SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 14
PHẨM TÂM
180. KINH CÙ-ĐÀM-DI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Thích-ki-sấu, ở tại Gia-bệ-la-vệ, trong vườn Ni-câu-loại.
Bấy giờ, Ma-ha
Bá-la-xà-bát-đề Cù-đàm-di
đem một chiếc y mới sắc vàng, dệt bằng kim tuyến, đến chỗ Đức Phật, cúi
đầu đảnh lễ sát chân Phật, ngồi xuống một bên rồi thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, chiếc y mới sắc vàng dệt bằng kim tuyến này, tôi tự cắt may
cho Thế Tôn. Mong Thế Tôn thương xót tôi mà thâu nạp cho.
Đức Thế Tôn nói:
“Này Cù-đàm-di, hãy
đem y này dâng cúng cho chúng Tỳ-kheo. Dâng cúng cho chúng Tỳ-kheo tức là
đã cúng dường Ta, cũng như đã cúng dường đại chúng.
Lần thứ hai, rồi lần
thứ ba. Đại Sanh Chủ
Cù-đàm-di vẫn thưa:
“Bạch Thế Tôn, chiếc y mới sắc vàng dệt bằng kim tuyến này, tôi tự cắt may
cho Thế Tôn. Mong Thế Tôn thương xót tôi mà thâu nạp cho.
Lần thứ hai, rồi lần
thứ ba, Đức Thế Tôn cũng vẫn nói:
“Này Cù-đàm-di, hãy
đem y này dâng cúng cho chúng Tỳ-kheo. Dâng cúng cho chúng Tỳ-kheo tức là
đã cúng dường Ta, cũng như đã cúng dường đại chúng.
Bấy giờ, Tôn giả
A-nan đứng phía sau Đức Thế Tôn, cầm quạt hầu Phật, liền thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, đại
Sanh Chủ Cù-đàm-di đã đem lại cho Thế Tôn nhiều lợi ích, đã bảo dưỡng Thế
Tôn sau khi thân mẫu Thế Tôn qua đời”.
Đức Thế Tôn nói:
“Này A-nan, thật sự như vậy. Này A-nan, thật sự như vậy. Đại Sanh Chủ
Cù-đàm-di đã đem lại cho Ta nhiều lợi ích, đã bảo dưỡng Ta sau khi thân
mẫu Ta qua đời. Nhưng này A-nan, ta cũng đem lại cho Đại Sanh Chủ
Cù-đàm-di nhiều lợi ích. Vì sao vậy? Đại Sanh Chủ Cù-đàm-di nhờ Ta mà được
quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Ba ngôi tôn quý, Khổ,
Tập, Diệt, Đạo, thành tựu tín, giới, đa văn, bố thí, trí tuệ, xa lìa
nghiệp sát, đoạn trừ nghiệp sát, không cho mà lấy, tà dâm, nói dối, xa lìa
nghiệp uống rượu, đoạn trừ nghiệp uống rượu. A-nan, nếu có người nhờ ngưới
mà được quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ ba ngôi tôn quý,
không nghi ngờ Khổ, Tập, Diệt, Đạo, thành tựu tín, giới, đa văn, bố thí,
trí tuệ, xa lìa nghiệp sát, đoạn trừ nghiệp sát, không cho mà lấy, tà dâm,
nói dối, xa lìa nghiệp uống rượu, đoạn trừ nghiệp uống rượu, thì người này
cúng dường lại người kia, dù cho đến suốt đời, uống ăn, áo chăn, giường
chõng, thuốc thang và đủ các thứ vật dụng cho đời sống, vẫn chưa thể đền
ơn.
“Lại nữa, này A-nan,
có bảy loại bố thí cho Tăng chúng, và có mười loại bố thí riêng cho từng
người, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo
rộng lớn.
“Này A-nan, thế nào gọi là bảy loại bố thí cho Tăng chúng sẽ đượïc đại
phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo rộng lớn?
“Thiện nam tử hay
thiện nữ nhân có tín tâm
khi Phật còn tại thế, Phật là vị đứng đầu, mà bố thí cho Phật và chúng
Tỳ-kheo, như vậy gọi là loại bố thí thứ nhất cho Tăng chúng sẽ được đại
phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo rộng lớn.
