là trí tuệ, không phải ngu si”.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo như vậy là trí tuệ, không phải ngu si. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào
là Tỳ-kheo biết giới?”
Thế Tôn nói:
“Này A-nan, nếu
Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về mười tám giới: nhãn giới, sắc giới,
nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới,
tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới,
thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. A-nan, thấy và biết như
thật về mười tám giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về sáu giới: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong
giới, không giới, thức giới. A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về sáu giới: dục giới, nhuế giới, hại giới, vô dục
giới, vô nhuế giới, vô hại giới. A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới
này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về sáu giới: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới,
xả giới, vô minh giới. A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về bốn giới: thọ giới, tưởng giới, hành giới, thức
giới. A-nan, thấy và biết như thật về bốn giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới: sắc giới, vô sắc giới, diệt giới. A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới: quá khứ giới, vị lai giới, hiện tại
giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới: diệu giới, bất diệu giới, trung giới.
A-nan, thấy và biết như thật về ba giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới: thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới.
A-nan, thấy và biết như thật về ba giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về ba giới: học giới, vô học giới, phi học vô học
giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về hai giới: hữu lậu giới, vô lậu giới. A-nan, thấy
và biết như thật về hai giới này.
“Lại nữa, A-nan,
thấy và biết như thật về: hữu vi giới, vô vi giới. A-nan, thấy và biết như
thật về hai giới này.
“Này A-nan, thấy và
biết như thật về sáu mươi hai giới này. A-nan, Tỳ-kheo thấy và biết như
thật về giới như vậy”.
Tôn giả A-nan
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo biết giới như vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo biết
xứ?”
Thế Tôn đáp:
“Nếu Tỳ-kheo nào
thấy và biết như thật về mười hai xứ: nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ,
tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ, pháp xứ. A-nan,
thấy và biết như thật về mười hai xứ này. Này A-nan, Tỳ-kheo biết xứ như
vậy.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Tỳ-kheo biết xứ như
vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo biết nhân duyên?”
Thế Tôn đáp:
“Nếu Tỳ-kheo nào
thấy và biết như thật về nhân duyên và pháp khởi từ nhân duyên, rằng ‘Nhân
cái này có, cái kia có; cái này không, cái kia không. Cái này sanh, cái
kia sanh; cái này diệt cho nên cái kia diệt’. Tức là duyên vô minh có
hành..., cho đến duyên sanh có già, chết. Nếu vô minh diệt thì hành diệt,
cho đến sanh diệt thì già, chết diệt. A-nan, Tỳ-kheo biết nhân duyên như
vậy.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo biết nhân duyên như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo
biết thị xứ phi xứ?”
Thế Tôn đáp:
“Nếu Tỳ-kheo nào
thấy và biết như thật về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Này A-nan, nếu trong
đời có hai vị Chuyển luân vương cùng cai trị, trường hợp này hoàn toàn
không có. Nếu trong đời có một Chuyển luân vương cai trị, trường hợp này
tất có.
“Này A-nan, nếu
trong đời có hai Đức Như Lai, trường hợp này hoàn toàn không. Nếu trong
đời này có một Đức Như Lai, trường hợp này tất có.
“Này A-nan, nếu một
người đã thấy đế lý
mà có ý sát hại cha mẹ, giết A-la-hán, phá hoại Thánh chúng, ác tâm với
Phật, làm Như Lai đổ máu, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu một người
phàm phu cố ý hại cha mẹ, giết A-la-hán, phá hoại Thánh chúng, ác tâm với
Phật, làm Như Lai đổ máu, trường hợp này tất có xảy ra.
“A-nan, nếu một
người đã thấy đế lý mà cố tình phạm giới, xả giới, bỏ đạo, trường hợp này
hoàn toàn không có. Nếu một người phàm phu cố ý phạm giới, xả giới, bỏ
đạo, trường hợp này tất có.
“Nếu có một người đã
thấy đế lý mà xả ly nội đạo này, tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền ở
đó, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu một người phàm phu xả ly nội
đạo này, tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền ở đó, trường hợp này tất
có.
“Này A-nan, nếu một
người đã thấy đế lý mà theo các Sa-môn, Phạm chí khác nói như vầy: ‘Các
ngài thấy điều đáng thấy, biết điều đáng biết’, trường hợp này hoàn toàn
không có. Nếu người phàm phu theo các Sa-môn, Phạm chí khác, nói rằng:
‘Các ngài thấy điều đáng thấy, biết điều đáng biết’, trường hợp này tất
có.
