SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 13
PHẨM CĂN BỔN PHÂN
BIỆT
171. KINH PHÂN BIỆT ĐẠI NGHIỆP[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại thành Vương xá, trú trong Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà.
Bấy giờ, Tôn giả
Tam-di-đề
cũng trú ở thành Vương xá, trong thiền thất Vô sự. Lúc ấy, dị học Bộ-la-đà
Tử
sau giờ trưa, ung dung đi đến chỗ Tôn giả Tam-di-đề, cùng chào hỏi rồi lui
ngồi xuống một bên và hỏi:
“Này Hiền giả
Tam-di-đề, tôi có điều muốn hỏi, ngài cho phép chăng?”
Tôn giả Tam-di-đề
đáp:
“Hiền giả Bộ-la-đà
Tử, muốn hỏi cứ hỏi. Tôi nghe xong sẽ suy nghĩ”.
Dị học Bộ-la-đà Tử
bèn hỏi:
“Này Hiền giả
Tam-di-đề, tôi trực tiếp nghe từ Sa-môn Cù-đàm, tôi trực tiếp nhận từ
Sa-môn Cù-đàm, rằng ‘Thân nghiệp, khẩu nghiệp là hư vọng. Chỉ có ý nghiệp
là chơn thật. Có một loại định, Tỳ-kheo vào định đó không còn hay biết
gì’”.
Tôn giả Tam-di-đề
đáp:
“Hiền giả Bộ-la-đà
Tử, chớ có nói như vậy, chớ có hủy báng Đức Thế Tôn. Hủy báng Thế Tôn là
bất thiện. Thế Tôn không nói như vậy.
“Hiền giả Bộ-la-đà
Tử, Đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói rằng ‘Nếu cố ý tạo tác
nghiệp,
khi tác đã thành, Ta nói không có việc không thọ báo, hoặc hiện tại thọ
báo, hoặc đời sau thọ báo. Nếu không cố ý tạo tác nghiệp, khi tác đã
thành, Ta không nói chắc chắn phải thọ báo’”.
Dị học Bộ-la-đà Tử
ba lần nhắc lại câu ấy với Tôn giả Tam-di-đề rằng:
“Này Hiền giả
Tam-di-đề, tôi trực tiếp nghe từ Sa-môn Cù-đàm, tôi trực tiếp nhận từ
Sa-môn Cù-đàm, rằng ‘Thân nghiệp, khẩu nghiệp là hư vọng. Chỉ có ý nghiệp
là chơn thật. Có một loại định, Tỳ-kheo vào định đó không còn hay biết
gì’.”
Tôn giả Tam-di-đề
cũng ba lần đáp:
“Hiền giả Bộ-la-đà
Tử, chớ có nói như vậy, chó có hủy báng Đức Thế Tôn. Hủy báng Thế Tôn là
bất thiện. Thế Tôn không nói như vậy.
“Hiền giả Bộ-la-đà
Tử, Đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói rằng ‘Nếu cố ý tạo tác
nghiệp, khi tác đã thành, Ta nói không có việc không thọ báo, hoặc hiện
tại thọ báo, hoặc đời sau thọ báo. Nếu không cố ý tạo tác nghiệp, khi tác
đã thành, Ta không nói chắc chắn phải thọ báo’”.
Dị học Bộ-la-đà Tử
hỏi Tôn giả Tam-di-đề:
“Nếu cố ý tạo tác nghiệp, khi tác nghiệp đã thành, phải thọ báo gì?”
Tôn giả Tam-di-đề
đáp:
“Hiền giả Bộ-la-đà
Tử, nếu cố ý tạo tác nghiệp, khi tác nghiệp đã thành, tất thọ báo khổ”.
Dị học Bộ-la-đà Tử
lại hỏi:
“Này Hiền giả
Tam-di-đề, ông học đạo trong pháp luật này bao lâu rồi?”
Tôn giả Tam-di-đề
đáp rằng:
“Hiền giả Bộ-la-đà
Tử, tôi học đạo trong pháp luật này mới có ba năm”.
Lúc ấy, dị học
Bộ-la-đà Tử bèn suy nghĩ rằng: “Tỳ-kheo niên thiếu mà vẫn có thể bảo hộ
Tôn sư như vậy, huống nữa là vị Thượng tọa cựu học.”