“Thiện nam tử hay
thiện nữ nhân có tín tâm, sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn không lâu, bố thí
cho cả hai bộ chúng, bố thí cho chúng Tỳ-kheo, bố thí cho chúng
Tỳ-kheo-ni; đi vào tinh xá Tỳ-kheo bạch với chúng rằng ‘Mong trong chúng ở
đây cử ra một số Tỳ-kheo để chúng con được bố thí’; đi vào tinh xá
Tỳ-kheo-ni bạch với chúng rằng ‘Mong trong chúng ở đây cử ra một số
Tỳ-kheo-ni để chúng con được bố thí’. Như vậy gọi là loại bố thí thứ năm
cho Tăng chúng, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được
quả báo rộng lớn.
“Này A-nan, trong thời tương lai, có Tỳ-kheo thuộc loại danh tánh,
khoác áo cà-sa mà không tinh tấn, vị ấy đã không tinh tấn, không tinh cần
mà vẫn được bố thí vì có ở trong chúng, duyên nơi chúng, ở trên chúng,
nhân nơi chúng, Ta nói lúc bấy giờ thí chủ sẽ được phước vô lượng không
thể đếm, không thể kể, được thiện, được lạc; huống nữa là bố thí cho
Tỳ-kheo thành tựu hành sự,
thành tựu trừ sự,
thành tựu cả hành sự và trừ sự, thành tựu chất trực, thành tựu nhu nhuyến,
thành tựu cả chất trực và nhu nhuyến, thành tựu nhẫn, thành tựu lạc, thành
tựu cả nhẫn và lạc, thành tựu tương ưng, thành tựu kinh kỹ, thành tựu cả
tương ưng và kinh kỹ, thành tựu oai nghi, thành tựu hành lai du,
thành tựu cả oai nghi và hành lai du,
thành tựu tín, thành tựu giới, thành tựu đa văn, thành tựu thí, thành tựu
tuệ, thành tựu cả tín, giới, đa văn, thí, tuệ. Như vậy gọi là loại bố thí
thứ bảy cho Tăng chúng, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công
đức, được quả báo rộng lớn.
“Đó gọi là bảy loại
bố thí cho Tăng chúng sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức,
được quả báo rộng lớn.
“Này A-nan, thế nào
gọi là mười bốn loại bố thí riêng cho từng người sẽ được đại phước, được
đại quả, được đại công đức, quả báo rộng lớn?
“Thiện nam tử hay
thiện nữ có tín nhân bố thí cho Đức Như Lai, bố thí cho Duyên giác, bố thí
cho A-la-hán, bố thí cho A-la-hán hướng, bố thí cho A-na-hàm, bố thí cho
A-na-hàm hướng, bố thí cho Tư-đà-hàm, bố thí cho Tư-đà-hàm hướng, bố thí
cho Tu-đà-hoàn, bố thí cho Tu-đà-hoàn hướng, bố thí cho Tiên nhân ngoại
đạo ly dục, bố thí cho người tinh tấn, bố thí cho người không tinh tấn, bố
thí cho súc sanh.
“Này A-nan, bố thí
cho súc sanh được phước trăm lần hơn.
“Bố thí cho người
không tinh tấn được phước ngàn lần hơn.
“Bố thí cho người
tinh tấn được phước trăm ngàn lần hơn.
“Bố thí cho Tiên
nhân ngoại đạo ly dục được phước ức trăm ngàn lần hơn.
“Bố thí cho vị
Tu-đà-hoàn hướng được phước vô lượng.
“Bố thí cho vị đắc
Tu-đà-hoàn được phước vô lượng.
“Bố thí cho vị
Tư-đà-hàm hướng được phước vô lượng.
“Bố thí cho vị đắc
Tư-đà-hàm được phước vô lượng.
“Bố thí cho vị
A-na-hàm hướng được phước vô lượng.
“Bố thí cho vị đắc
a-na-hàm được phước vô lượng.
“Bố thí cho vị
A-la-hán hướng được phước vô lượng.
“Bố thí cho vị đắc
A-la-hán được phước vô lượng.
“Huống nữa là bố thí
cho Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
“Đây là mười bốn
loại bố thí riêng cho từng người, sẽ được đại phước, được đại quả, được
đại công đức, được đại quảng báo.
