SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 14
PHẨM TÂM
175. KINH THỌ PHÁP (II)[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du
hóa tại Câu-lâu-sấu, ở tại đô ấp Kiếm-ma-sắt-đàm.
Bấy giờ, Thế Tôn nói
với các Tỳ-kheo rằng:
“Thế gian này có ham
muốn như vầy, ước vọng như vầy, yêu thích như vầy, vui sướng như vầy và ý
hướng như vầy, ‘Mong sao các pháp không đáng thích, không đáng yêu, không
vừa ý tiêu diệt; và các pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý
tiêu diệt sanh ra’. Nó ham muốn như vầy, ước vọng như vầy, yêu thích như
vầy, vui sướng như vầy và ý hướng như vầy như vậy. Song, pháp không đáng
thích, không đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu,
đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp ngu si. Pháp của Ta rất là sâu xa, khó
thấy, khó giác ngộ, khó thông đạt. Như vậy, pháp của Ta rất sâu xa, khó
thấy, khó giác ngộ, khó thông đạt, là pháp không đáng thích, không đáng
yêu, không vừa ý tiêu diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý được
sanh. Đó là pháp không ngu si.
“Thế gian này chân
thật có bốn thọ pháp. Những gì là bốn? Hoặc có thọ pháp hiện tại lạc mà
tương lai thọ quả báo khổ. Hoặc có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai thọ
quả báo lạc. Hoặc có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai cũng thọ quả báo
khổ. Hoặc có thọ pháp hiện tại lạc mà tương lai cũng thọ báo lạc.
“Thế nào là pháp thọ
hiện tại lạc mà tương lai chịu quả báo khổ? Hoặc có một người tự mình vui
sướng, tự mình vui thích trong việc sát sanh. Do nhân sát sanh mà sanh
lạc, sanh hỷ. Người đó tự mình, vui sướng, tự mình vui thích trong việc
lấy của không cho, nói láo, cho đến tà kiến, nhân nơi tà kiến mà sanh lạc,
sanh hỷ. Như vậy, thân lạc, tâm lạc, bất thiện, từ bất thiện mà sanh ra,
không hướng đến trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn.
“Đó là thọ pháp hiện
tại lạc, tương lai chịu quả báo khổ.
“Sao gọi là thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai được quả báo lạc? Hoặc có
người tự mình khổ, tự mình ưu, đoạn trừ việc sát sanh, do sự đoạn trừ việc
sát hại mà sanh khổ, sanh ưu, người đó tự khổ, tự ưu; đoạn trừ việc lấy
của không cho, tà dâm, nói láo, cho đến đoạn trừ tà kiến, do đoạn tà kiến
mà sanh khổ sanh ưu. Như vậy, thân khổ, tâm khổ, thiện sanh, hướng đến
trí, hướng đến giác, hướng đến Niết-bàn.
“Đó là thọ pháp hiện
tại khổ mà tương lai thọ đặng quả báo lạc.
“Sao gọi là thọ pháp
hiện tại khổ mà tương lai cũng thọ quả báo khổ? Hoặc có người tự khổ, tự
ưu và sát sanh, do sát sanh mà khổ, sanh ưu. Người đó tự khổ, tự ưu và lấy
của không cho, tà dâm, nói láo, cho đến tà kiến mà sanh khổ, sanh ưu. Như
vậy, thân khổ, tâm khổ, bất thiện từ bất thiện mà sanh, không hướng đến
giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn.
“Đó gọi là pháp hiện
tại khổ mà tương lai cũng phải thọ quả báo khổ.
“Sao gọi là thọ pháp
hiện tại an vui mà tương lai cũng thọ quả báo an vui? Hoặc có người tự
mình vui sướng, tự mình vui thích, đoạn trừ sát sanh, do đoạn trừ sát sanh
mà sanh lạc, sanh hỷ. Người ấy tự mình vui sướng, tự mình vui thích, đoạn
trừ lấy của không cho, tà dâm, nói láo, cho đến tà kiến. Do đoạn trừ tà
kiến cho nên sanh lạc, sanh hỷ. Như vậy, thân lạc và tâm lạc từ thiện mà
sanh, hướng đến trí, hướng đến giác, hướng đến Niết-bàn.