Rồi thì dị học Bộ-la-đà Tử nghe Tôn giả Tam-di-đề nói, không cho là phải,
cũng không cho là quấy, rời chỗ ngồi, lắc đầu mà đi.
Lúc bấy giờ Tôn giả
Đại Châu-na,
đang ở cách chỗ nghỉ ngày của Tôn giả Tam-di-đề không xa. Tôn giả Đại
Châu-na nghe cuộc đối thoại giữa Tôn giả Tam-di-đề và dị học Bộ-la-đà Tử,
ghi nhớ tất cả, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Tôn giả A-nan, cùng chào
hỏi xong rồi ngồi xuống một bên và mang những lời đối thoại giữa Tôn giả
Tam-di-đề và dị học Bộ-la-đà Tử thuật lại hết cho Tôn giả A-nan nghe.
Tôn giả A-nan nghe
xong bảo rằng:
“Này Hiền giả
Châu-na, nhơn câu chuyện này, chúng ta nên đến gặp Đức Phật và trình bày
lên Thế Tôn. Hiền giả Châu-na, chúng ta hãy cùng đến nơi Thế Tôn và bạch
lên Thế Tôn tất cả nghĩa này. Hoặc nhơn đây, chúng ta được nghe những pháp
nào khác của Thế Tôn”.
Rồi Tôn giả A-nan và
Tôn giả Đại Châu-na cùng đi đến chỗ Phật. Tôn giả Đại Châu-na cúi đầu đảnh
lễ sát chân Phật, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả A-nan cúi đầu làm lễ sát
chân Phật rồi đứng qua một bên.
Lúc đó, Tôn giả
A-nan nói rằng:
“Này Hiền giả Châu-na, Hiền giả nên nói đi! Hiền giả nên nói đi!”
Bấy giờ Thế Tôn hỏi:
“Này A-nan, Tỳ-kheo
Châu-na muốn nói sự gì?”
Tôn giả A-nan thưa:
“Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn sẽ tự nghe hết câu chuyện”.
“Rôi thì Tôn giả Đại
Châu-na thuật lại đầu đuôi cuộc đối thoại giữa Tôn giả Tam-di-đề và dị học
Bộ-la-đà Tử cho Phật nghe. Nghe xong, Thế Tôn bảo rằng:
“Này A-nan, hãy xem
Tỳ-kheo Tam-di-đề người si, không đạo lý gì. Vì sao? Vấn đề dị Bộ-la-đà Tử
hỏi là bất định
mà Tỳ-kheo Tam-di-đề, người ngu si kia chỉ trả lời theo nhất hướng đáp.”
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, nếu
Tỳ-kheo Tam-di-đề nhơn việc này trả lời rằng ‘Nhữøng gì được cảm thọ đều
là khổ’ thì có lỗi gì?”
Đức Thế Tôn quở Tôn
giả A-nan:
“Hãy xem Tỳ-kheo
A-nan cũng không có đạo lý gì cả. A-nan, kẻ ngu si Tam-di-đề này, dị học
Bộ-la-đà Tử kia hỏi tất cả ba cảm thọ, khổ thọ, lạc thọ và không khổ không
lạc thọ. A-nan, nếu kẻ ngu si Tam-di-đề được dị học Bộ-la-đà Tử hỏi, nên
đáp như vầy, ‘Này Hiền giả Bộ-la-đà Tử, nếu cố ý tạo nghiệp an lạc, khi
tác đã thành sẽ thọ quả báo an lạc. Nếu cố ý tạo nghiệp khổ, khi tác đã
thành, sẽ thọ quả báo khổ. Nếu cố ý tạo nghiệp không khổ không lạc, khi
tác đã thành rồi sẽ thọ quả báo không khổ không lạc’. Này A-nan, nếu kẻ
ngu si Tam-di-đề được dị học Bộ-la-đà Tử hỏi và đáp như vậy thì dị học
Bộ-la-đà Tử mắt còn không dám nhìn Tam-di-đề ngu si ấy, huống nữa lại có
thể hỏi đến chuyện như vậy chăng?