“Lại nữa, này A-nan, có bốn loại bố thí và chỉ ba loại được thanh tịnh.
“Những gì là bốn? Có
loại bố thí do thí chủ thanh tịnh, không phải do người thọ nhận. Có loại
bố thí do người thọ nhận thanh tịnh, chứ không phải do thí chủ. Có loại bố
thí không phải do thí chủ thanh tịnh, cũng không phải do người thọ nhận.
Có loại bố thí do thí chủ thanh tịnh và người thọ nhận cũng
vậy.
“Này A-nan, thế nào
gọi là loại bố thí do thí chủ thanh tịnh, không phải do người thọ nhận? Là
thí chủ thì tinh tấn, tu hành diệu pháp, thấy có đời sau, thấy có quả báo.
Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Có sự bố thí, có quả báo của sự bố
thí’. Còn người thọ nhận thì không tinh tấn, tu hành ác pháp, không thấy
có đời sau, không thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng
‘Không có sự bố thí, không có quả báo của sự bố thí’. Như vậy gọi là loại
bố thí do thí chủ thanh tịnh, không phải do người thọ nhậïn.
“Này A-nan, thế nào
gọi là loại bố thí do người thọ nhận thanh tịnh, không phải do thí chủ? Là
thí chủ thì không tinh tấn, tu hành ác pháp, không thấy có đời sau, không
thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Không có sự bố
thí, không có quả báo của sự bố thí’. Còn người thọ nhận thì tinh tấn, tu
hành diệu pháp, thấy có đời sau, thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói
như vậy, rằng ‘Có sự bố thí, có quả báo của sự bố thí’. Như vậy gọi là
loại bố thí do người thọ nhận thanh tịnh, không phải do thí chủ.
“Này A-nan, thế nào
gọi là loại bố thí không phải do thí chủ thanh tịnh, cũng không phải do
người thọ nhận? Là thí chủ thì không tinh tấn, tu hành ác pháp, không thấy
có đời sau, không thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng
‘Không có sự bố thí, không có quả báo của sự bố thí’. Và người thọ nhận
cũng không tinh tấn, tu hành ác pháp, không thấy có đời sau, không thấy có
quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Không có sự bố thí, không
có quả báo của sự bố thí’. Như vậy gọi là loại bố thí không phải do thí
chủ thanh tịnh, cũng không phải do người thọ nhận.
“Này A-nan, thế nào gọi là loại bố thí do thí chủ thanh tịnh và người thọ
nhận cũng vậy? Là thí chủ thì tinh tấn, tu hành diệu pháp, thấy có đời
sau, thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Có sự bố thí,
có quả báo của sự bố thí’. Và người thọ nhận cũng tinh tấn, tu hành diệu
pháp, thấy có đời sau, thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy,
rằng ‘Có sự bố thí, có quả báo của sự bố thí’. Như vậy gọi là loại bố thí
do thí chủ thanh tịnh và người thọ nhận cũng vậy.”
Lúc bấy giờ Đức Thế
Tôn nói bài kệ rằng:
Người tinh tấn thí
người không tinh tấn
Thí đúng pháp được
tâm hoan hỷ
Vì tin có nghiệp và
quả báo
Loại thí này thí chủ
thanh tịnh.
Không tinh tấn thí
người tinh tấn
Không đúng pháp,
không tâm hoan hỷ
Vì không tin nghiệp
và quả báo
Loại thí này người
nhận thanh tịnh.
Người giải đãi thí
không tinh tấn
Không đúng pháp,
không tâm hoan hỷ
Vì không tin nghiệp
và quả báo
Loại thí này không
được quảng báo
Người tinh tấn thí
người tinh tấn
Là đúng pháp, được
tâm hoan hỷ
Vì tin có nghiệp và
quả báo
Loại thí này đạt
được quảng báo.
Kẻ nô tỳ và kẻ bần
cùng
Hoan hỷ tự mình làm
bố thí
Vì tin có nghiệp, có
quả báo
Bố thí như vậy thiên
nhân khen.
Khéo léo giữ gìn cả
thân miệng
Đưa tay cầu xin đúng
Chánh pháp
Người ly dục thí
người ly dục
Đó chính là tài thí
đệ nhất.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 14
172
|
173
|
174
|
175
|
176
|
177
|
178
|
179
|
180
|
181
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003