“Như thế gọi là thọ
pháp hiện tại lạc mà tương lai cũng thọ quả báo lạc.
“Hoặc có thọ pháp
hiện tại lạc, tương lai thọ quả báo khổ, nhưng người kia do ngu si chẳng
biết như thật rằng thọ pháp ấy hiện tại lạc, nhưng tương lai chịu lấy khổ
báo. Do không biết như thật nên tập hành không đoạn trừ.
Sau khi tập hành không đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu,
không vừa ý sanh; pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý tiêu
diệt. Cũng như thuốc A-ma-ni-dược,
một phần có sắc, có hương, có vị, nhưng có trộn chất độc; hoặc có người bị
bệnh nên uống, khi uống thì sắc, hương và vị ngon miệng mà không tổn hại
cổ họng, nhưng khi uống xong, vào trong bụng rồi lại chẳng thành thuốc.
Cũng vậy, thọ pháp này hiện tại lạc mà tương lai phải chịu lấy quả báo
khổ. Người kia ngu si không biết như thật rằng pháp thọ này hiện tại lạc
mà tương lai phải chịu quả báo khổ. Khi đã không biết như thật liền tập
hành không đoạn trừ. Sau khi tập hành không đoạn trừ, pháp không đáng
thích, không đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu,
đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp ngu si.
“Nếu có thọ pháp
hiện tại khổ mà tương lai chịu quả báo lạc, song người ấy ngu si không
biết như thật rằng thọ pháp này hiện tại khổ mà tương lai sẽ được quả báo
an lạc. Khi đã không biết như thật liền không tập hành đoạn trừ. Sau khi
không tập hành đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa
ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp
ngu si.
“Hoặc có thọ pháp
hiện tại khổ mà tương lai cũng chịu quả báo khổ, song người ngu si không
biết như thật rằng thọ pháp này hiện tại khổ, tương lai cũng chịu quả báo
khổ. Khi đã không biết như thật, liền tập hành không đoạn trừ. Khi đã tập
hành không đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý
lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại diệt.
“Cũng như đại tiểu tiện
lại trộn lẫn độc, hoặc có người bị bệnh cho nên uống. Khi uống thì nhơ
nhớp, hôi thối, không có mùi vị, không ngon miệng mà lại tổn thương cuống
họng, uống vào trong bụng lại chẳng thành thuốc. Cũng vậy, pháp thọ này
hiện tại khổ, tương lai cũng chịu quả báo khổ. Người kia ngu si không biết
như thật rằng pháp thọ này hiện tại khổ, tương lai cũng chịu quả báo khổ.
Đã không biết như thật, bèn tập hành sự không đoạn trừ. Do tập hành sự
không đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý lại
sanh; pháp đáng thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp ngu
si.
“Hoặc có thọ pháp
hiện tại lạc, tương lai cũng thọ quả báo lạc, nhưng người kia ngu si không
biết như thật rằng pháp thọ này hiện tại lạc mà tương lai cũng thọ báo
lạc. Do không biết như thật nên không tập hành sự đoạn trừ. Do không tập
hành sự đoạn trừ nên, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý
lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp
ngu si.
“Người kia không
biết như thật pháp nào nên tập hành, không biết như thật pháp nào không
nên tập hành. Do không biết như thật pháp nào không nên tập hành và không
biết như thật pháp nào nên tập hành, do đó pháp không nên tập hành lại tập
hành, pháp nên hành lại không hành. Do tập hành pháp không nên tập hành và
không tập hành pháp nên tập hành, pháp không đáng thích, không đáng yêu,
không vừa ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại diệt. Đó
gọi là pháp ngu si.
