SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 13
PHẨM CĂN BỔN PHÂN
BIỆT
169. KINH CÂU-LÂU-SẤU VÔ TRÁNH[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Bà-kì-sấu,
ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Nay Ta sẽ nói pháp
cho các ngươi nghe. Pháp ấy vi diệu ở phần đầu, vi diệu ở quảng giữa và
đoạn cuối cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện
phạm hạnh, gọi là kinh ‘Phân biệt vô tránh’. Các ngươi hãy lắng nghe và
suy nghĩ kỹ”.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo
vâng lời, lắng nghe.
Phật dạy:
“Đừng nên mong cầu
dục lạc,
là nghiệp vô cùng hèn hạ,
là hạnh của phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hạnh, rất khổ, không
phải Thánh hạnh, không tương ưng với nghĩa.
Xa lìa hai cực đoan này thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác thành trí
tự tại, tác thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn,
có tán thán và chỉ trích, có sự không tán thán và không chỉ trích mà nói
pháp, quyết định đúng mức
và sau khi đã biết quyết định, thường tùy cầu sự lạc nào đã có bên trong.
Đừng nói lời ám chỉ,
cũng đừng đối mặt khen ngợi; nói vừa phải chứ đừng quá giới hạn;
tùy theo phong tục địa phương,
đừng nói thị, đừng nói phi. Đó là những vấn đề của kinh ‘Phân biệt vô
tránh’.
“‘Đừng nên mong cầu dục lạc, là nghiệp vô cùng hèn hạ, là hạnh của phàm
phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hạnh, rất khổ, không tương ưng với cứu
cánh’. Vấn đề này được nói lên với nguyên nhân nào? Ở đây, ‘Đừng nên mong
cầu dục lạc, là nghiệp vô cùng hèn hạ, là hạnh của phàm phu’. Đây là nói
về một một cực đoan. ‘Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hạnh, rất khổ, không
tương ưng với nghĩa’. Đây là nói về một cực đoan nữa. Do bởi sự kiện này
mà nói ‘Đừng nên mong cầu dục lạc, là nghiệp vô cùng hèn hạ, là hạnh của
phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hạnh, rất khổ, không tương ưng
với nghĩa’.
“‘Xa lìa hai cực
đoan này thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác thành trí tự tại, tác
thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn’. Vấn đề này
được nói lên với những nguyên nhân nào? Ở đây, Thánh đạo tám chi, từ chánh
kiến cho đến chánh định, gọi là tám. Do bởi sự kiện này mà nói ‘Xa lìa hai
cực đoan này thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác thành trí tự tại,
tác thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn’.
“‘Có tán thán, có
chỉ tríùch và có sự không tán thán, không chỉ trích mà chỉ thuyết pháp’.
Vấn đề này được nói lên với nguyên nhân nào? Sao gọi là tán thán, sao gọi
là chỉ trích mà không nói pháp? ‘Nếu lạc có tương ưng với dục, cùng đi với
hỷ, là nghiệp rất hèn hạ, là hạnh của phàm phu; pháp này có khổ, có phiền
lao, có nhiệt não, có ưu sầu, tà hạnh. Vị ấy biết điều đó rồi, tự chỉ
trích mình.
Vì sao? Vì dục là vô thường, là khổ, là pháp hoại diệt. Do biết dục là vô
thường cho nên pháp ấy nhất thiết có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có
ưu sầu, tà hạnh’. Vị ấy đã biết điều này cho nên tự chỉ trích mình.
“‘Tự thân khổ hạnh,
rất khổ, không tương ưng với nghĩa. Pháp này có khổ, có phiền lao, có
nhiệt não, có ưu sầu, là tà hạnh’.Vị ấy biết điều đó rồi, tự chỉ trích
mình. Vì sao? Vì Sa-môn Phạm-chí kia sợ hãi sự khổ nên cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo.
Nhưng Sa-môn Pham-chí này lại ôm cái khổ này nữa, cho nên họ nhất thiết có
khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, tà hạnh. Vị ấy đã biết điều
này cho nên tự chỉ trích mình.
“‘Kết sử hữu
không được đoạn tận; pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu
sầu, là tà hạnh’. Vị ấy biết điều đó rồi, tự chỉ trích mình. Vì sao? Vì
nếu người nào kết sử hữu không đoạn tận thì sự hữu kia cũng không bị đoạn
tận, cho nên người đó nhất thiết có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, tà
hạnh. Vị ấy đã biết điều này cho nên tự chỉ trích mình.
