SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 14
PHẨM TÂM
176. KINH HÀNH THIỀN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo rằng:
“Trong thế gian quả
thật có bốn loại hành thiền. Những gì là bốn? Hoặc có hành thiền xí thạnh
mà gọi là suy thoái. Hoặc có hành thiền suy thoái mà gọi là xí thạnh. Hoặc
có hành thiền suy thoái thì biết như thật là suy thoái. Hoặc có hành thiền
xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Tại sao gọi là
người hành thiền xí thạnh mà cho là suy thoái?
“Người hành thiền
kia ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và lạc phát sanh do
ly dục, chứng Sơ thiền, thành tựu an trụ. Tâm người đó tu tập chánh tư
duy, đang từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là sự tịch tịnh thù thắng.
Người hành thiền đó lại nghĩ rằng, ‘Tâm ta lìa bổn tướng mà hướng đến chỗ
khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất định’. Người hành thiền ấy không biết
như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Sơ
thiền hướng đến Nhị thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết
như thật như vậy, nên đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định.
Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại nữa, người hành
thiền, giác và quán đã tịch tịnh, nội tĩnh, nhất tâm, không giác không
quán, có hỷ và lạc phát sanh do định, chứng đệ Nhị thiền, thành tựu an
trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Nhị thiền hướng đến Tam thiền, đó
gọi là tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm
ta lìa bổn tướng mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất
định’. Người hành thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh
tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Nhị thiền hướng đến Tam thiền, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy, nên đối với sự như
thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh mà
nói là thoái chuyển vậy.
“Lại nữa, người hành
thiền ly hỷ và dục, xả, an trụ vô cầu, chánh niệm, chánh trí mà thân có
cảm giác lạc, điều được Thánh nói là được Thánh xả, niệm, an trú lạc,
chứng đắc đệ Tam thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy,
từ đệ Tam thiền hướng đến đệ Tứ thiền, đó là tịch tịnh thù thắng. Nhưng
người hành thiền đó lại nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa bổn tướng mà hướng đến chỗ
khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất định’. Người hành thiền ấy không biết
như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Tam
thiền hướng đến Tứ thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết
như thật như vậy, nên đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định.
Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại nữa, người hành
thiền định, khổ diệt, lạc diệt, hỷ và ưu vốn đã diệt, không khổ không lạc,
xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu
tập chánh tư duy, từ đệ Tứ thiền hướng đến Vô lượng không xứ, đó là tịch
tịnh thù thắng. Nhưng vị hành thiền ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa bổn tướng
mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất định’. Người hành
thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc
tịch tịnh, từ Tứ thiền hướng đến Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù
thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy, nên đối với sự như thật mà
thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói là
thoái chuyển vậy.
“Lại nữa, người hành
thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu tưởng, không tư duy bất cứ loại
tưởng nào, nhập vô lượng không, thành tựu an trụ nơi Vô lượng không xứ.
Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Vô lượng không xứ hướng đến Vô lượng
thức xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Nhưng vị hành thiền ấy lại nghĩ rằng
‘Tâm ta lìa bổn tướng mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất
định’. Người hành thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh
tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Vô lượng không xứ hướng đến Vô lượng thức
xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy, nên
đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy là
xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại nữa, người hành
thiền vượt qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thành tựu an
trụ Vô lượng thức xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Vô lượng thức xứ
hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Nhưng vị hành thiền ấy
lại nghĩ ‘Tâm ta lìa bổn tướng mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và
diệt mất định’. Người hành thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu
tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Vô lượng thức xứ hướng đến Vô sở
hữu xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy,
nên đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như
vậy là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả thức vô lượng xứ, nhập Vô sở
hữu xứ, thành tựu an trụ Vô sở hữu xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ
Vô sở hữu xứ hướng đến phi tưởng phi vô tưởng xứ, đó là tịch tịnh thù
thắng. Nhưng vị hành thiền ấy lại nghĩ rằng: “Tâm ta lìa bốn tướng mà
hướng đến chỗ khác, nên mất vô xứ Vô sở hữu xứ, diệt mất định”. Vị hành
thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc
tịch tịnh, từ Vô sở hữu xứ hướng đến phi tưởng phi vô tưởng xứ, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy, nên đối với sự như
thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh mà
nói là thoái chuyển vậy.
“Thế nào là hành
thiền suy thoái mà cho là xí thạnh?