“Này A-nan, nếu
người đã thấy đế lý mà còn tin bói toán, hỏi cát hung, trường hợp này hoàn
toàn không có. Nếu người phàm phu tin bói toán, hỏi cát hung, trường hợp
này tất có.
“Này A-nan, nếu
người đã thấy đế lý theo các Sa-môn, Phạm chí khác mà bói toán, hỏi cát
hung, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu người phàm phu theo các
Sa-môn, Phạm chí khác mà bói toán, hỏi cát hung, trường hợp này tất có.
“A-nan, nếu ngườøi
thấy đế lý mà phát sanh sự cực khổ, rất khổ, trọng đại khổ, không thể ái,
không thể lạc, không thể tư, không thể niệm, cho đến đoạn mạng, bèn xả ly
nội đạo này, cầu cứu ở ngoại đạo. Hoặc có Sa-môn, Phạm chí trì một câu,
hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm ngàn câu, ‘Mong giải trừ sự khổ
cho tôi’, đó là đi tìm sự khổ, tập khởi sự khổ, dẫn đến sự khổ mà nói là
dứt khổ, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu một người phàm phu xả ly
nội đạo này mà cầu cứu ngoại đạo, hoặc có Sa-môn, Phạm chí trì chú một
câu, hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm ngàn câu, ‘Mong giải trừ sự
khổ cho tôi’, đó là đi tìm sự khổ, tập khởi sự khổ, dẫn đến sự khổ, mà nói
là dứt khổ, trường hợp này tất có.
“A-nan, nếu người
thấy đế lý mà tái sanh lần thứ tám, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu
một người phàm phu tái sanh lần thứ tám, trường hợp này tất có.
“Này A-nan, nếu ai
có thân ác hành, khẩu và ý ác hành, do duyên này thân hoại mạng chung đi
đến thiện xứ, sanh lên cõi trời, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai
có thân ác hành, khẩu và ý ác hành, do duyên này thân hoại mạng chung đi
đến ác xứ, sanh trong địa ngục, trường hợp này tất có.
“A-nan, nếu ai có
thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành, do duyên này thân hoại mạng chung đi
đến ác xứ, sanh trong địa ngục, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai
có thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành, do duyên này thân hoại mạng chung
đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời, trường hợp này tất có.
“A-nan, nếu ai có
thân ác hành, khẩu và ý ác hành mà thọ lạc báo, trường hợp này hoàn toàn
không có. Nếu ai có thân ác hành, khẩu và ý ác hành mà thọ khổ báo, trường
hợp này tất có.
“A-nan, nếu ai có
thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành mà thọ khổ báo, trường hợp này hoàn
toàn không có. Nếu ai có thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành mà thọ lạc
báo, trường hợp này tất có.
“Này A-nan, nếu ai
không đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, mà tâm
có thể an trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, trường hợp này hoàn toàn không
có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém mà
tâm an trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, trường hợp này tất có.
“A-nan, nếu ai không
đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an
trụ vững vàng trên bốn niệm xứ mà muốn tu bảy giác chi, trường hợp này
hoàn toàn không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế,
tuệ yếu kém, tâm an trụ vững vàng trên bốn niệm xứ mà tu bảy giác ý,
trường hợp này tất có.
“A-nan, nếu ai không
đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an
trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, không tu bảy giác ý mà muốn chứng đắc Vô
thượng chánh đẳng giác, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai đoạn trừ
năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, an trụ vững vàng trên
bốn niệm xứ, tu bảy giác ý, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác, trường
hợp này tất có.
“A-nan, nếu ai không
đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an
trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, không tu bảy giác ý, không chứng đắc Vô
thượng chánh đẳng giác mà đạt đến khổ biên, trường hợp này hoàn toàn không
có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, an
trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, tu bảy giác ý, chứng đắc Vô thượng chánh
đẳng giác, đạt đến khổ biên, trường hợp này tất có.
“Này A-nan, Tỳ-kheo
biết thị xứ, phi xứ như vậy”.
Lúc bấy giờ Tôn giả
A-nan chấp tay hướng về Đức Phật bạch:
“Bạch Thế Tôn, kinh
này tên gọi là gì? Nên phụng trì như thế nào?”
Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, hãy thọ
trì pháp này, là đa giới, pháp giới, cam lộ giới, đa cổ, pháp cổ, cam lộ
cổ, là pháp kính, là tứ phẩm.
Do đó kinh này được gọi là Đa Giới”.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 14
172
|
173
|
174
|
175
|
176
|
177
|
178
|
179
|
180
|
181
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003