“Này A-nan, nếu ngươi từ Thế Tôn mà nghe kinh ‘Phân biệt đại nghiệp’, thì
đối với Như Lai lại càng tăng thượng tâm tĩnh, được hoan hỷ”.
Bấy giờ, Tôn giả
A-nan chấp tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, nay
thật đúng lúc. Bạch Thiện Thệ, nay thật đúng lúc. Nếu Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo nói kinh ‘Phân Biệt Đại Nghiệp’, các Tỳ-kheo nghe xong sẽ ghi nhớ
kỹ”.
Thế Tôn bảo:
“Này A-nan, hãy lắng
nghe, hãy suy nghĩ kỹ, Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho ngươi nghe”.
Tôn giả A-nan thưa:
“Kính vâng, bạch Thế
Tôn”.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo
vâng lời dạy, lắng nghe.
Phật nói:
“Này A-nan, hoặc có
một người không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ
tà dâm, không từ bỏ nói dối,... cho đến không từ bỏ tà kiến. Với sự không
xả ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về chỗ lành, sanh lên
trời. Này A-nan, hoặc có một người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không
cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho đến từ bỏ tà kiến. Với sự xả ly, sự
thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về chỗ ác, trong địa ngục.
“Này A-nan, hoặc có
một người không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ
tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến. Với sự không xả
ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về chỗ ác, trong địa ngục.
Này A-nan, hoặc có một người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ
bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho đến từ bỏ tà kiến. Với sự xả ly và thủ hộ
này, thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, trong cõi trời.
“Này A-nan, nếu có
một người không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ
tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không xả
ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung, người ấy sanh về chốn lành,
trong cõi trời. Nếu có vị Sa-môn, Phạm chí chứng được thiên nhãn, thành
tựu thiên nhãn mà thấy người kia, thấy rồi bèn tự suy nghĩ rằng, ‘Không có
thân ác hành, cũng không có quả báo của thân ác hành. Không có khẩu và ý
ác hành, cũng không có quả báo của khẩu và ý ác hành. Vì sao? Ta thấy
người kia không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ sự lấy của không cho, không từ
bỏ tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không
xả ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về cõi lành, trong cõi
trời. Nếu có những trường hợp khác cũng tương tự như vậy, không từ bỏ sát
sanh, không từ bỏ không cho mà lấy, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói
dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không xả ly, không thủ hộ này,
kia tất cả khi thân hoại mạng chung nhất định sanh về cõi lành, trong cõi
trời. Ai thấy như vậy gọi là chánh kiến. Ai thấy khác đi, trí họ đi về nẻo
tà’. Bất cứ sở tri và sở kiến nào được cực lực mò mẫm, dều chủ trương theo
một chiều rằng ‘Đây mới là chân thật, ngoài ra đều hư dối’.
“Này A-nan, nếu có
một người từ bỏ sát sanh, từ bỏ không cho mà lấy, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói
dối, cho đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này, thân hoại mạng chung
sanh về chốn ác, sanh trong địa ngục. Nếu có Sa-môn, Phạm chí chứng được
thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn mà thấy người kia, thấy rồi bèn tự suy
nghĩ rằng: “Không có thân diệu hạnh, không có quả báo của thân diệu hạnh,
không có khẩu và ý diệu hạnh, cũng không có quả báo của khẩu và ý diệu
hạnh’. Vì sao? Ta thấy người kia từ bỏ sát sanh, từ bỏ sự lấy của không
cho từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly
thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về chốn ác, sanh trong địa ngục. Nếu
có những trường hợp khác cũng tương tự như vậy, từ bỏ sát sanh, từ bỏ
không cho mà lấy, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho đến từ bỏ tà kiến; với
sự xả ly, thủ hộ này, kia tất cả khi thân hoại mạng chung nhất định sanh
về chốn ác, sanh trong địa ngục. Ai thấy như vậy gọi là chánh kiến. Ai
thấy khác đi, trí họ đi về nẻo tà’. Bất cứ sở tri và sở kiến nào được cực
lực mò mẫm, đều chủ trương theo một chiều rằng ‘Đây mới là chân thật,
ngoài ra đều hư dối’.