“Nếu có thọ pháp
hiện tại lạc mà tương lai thọ quả báo khổ, người có trí tuệ biết như thật
rằng pháp thọ này hiện tại lạc mà tương lai thọ quả báo khổ. Do biết như
thật nên không tập hành nó, mà đoạn trừ nó. Do không tập hành nhưng đoạn
trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng
thích đáng yêu, đáng vừa ý sanh. Đó gọi là pháp tuệ.
“Nếu có thọ pháp
hiện tại khổ mà tương lai thọ quả báo lạc, người có trí tuệ biết như thật
rằng thọ pháp này hiện tại khổ nhưng tương lai lại được quả báo lạc. Do
biết như thật, vị ấy tập hành nó mà không đoạn trừ. Do tập hành mà không
đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp
đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý sanh.
“Cũng như đại tiểu
tiện
có hòa với nhiều thứ thuốc, hoặc có người bị bệnh uống; khi uống, sắc xấu,
hôi thối, không mùi vị, không ngon miệng mà hại đau cuống họng, nhưng uống
vào trong bụng lại thành thuốc. Cũng vậy, thọ pháp này hiện tại khổ mà
tương lai thọ quả báo lạc, người trí tuệ biết như thật rằng thọ pháp này
hiện tại khổ mà tương lai thọ quả báo lạc. Do biết như thật, vị ấy tập
hành nó mà không đoạn trừ. Do tập hành mà không đoạn trừ, pháp không đáng
thích, không đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng
vừa ý sanh. Đó gọi là pháp tuệ.
“Hoặc có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai cũng chịu quả báo khổ, người
có trí tuệ biết như thật rằng thọ pháp này hiện tại khổ mà tương lai cũng
chịu quả báo khổ. Do trí biết như thật, vị ấy không tập hành nó, nhưng
đoạn trừ. Do không tập hành nó nhưng đoạn trừ, pháp không đáng thích,
không đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý
sanh. Đó gọi là pháp tuệ.
“Hoặc có thọ pháp
hiện tại lạc, tương lai thọ quả báo lạc, người trí tuệ biết như thật rằng
thọ pháp này hiện tại lạc, tương lai thọ quả báo lạc. Do biết như thật, vị
ấy tập hành chứ không đoạn trừ. Do tập hành chứ không đoạn trừ, pháp không
đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu,
đáng vừa ý sanh. Đó gọi là pháp tuệ.
“Cũng như tô mật hòa với nhiều thứ thuốc, hoặc có người bị bệnh nên uống,
khi uống có sắc đẹp, có hương, có vị, ngon miệng mà không tổn thương cuống
họng, uống vào bụng lại thành thuốc. Cũng vậy, pháp thọ này hiện tại lạc,
tương lai thọ quả báo lạc. Người trí tuệ biết một cách như thật rằng pháp
thọ này hiện tại lạc, tương lai cũng thọ quả báo lạc. Do biết như thật, vị
ấy tập hành chứ không đoạn trừ; pháp không đáng thích, không đáng yêu,
không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý sanh. Đó gọi là
pháp tuệ.
“Người đó biết như thật rằng, đây là pháp nên tập hành, biết như thật rằng
đây là pháp không nên tập hành. Do biết như thật pháp nào nên tập hành và
pháp nào không nên tập hành, vị ấy tập hành pháp nên tập hành, không tập
hành pháp không nên tập hành. Do tập hành pháp nên tập hành và không nên
tập hành pháp không nên tập hành, pháp không đáng thích, không đáng yêu,
không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý sanh. Đó gọi là
pháp tuệ.
“Thế gian quả thật
có bốn thọ pháp ấy, vì vậy mà Ta giảng thuyết”.
Phật thuyết như vậy,
các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 14
172
|
173
|
174
|
175
|
176
|
177
|
178
|
179
|
180
|
181
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003