“‘Kết sử hữu đã đoạn
tận; pháp này không có khổ, không phiền lao, không nhiệt não, không ưu
sầu, chánh hạnh’. Vị ấy đã biết điều này rồi, tự tán thán. Vì sao? Vì nếu
người nào kết sử hữu đoạn tận thì sự hữu kia cũng bị đoạn đận, cho nên
người đó nhất thiết không khổ, không phiền lao, không nhiệt não, không ưu
sầu, là chánh hạnh.Vị ấy đã biết điều đó, cho nên tự tán thán.
“‘Không mong cầu sự
lạc bên trong; pháp ấy có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, tà
hạnh’. Vị ấy biết điều này rồi, tự chỉ trích mình. Vì sao? Vì nếu người
nào không mong cầu sự lạc bên trong, cũng không cầu bên trong, cho nên
người đó nhất thiết có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, tà
hạnh. Vị ấy biết điều này rồi, tự chỉ trích mình.
“‘Mong cầu sự lạc
bên trong; pháp này không có khổ, không có phiền lao, không có nhiệt não,
không có ưu sầu, là chánh hạnh’. Vị ấy biết điều này rồi, tự tán thán. Vì
sao? Vì nếu người nào mong cầu sự lạc bên trong, thì cũng mong cầu bên
trong. Cho nên người đó không có khổ, không có phiền lao, không có nhiệt
não, không có ưu sầu, là chánh hạnh. Vị ấy biết điều đó cho nên tự tán
thán.
“Như vậy gọi là ‘Có
tán thán, có chỉ trích mà không thuyết pháp. Không tán thán, không chỉ
trích mà thuyết pháp’.
“Thế nào là ‘Không
tán thán, không chỉ trích mà thuyết pháp’? ‘Nếu có lạc tương ưng với dục,
cùng đi với hỷ, là nghiệp rất hèn hạ, là hạnh của phàm phu, thì pháp ấy có
khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, tà hạnh’. Vị ấy biết điều này
rồi liền thuyết pháp. Vì sao? Vị ấy không nói như vầy, ‘Dục là vô thường,
là khổ, là pháp hoại diệt’. Vị ấy đã biết dục là vô thường cho nên nhất
thiết pháp ấy có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, tà hạnh.
Không thấu đạt pháp này chỉ có pháp khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu
sầu, tà hạnh. Vị ấy biết điều đó cho nên thuyết pháp.
“‘Tự thân khổ hạnh,
rất khổ, không tương ưng với nghĩa; pháp này có khổ, có phiền lao, có
nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh’. Vị ấy biết điều này rồi, liền nói
pháp. Vì sao vậy? Vị ấy không nói như vầy, ‘Tự thân khổ hạnh, rất khổ,
không tương ưng với nghĩa; pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có
ưu sầu, thuộc về tà hạnh’. Không thấu đạt pháp này, chỉ có pháp khổ, có
phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh. Vị ấy biết điều đó
cho nên thuyết pháp’.
“‘Kết sử hữu không
được đoạn tận; pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, là
tà hạnh’. Vị ấy biết điều này rồi liền thuyết pháp. Vì sao vậy? Vị ấy
không nói như vầy, ‘Nếu người nào kết sử hữu không đoạn tận thì sự hữu kia
cũng không đoạn tận, cho nên người ấy nhất định phải khổ, có phiền lao, có
nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh’. Không thấu suốt pháp này, chỉ có
pháp khổ, có phiền lao, có nghiệt não, có buồn ràu, là tàn hành. Vị ấy đã
biết điều đó cho nên thuyết pháp.
“‘Kết sử hữu đã đoạn
tận; pháp này không có khổ, không phiền lao, không nhiệt não, không ưu
sầu, chánh hạnh’. Vị ấy đã biết điều này rồi, liền nói pháp. Vì sao? Vị ấy
không nói như vầy, ‘Nếu người nào kết sử hữu đã đoạn tận thì sự hữu kia
cũng đoạn tận, cho nên người ấy nhất thiết không có khổ, không có phiền
lao, không có nhiệt não, không có ưu sầu, thuộc về chánh hạnh’. Không thấu
đạt pháp này chỉ có pháp không khổ, không có phiền lao, không có nhiệt
não, không có ưu sầu, thuộc về chánh hạnh. Vị ấy biết điều đó cho nên
thuyết pháp.