“Này A-nan, nếu có
một người không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ không cho mà lấy, không từ bỏ
tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không xả
ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về chốn ác, sanh trong địa
ngục. Nếu có Sa-môn, Phạm chí chứng được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn
mà thấy người kia, thấy rồi bèn tự suy nghĩ: ‘Có thân ác hạnh, có quả báo
của thân ác hạnh, có khẩu và ý ác hạnh, cũng không có quả báo của khẩu và
ý ác hạnh’. Vì sao? Ta thấy kẻ kia không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ không
cho mà lấy, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ
tà kiến; với sự không xả ly, không thủ hộ này, kia tất cả khi thân hoại
mạng chung nhất định sanh về chốn ác, sanh trong địa ngục. Ai thấy như vậy
gọi là chánh kiến; thấy khác đi, trí họ đi về nẻo tà’. Bất cứ sở tri và sở
kiến nào được cực lực mò mẫm, đều chủ trương theo một chiều rằng: ‘Đây mới
là chân thật, ngoài ra đều hư dối.’
“Này A-nan, nếu có
một người từ bỏ sát sanh, từ bỏ không cho mà lấy, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói
dối, cho đến từ bỏ tà kiến. Với sự xả ly, thủ hộ này, thân hoại mạng chung
sanh về chốn lành, sanh trong cõi trời. Nếu có Sa-môn, Phạm chí chứng được
thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn mà thấy người kia, thấy rồi bèn tự suy
nghĩ: ‘Có thân diệu hạnh, cũng có quả báo của thân diệu hạnh; có khẩu và ý
diệu hạnh, cũng có quả báo của khẩu và ý diệu hạnh. Vì sao? Ta thấy kẻ kia
từ bỏ sát sanh, từ bỏ không cho mà lấy, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho
đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này, khi thân hoại mạng chung nhất
định sanh về chốn lành, sanh trong cõi trời. Nếu lại có trường hợp khác
tương tợ như vậy, từ bỏ sát sanh, từ bỏ không cho mà lấy, từ bỏ tà dâm, từ
bỏ nói dối, cho đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này, tất cả những
người ấy khi thân hoại mạng chung nhất định sẽ sanh về nẻo lành, sanh
trong cõi trời. Ai thấy như vậy gọi là chánh kiến; thấy khác đi, trí họ đi
về nẻo tà’. Bất cứ sở tri và sở kiến nào được cực lực mò mẫm, chủ trương
theo một chiều rằng: ‘Đây mới là chân thật, ngoài ra đều hư dối’.
“Này A-nan, ở trong
đó, nếu vị Sa-môn, Phạm chí chứng được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn,
nói như thế này, ‘Không có thân ác hành, không có quả báo của thân ác
hành. Không có khẩu, ý ác hành, không có quả báo của khẩu và ý ác hành’.
Ta không theo vị ấy. Nếu vị ấy nói như thế này, ‘Ta thấy người kia không
từ bỏ sát sanh, không từ bỏ không cho mà lấy, không từ bỏ tà dâm, không từ
bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không xả ly, không thủ hộ
này, thân hoại mạng chung sanh về chốn ác, sanh trong địa ngục’. Ta nghe
theo vị ấy. Nếu nói như vầy, ‘Nếu có những trường hợp khác tương tợ như
vậy, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ không cho mà lấy, không từ bỏ tà
dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không xả ly,
không thủ hộ này, tất cả những người ấy khi thân hoại mạng chung sanh về
chỗ lành, sanh lên trời’. Ta không nghe theo vị ấy. Nếu có ai nói như vầy,
‘Thấy như vậy mới là chánh kiến, thấy khác là kẻ có trí tà’. Ta không nghe
theo họ. Bất cứ sở tri và sở kiến nào được cực lực mò mẫm, chủ trương theo
một chiều rằng ‘Đây mới là chân thật, ngoài ra đều hư dối.’ Ta cũng không
nghe họ. Vì sao? Này A-nan, Như Lai biết những người đó là trường hợp
khác.