“Vị hành thiền ấy ly
dục, ly ác bất thiện pháp, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh,
chứng đắc Sơ thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn
hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến Nhị thiền, nhưng vị ấy lại nghĩ rằng
‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Sơ thiền hướng đến
Nhị thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như
thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Sơ thiền,
nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Nhị thiền.
Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà
mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành thiền với giác và quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không
giác không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ Nhị thiền, thành tựu an
trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn hẹp khác mà tu tập con đường dẫn
đến Tam thiền. Nhưng vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy,
khoái lạc tịch tịnh, từ Nhị thiền hướng đến Tam thiền, đó là tịch tịnh thù
thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng
tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Nhị thiền, nhưng không nên bằng tư duy
về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Tam thiền. Vị ấy do không biết như thật
nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy
là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Vị hành thiền ly
hỷ, ly dục, xả, an trụ vô cầu, chánh niệm, chánh trí mà thân cảm giác lạc,
điều được Thánh gọi là được Thánh xả, niệm an trụ lạc, chứng đệ Tam thiền,
thành tựu và an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn hẹp khác mà tu tập
con đường dẫn đến Tứ thiền. Nhưng vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh
tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Tam thiền hướng đến Tứ thiền, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy
bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Tam thiền, nhưng không nên bằng tư
duy về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Tứ thiền. Vị ấy do không biết như
thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như
vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền với lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu vốn cũng đã diệt, không khổ không lạc,
xả niệm thanh tịnh, chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy
trong những tưởng hạn hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến Vô lượng không
xứ, nhưng vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch
tịnh, từ Tứ thiền thiền hướng đến Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù
thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng
tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Tứ thiền, nhưng không nên bằng tư duy
về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Vô lượng không xứ. Vị ấy do không biết
như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền
như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng,
không tư duy bất cứ loại tưởng nào, nhập vô lượng không, chứng Vô lượng
không xứ ấy, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn hẹp khác
mà tu tập con đường dẫn đến Vô lượng thức xứ, nhưng vị ấy lại nghĩ rằng
‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Vô lượng không xứ
hướng đến Vô lượng thức xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy
không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà
nhập Vô lượng không xứ, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp
khác mà vào Vô lượng thức xứ. Vị ấy do không biết như thật nên không biết
rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà
cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền vượt qua Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, chứng Vô lượng thức
xứ ấy, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tư tưởng hạn hẹp khác mà
tu tập con đường dẫn đến Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta
tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Vô lượng thức xứ hướng đến Vô
sở hữu xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như
thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Vô lượng
thức xứ, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Vô
sở hữu xứ. Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy
vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, chứng Vô sở hữu
xứ, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tư tưởng hạn hẹp khác mà tu
tập con đường dẫn đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, nhưng vị ấy lại nghĩ
rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Vô sở hữu xứ
hướng đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị
hành thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng
với yểm ly mà nhập Vô sở hữu xứ, nhưng không nên bằng tư duy về những
tưởng hạn hẹp khác mà vào đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Vị ấy do
không biết như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định.
Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Thế nào là hành
thiền suy thoái thì biết như thật là suy thoái?
“Vị hành thiền ấy
với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, nhập
Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, chứng Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành
tựu an trụ, nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm về đối
tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng Vô sở hữu xứ,
bèn thối thất trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng, ‘Tâm ta lìa khỏi bổn tướng, lại
hướng đến chỗ khác, mất Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ; diệt định vậy’. Vị
ấy biết như thật rồi, đối với sự như thật không thoái ý, không mất định.
Hành thiền như vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, vượt qua tất cả Vô lượng
thức xứ, nhập vô sở hữu, chứng Vô sở hữu xứ ấy, thành tựu an trụ. Nhưng vị
ấy không thọ hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ
hành trên niệm tưởng tương ưng Vô lượng thức xứ, bèn thối thất trở lại đó.
Vị ấy nghĩ rằng, ‘Tâm ta lìa khỏi bổn tướng, lại hướng đến chỗ khác, mất
Vô sở hữu xứ; diệt định vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự như thật
không thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái thì biết
như thật là suy thoái.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, vượt qua tất cả Vô lượng
không xứ, nhập vô lượng thức, chứng Vô lượng thức xứ, thành tựu an trụ.
Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục
tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng Vô lượng không xứ, bèn thối
thất trở lại đó. Vị ấy bèn nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng, lại hướng
đến chỗ khác, mất Vô lượng thức xứ; diệt định vậy’. Vị ấy biết như thật
rồi, đối với sự như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy
là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, vượt qua tất cả các sắc
tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nào, nhập vô
lượng không, chứng Vô lượng không xứ ấy, thành tựu an trụ. Nhưng vị ấy
không chấp thọ hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ
hành trên niệm tưởng tương ưng sự ái lạc sắc, bèn thối thất trở lại đó. Vị
ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng, lại hướng đến chỗ khác, mất Vô
lượng không xứ; diệt định vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự như
thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái
thì biết như thật là suy thoái.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu
vốn có cũng đã diệt, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đệ Tứ
thiền, thành tựu an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy
niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng đệ
Tam thiền, bèn thối thất trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn
tướng, lại hướng đến chỗ khác, mất đệ Tứ thiền; diệt định vậy’. Vị ấy biết
như thật rồi, đối với sự như thật không thoái ý, không mất định. Hành
thiền như vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, ly hỷ, ly dục, xả, an trụ
vô cầu, chánh niệm, chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi được
Thánh xả, niệm, an trú lạc trụ, chứng đệ Tam thiền, thành tựu an trụ.
Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục
tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng đệ Nhị thiền, bèn thối thất
trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng, lại hướng đến chỗ
khác, mất đệ Tam thiền; diệt định’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự
như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái
thì biết như thật là suy thoái.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, giác và quán đã dứt, nội
tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ Nhị
thiền, thành tựu an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy
niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng Sơ
thiền, bèn thối thất trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn
tướng, lại hướng đến chỗ khác, mất đệ Nhị thiền; diệt định’. Vị ấy biết
như thật rồi, đối với sự như thật không thoái ý, không mất định. Hành
thiền như vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, ly dục, ly ác bất thiện
pháp, có giác, có quán, có hỷ lạc do định sanh, chứng Sơ thiền, thành tựu
an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm về đối tượng và
mục tiêu ấy, chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng sự ái lạc dục, bèn thối
thất trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng, lại hướng đến
chỗ khác, mất Sơ thiền, diệt định vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với
sự như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái
thì biết như thật là suy thoái.
“Thế nào là hành
thiền mà xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh?
“Vị hành thiền ấy ly
dục, ly ác bất thiện pháp, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh,
chứng đắc Sơ thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái
lạc tịch tịnh, rồi từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là tịch tịnh thù
thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy,
khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Sơ thiền hướng đến đệ Nhị thiền, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không mất
định. Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy giác quán đã dứt, nội tĩnh nhất tâm, không giác, không quán, hỷ
lạc do định sanh, chứng đệ Nhị thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập
chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Nhị thiền hướng đến Tam thiền,
đó là tịch tịnh thù thắng. Vị ấy bèn nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư
duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Nhị thiền hướng đến Tam thiền, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không mất
định. Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy ly hỷ, ly dục, xả, vô cầu, an trụ, chánh niệm, chánh trí, thân
cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả, niệm, an trụ lạc trụ,
chứng đệ Tam thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái
lạc tịch tịnh, rồi từ Tam thiền hướng đến Tứ thiền, đó là tịch tịnh thù
thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái
lạc tịch tịnh, rồi từ Tam thiền hướng đến Tứ thiền, đó là tịch tịnh thù
thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không mất định.
Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy với lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu vốn có cũng đã diệt, không khổ,
không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị
ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Tứ thiền hướng đến Vô
lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như
vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Tứ thiền
hướng đến Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như
thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không làm mất định. Hành thiền như vậy là
xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không tư duy bất
cứ loại tưởng nào, nhập vô lượng không, chứng, Vô lượng không xứ ấy, thành
tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Vô
lượng không xứ hướng đến Vô lượng thức xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Vị
hành thiền ấy bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch
tịnh, rồi từ Vô lượng không xứ hướng đến Vô lượng thức xứ, đó là tịch tịnh
thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không mất định.
Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy vượt qua Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, chứng Vô lượng
thức xứ ấy, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc
tịch tịnh, rồi từ Vô lượng thức xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là tịch tịnh
thù thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy,
khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Vô lượng thức xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là
tịch tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không
mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành
thiền ấy vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, chứng Vô sở hữu
xứ, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh,
rồi từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, đó là tịch
tịnh thù thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư
duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi hữu tưởng phi
vô tưởng xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi bèn biết
rõ tâm ấy mà không làm mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết
như thật là xí thạnh.
“Thế gian quả thật
có bốn loại hành thiền, vì vậy mà Ta giảng thuyết”.
Phật thuyết như
vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 14
172
|
173
|
174
|
175
|
176
|
177
|
178
|
179
|
180
|
181
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003