“‘Không mong cầu sự
lạc bên trong; pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu,
thuộc về tà hạnh’. Vị ấy biết điều này rồi liền thuyết pháp. Vì sao vậy?
Vị ấy không nói như vầy, ‘Nếu người nào không mong cầu sự lạc bên trong
thì cũng không mong cầu bên trong, cho nên người ấy nhất thiết có khổ, có
phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh’. Không thấu đạt pháp
này, chỉ có pháp khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà
hạnh. Vị ấy biết điều đó cho nên thuyết pháp.
“‘Mong cầu sự lạc
bên trong; pháp này không có khổ, không có phiền lao, không có nhiệt não,
không có ưu sầu, thuộc về chánh hạnh’. Vị ấy biết điều này rồi liền thuyết
pháp. Vì sao vậy? Vị ấy không nói như vầy, ‘Nếu người nào có mong cầu sự
lạc bên trong, thì cũng mong cầu bên trong cho nên người đó nhất thiết
không có khổ, không có phiền lao, không có nhiệt não, không có ưu sầu,
thuộc về chánh hạnh’. Không thấu đạt pháp này, chỉ có pháp không khổ,
không có phiền lao, không có nhiệt não, không có ưu sầu, thuộc về chánh
hạnh. Vị ấy biết điều đó cho nên thuyết pháp.
“Như vậy là ‘không
tán thán, không chỉ trích mà thuyết pháp’. Vấn đề đó được nói với nguyên
nhân như vậy.
“‘Quyết định đúng
mức, và sau khi đã biết quyết định, hãy mong cầu sự lạc nào đã có bên
trong’. Vấn đề này được nói lên với nguyên nhân nào?
“Có sự lạc không
phải sự lạc của bậc Thánh, mà là lạc của phàm phu, là gốc của bệnh, là gốc
của ung nhọt, gốc của mũi tên châm chích, có thức ăn,
có sống chết, không đáng tu, không đáng tập, không đáng phát triển. Ta nói
điều ấy không đáng tu tập.
“Có sự lạc của bậc Thánh, là sự lạc của vô dục, sự lạc của ly dục, sự lạc
của tịch tĩnh, là lạc của chánh giác, không có thức ăn, không có sống
chết, nên tu, nên tập, nên phát triển. Ta nói điều ấy nên tu được vậy.
“Sao gọi là ‘Có sự
lạc không phải là Thánh lạc mà là phàm phu lạc, là gốc của bệnh, là gốc
của ung nhọt, gốc của mũi tên châm chích, có thức ăn, có sống chết, không
nên tu, không nên tập, không nên phát triển. Ta nói điều ấy không nên tu
tập’? Nếu do năm công đức của dục mà sanh hỷ, sanh lạc, thì sự lạc ấy là
lạc của phàm phu, không phải là lạc của bậc Thánh, là gốc của bệnh, là gốc
của ung nhọt, gốc của mũi tên châm chích, có thức ăn, có sống chết, không
nên tu, không nên tập, không nên phát triển. Ta nói điều ấy không nên tu
tập vậy.
“Sao gọi là ‘Có sự
lạc của bậc Thánh, là lạc của vô dục, là lạc của ly dục, lạc của tịch
tĩnh, là lạc của chánh giác, không có ăn, không có sống chết, nên tu nên
tập, nên phát triển. Ta nói điều ấy nên tu vậy’. Nếu có Tỳ-kheo nào ly
dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chứng đệ tứ thiền, thành tựu an trụ. Sự
lạc này là lạc của bậc Thánh, sự lạc của vô dục, là lạc của ly dục, lạc
của tịch tĩnh, là lạc của chánh giác, không có thức ăn, không có sống
chết, nên tu nên tập, nên phát triển. Ta nói điều ấy nên tu vậy.
“‘Quyết định đúng
mức, sau khi đã biết quyết định hãy mong cầu sự lạc nào đã có bên trong’.
Vấn đề này được nói lên với nguyên nhân như vậy.
“‘Không nên nói lời
ám chỉ, cũng không nên đối mặt tán thán’, vấn đề này được nói lên với
nguyên nhân nào?
“Có lời nói ám chỉ
mà không chân thật, hư dối, không tương ưng với nghĩa.