“Này A-nan, trong đó
có Sa-môn, Phạm chí chứng được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn, nói thế
này, ‘Không có thân diệu hạnh, cũng không có quả báo của thân diệu hạnh;
không có khẩu, ý diệu hạnh, cũng không có quả báo của khẩu và ý diệu
hạnh’. Ta không nghe theo vị ấy. Nếu nói thế này, ‘Ta thấy người kia từ bỏ
sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho đến từ
bỏ tà kiến. Với sự xả ly, thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về nẻo ác,
sanh trong địa ngục’. Ta nghe theo
vị ấy. Nếu có ai nói thế này, ‘Có những trường hợp khác tương tợ như vầy,
từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho
đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này, tất cả những người ấy khi
thân hoại mạng chung sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục’. Ta không nghe
theo họ.
Nếu kia lại nói thế này, ‘Thấy như vậy mới là chánh kiến, thấy khác là kẻ
có trí tà’. Ta cũng không nghe họ. Bất cứ sở tri và sở kiến nào được cực
lực mò mẫm, chủ trương theo một chiều rằng ‘Đây mới là chân thật, ngoài ra
đều hư dối.’ Ta cũng không nghe họ. Vì sao? Này A-nan, Như Lai biết những
người đó là trường hợp khác.
“Này A-nan, trong đó
nếu có Sa-môn, Phạm chí chứng được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn, nói
như vầy, ‘Có thân ác hạnh, cũng có quả báo của thân ác hạnh. Có khẩu, ý ác
hạnh, cũng có quả báo của khẩu và ý ác hạnh’. Ta nghe theo vị ấy. Nếu kia
nói như thế này, ‘Ta thấy người kia không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy
của không cho, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ
bỏ tà kiến. Với sự không xả ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung
sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục’. Ta nghe theo vị ấy. Nếu nói thế này,
‘Những trường hợp tương tợ như vậy, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy
của không cho, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ
bỏ tà kiến; với sự không xả ly, không thủ hộ này, tất cả những người ấy
khi thân hoại mạng chung sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục’. Ta không
nghe theo họ. Nếu kia lại nói thế này, ‘Thấy như vậy mới là chánh kiến,
thấy khác là kẻ có trí tà’. Ta cũng không nghe họ. Bất cứ sở tri và sở
kiến nào được cực lực mò mẫm, chủ trương theo một chiều rằng ‘Đây mới là
chân thật, ngoài ra đều hư dối’. Ta cũng không nghe họ. Vì sao? Này A-nan,
Như Lai biết những người đó là trường hợp khác.
“Này A-nan, trong đó nếu có Sa-môn, Phạm chí chứng được thiên nhãn, thành
tựu thiên nhãn, nói như thế này, ‘Có thân diệu hạnh, cũng có quả báo của
thân diệu hạnh; có khẩu, ý diệu hạnh, cũng có quả báo của khẩu và ý diệu
hạnh’. Ta nghe theo vị ấy. Nếu nói như vầy, ‘Ta thấy người kia từ bỏ sát
sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho đến từ bỏ
tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về chốn lành,
sanh trong cõi trời’. Ta nghe theo họ. Nếu nói như vầy, ‘Nếu có những
trường hợp tương tợ như vầy, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ
bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này,
tất cả những người ấy khi thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, sanh
trong cõi trời’. Ta không nghe theo họ. Nếu kia lại nói thế này, ‘Thấy như
vậy mới là chánh kiến, thấy khác là kẻ có trí tà’. Ta cũng không nghe họ.
Bất cứ sở tri và sở kiến nào được cực lực mò mẫm, chủ trương theo một
chiều rằng ‘Đây mới là chân thật, ngoài ra đều hư dối.’ Ta cũng không nghe
họ. Vì sao? Này A-nan, Như Lai biết những người đó là trường hợp khác.
“Này A-nan, nếu có
một người không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ
tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không xả
ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, sanh trong
cõi trời. Ấy là, nếu trước kia nó đã tạo tác nghiệp bất thiện, tác đã
thành rồi, do sự không xả ly, không thủ hộ, cho nên ở trong đời hiện tại
thọ báo xong, họ sanh về nơi đó.