Cũng có lời nói ám chỉ mà chân thật, không hư vọng, tương ưng với nghĩa.
Trong này nếu có lời nói ám chỉ mà không chân thật, hư vọng, không tương
ưng với nghĩa, nhất định không nói những lời như vậy. Trong này nếu có lời
nói ám chỉ mà chân thật, không hư vọng, không tương ưng với cứu cánh, cũng
hãy học đừng nói như vậy. Ở đây nếu có lời nói ám chỉ chân thật, không hư
vọng, tương ưng với nghĩa thì hãy nên biết thời, chánh trí, chánh niệm để
cho thành tựu lời nói ấy.
“Như vậy, ‘Đừng nói
lời ám chỉ, cũng đừng đối mặt khen ngợi’, vấn đề này được nói lên với
nguyên nhân như vậy.
“‘Nói vừa phải, chứ
đừng quá giới hạn’, vấn đề này được nói lên với nguyên nhân nào?
“Nói quá giới hạn
thì thân phiền nhọc, niệm hay quên, tâm mệt mỏi, tiếng bị hư mà hướng đến
trí thì không được tự tại.
Nói vừa phải thì thân không phiền nhọc, niệm không ưa quên, tâm không mệt
mỏi, tiếng nói không bị hư, hướng đến trí thì được tự tại.
“‘Nói vừa phải,
đừng nói quá giới hạn’, vấn đề này được nói lên với nguyên nhân như vậy.
“‘Tùy theo phong tục địa phương, đừng nói thị, đừng nói phi’, vấn đề này
được nói lên với nguyên nhân nào? Thế nào là thị và phi tùy theo phong tục
địa phương? Địa phương này, nhân gian này, sự việc này, hoặc nói là ‘cái
chậu’, hoặc nói là ‘cái khay’, hoặc nói là ‘cái ô’, hoặc nói là ‘cái
chén’, hoặc nói là ‘đồ đạc’; hay nói là cái khay, hay nói là cái ô, hay
nói là cái chén, hay nói là đồ đạc; mỗi nơi tùy theo khả năng mà nói một
mực rằng, ‘Đây là sự thực, ngoài ra là láo cả’. Như vậy, đó là tùy theo
phong tục địa phương mà nói thị hay phi vậy.
“Sao gọi là ‘Tùy
phong tục địa phương, không thị không phi’? Địa phương này, nhân gian này,
sự việc này, hoặc nói là ‘cái chậu’, hoặc nói là ‘cái khay’, hoặc nói là
‘cái o’â, hoặc nói là ‘cái chén’, hoặc nói là ‘đồ đạc’, và ở địa phương
kia, nhân gian kia, sự việc kia, hoặc nói là ‘cái chậu’, hoặc nói là ‘cái
khay’, hoặc nói là ‘cái ô’, hoặc nói là ‘cái chén’, hoặc nói là ‘đồ đạc’.
Với sự việc này hay sự việc kia, không tùy khả năng, không nói với một mực
rằng ‘Đây là sự thật, ngoài ra đều láo cả’, như vậy là tùy phong tục địa
phương không nói thị không nói phi.
“‘Tùy phong tục địa
phương, đừng nói thị, đừng nói phi’, vấn đề này được nói lên với nguyên
nhân như vậy.
“‘Pháp hữu tránh và
pháp vô tránh’. Sao gọi là pháp hữu tránh? Nếu có lạc tương ưng với dục,
cùng đi với, là nghiệp rất hèn hạ, là hạnh phàm phu, pháp này là hữu
tránh. Vì những sự kiện gì mà pháp này là hữu tránh. Vì pháp này có khổ,
có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh, cho nên nói pháp
này là hữu tránh. Nếu tự thân khổ hạnh, rất khổ, không phải chánh hạnh,
không tương ưng với nghĩa, thì pháp này là hữu tránh. Vì pháp này có khổ,
có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh, cho nên nói pháp
này là hữu tránh. Xa lìa hai cực đoan ấy, có trung đạo, tác thành con mắt,
tác thành trí tự tại, thành định, đưa đến trí tuệ, đưa đến giác ngộ và
Niết-bàn, pháp này là vô tránh.