Hoặc do hậu báo cho nên người kia không vì nhơn này, không vì duyên này mà
thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, sanh trong cõi trời. Hoặc trước
kia đã tạo tác nghiệp thiện, tác đã thành rồi, do xả ly và thủ hộ nên chưa
tiêu hết, cần phải được thọ báo ở chốn lành; kia do nhơn này, duyên này
cho nên thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, sanh trong cõi trời. Hoặc
khi chết khởi các tâm, và tâm sở hữu pháp thuộc thiện
tương ưng với chánh kiến; kia nhờ nhơn này, duyên này, thân hoại mạng
chung sanh về chốn lành, sanh trong cõi trời. A-nan, Như Lai biết người
kia là như vậy.
“Này A-nan, nếu có
một người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói
dối, cho đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này, thân hoại mạng chung
sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục. Nếu trước kia họ đã tạo tác nghiệp
thiện, tác đã thành rồi, do sự xả ly, thủ hộ cho nên ở trong đời hiện tại
họ thọ báo xong, cho nên sanh về nơi đó. Hoặc do bởi hậu báo cho nên họ
không vì nhơn này, duyên này mà thân hoại mạng chung sanh về nẻo ác, sanh
trong địa ngục. Hoặc trước kia đã tạo tác nghiệp bất thiện, tác đã thành
rồi, do không xả ly và không thủ hộ nên chưa tiêu hết, phải thọ báo ở địa
ngục; họ do nhơn này, duyên này cho nên thân hoại mạng chung sanh về nẻo
ác, sanh trong địa ngục. Hoặc khi chết sanh tâm và các tâm sở hữu pháp bất
thiện tương ưng với tà kiến, do nhơn này, duyên này, thân hoại mạng chung
sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục. A-nan, Như Lai biết người kia là như
vậy.
“Này A-nan, nếu có
một người không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ
tà dâm, không từ bỏ nói dối, cho đến không từ bỏ tà kiến; với sự không xả
ly, không thủ hộ này, thân hoại mạng chung sanh về nẻo ác, sanh trong địa
ngục. Kia do chính nhơn này, duyên này thân hoại mạng chung sanh về nẻo
ác, sanh trong địa ngục. Hoặc trước kia đã tạo tác nghiệp bất thiện, tác
đã thành rồi, do sự không xả ly, không thủ hộ mà chưa tiêu hết, nên phải
thọ báo ở địa ngục; kia do nhơn này, duyên này cho nên thân hoại mạng
chung sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục. Hoặc khi chết sanh các tâm và
tâm sở hữu pháp bất thiện tương ưng với tà kiến, kia do nhơn này, duyên
này, thân hoại mạng chung sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục. A-nan, Như
Lai biết người kia là như vậy.
“Này A-nan, nếu có một người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ
bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, cho đến từ bỏ tà kiến; với sự xả ly, thủ hộ này,
thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, sanh trong cõi trời. Kia nhờ chính
nhơn này, duyên này thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, sanh trong cõi
trời. Hoặc trước kia đã tạo tác nghiệp thiện, tác đã thành rồi, nhờ có xả
ly, có thủ hộ mà chưa tiêu hết, phải được thọ báo thiện; kia nhờ nhơn này,
duyên này cho nên thân hoại mạng chung sanh về chốn lành, sanh trong cõi
trời. Hoặc đến lúc chết sanh các tâm và tâm sở hữu pháp thiện tương ưng
với chánh kiến, kia do nhơn này, duyên này, thân hoại mạng chung sanh về
chốn lành, sanh trong cõi trời. A-nan, Như Lai biết người kia là như vậy.
“Lại nữa, có bốn
hạng người. Hoặc có người không có mà tợ như có. Hoặc có mà tợ như không
có. Hoặc không có tợ như không có. Hoặc có tợ như có.
“Này A-nan, cũng như
có bốn loại xoài. Hoặc xoài không chín mà giống như chín. Hoặc chín giống
như không chín. Hoặc không chín giống như không chín. Hoặc chín giống như
chín.
“Cũng vâïy A-nan,
bốn thứ xoài được thí dụ với người. Hoặc có người không có mà tợ như có.
Hoặc có mà tợ như không có. Hoặc không có tợ như không có. Hoặc có tợ như
có”.
Phật thuyết như
vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng
hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 13
162
|
163
|
164
|
165
|
166
|
167
|
168
|
169
|
170
|
171
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003