“Vì những sự kiện nào mà pháp này là vô tránh? Vì pháp này không khổ,
không phiền lao, không nhiệt não, không ưu sầu, thuộc về chánh hạnh, cho
nên nói pháp này là vô tránh. Kết sử hữu mà không đoạn tận, pháp này là
hữu tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là hữu tránh? Vì pháp này
có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh, cho nên
nói pháp này là hữu tránh.
“Kết sử hữu diệt
tận, pháp này là vô tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là vô
tránh? Vì pháp này không khổ, không phiền lao, không nhiệt não, không ưu
sầu, thuộc chánh hạnh, cho nên nói pháp này không tranh chấp, không mong
cầu nội lạc.
“Không cầu nội lạc, pháp ấy là hữu tránh. Vì những sự kiện nào mà gọi pháp
ấy là hữu tránh? Vì pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu
sầu, thuộc về tà hạnh, nên nói pháp này là hữu tránh.
“Mong cầu ở nội
lạc, pháp này là vô tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là vô
tránh? Vì pháp này không khổ, không phiền lao, không nhiệt não, không ưu
sầu, thuộc về chánh hạnh, cho nên nói pháp này là vô tránh.
“Trong đó, nếu có sự
lạc nào không phải là Thánh lạc mà là phàm phu lạc, là gốc của bệnh, gốc
của ung nhọt, gốc của mũi tên châm chích, có thức ăn, có sống chết, không
nên tu, không nên tập, không nên phát triển. Ta nói pháp ấy không nên tu.
Pháp này là hữu tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là hữu tránh?
Vì pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà
hạnh, cho nên nói pháp này là hữu tránh.
“Trong đó nếu có sự
lạc nào là lạc của bậc Thánh, sự lạc nào của vô dục, lạc do ly dục, lạc
của tịch tịnh, của chánh giác, không thức ăn, không có sống chết, nên tu
nên tập, nên phát triển. Ta nói pháp ấy nên tu, pháp này là pháp vô tránh.
Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là vô tránh? Vì pháp này không khổ,
không có phiền lao, không có nhiệt não, không có ưu sầu, thuộc về chánh
hạnh, cho nên nói pháp này là vô tránh.
“Trong đó nếu có lời
nói ám chỉ mà không chân thật, dối láo, không tương ưng với cứu cánh, pháp
này là hữu tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là hữu tránh? Vì
pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh,
cho nên nói pháp này là hữu tránh.
“Trong đó, nếu có
lời chê bai sau lưng mà chân thật, không dối láo, tương ưng với cứu cánh,
pháp ấy là vô tránh. Vì sự kiện nào mà nói pháp ấy là vô tránh? Vì pháp
này không khổ, không có phiền lao, không có nhiệt não, không có ưu sầu,
thuộc về chánh hạnh, cho nên nói pháp này là vô tránh.
“Không nói vừa phải.
pháp này là hữu tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là hữu tránh?
Vì pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà
hạnh, cho nên nói pháp này là tranh chấp.
“Nói vừa phải, pháp
này là vô tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là vô tránh? Vì pháp
này không khổ, không có phiền lao, không có nhiệt não, không có ưu sầu,
thuộc về chánh hạnh, cho nên nói pháp này là vô tránh.
“Thị và phi theo
phong tục địa phương, pháp này là hữu tránh. Vì những sự kiện nào mà nói
pháp này là hữu tránh? Vì pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt não, có
ưu sầu, thuộc về tà hạnh, cho nên pháp này có tranh chấp.
“Tùy phong tục địa phương, không nói thị không nói phi, pháp này là vô
tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là vô tránh? Vì pháp này không
khổ, không có phiền lao, không có nhiệt não, không có ưu sầu, thuộc về
chánh hạnh, cho nên nói pháp này là vô tránh.
“Đó gọi là tránh
pháp. Các ngươi nên biết pháp tránh và pháp vô tránh. Đã biết pháp tránh
và pháp vô tránh thì nên xả bỏ pháp tránh, tu tập pháp vô tránh. Các ngươi
cần phải học như vậy.
“Như vậy thiện nam
tử Tu-bồ-đề
do đạo vô tránh
mà về sau biết được pháp như pháp”.
Biết pháp Như chơn
thật
Tu-bồ-đề thuyết kệ
Thực hành chơn không
này
Bỏ đây, trụ tịch
tịnh.
Phật thuyết như vậy,
các Tỳ-kheo nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 13
162
|
163
|
164
|
165
|
166
|
167
|
168
|
169
|
170
|
171
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003