SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 13
PHẨM CĂN BỔN PHÂN
BIỆT
165. KINH ÔN TUYỀN LÂM THIÊN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ, Tôn giả
Tam-di-đề
cũng đi du hóa ở thành Vương xá, tại Ôn tuyền tâm.
Bấy giờ, đêm gần
tàn, trời sắp sáng, Tôn giả Tam-di-đề từ phòng bước ra, đi đến Ôn tuyền,
cởi y để trên bờ rồi xuống hồ Ôn tuyền tắm. Sau khi tắm xong, Tôn giả lên
bờ lấy khăn lau mình và mặc y vào.
Bấy giờ có một vị
thiên thần thân hình rất đẹp, sắc tướng uy nghi, nhắm lúc trời sắp rạng
đông, đi đến Tôn giả Tam-di-đề, cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Tam-di-đề rồi đứng
qua một bên. Vị thiên thần đó với sắc tướng uy thần cực diệu làm sáng chói
khắp cả bờ hồ Ôn tuyền.
Sau khi đứng qua một
bên, thiên thần bạch với Tôn giả Tam-di-đề rằng:
“Này Tỳ-kheo, thầy
có thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế
chăng?
Tôn giả Tam-di-đề
trả lời vị thiên thần kia rằng:
“Tôi không thuộc bài
kệ Bạt-địa-la-đế”.
Rôi Tôn giả hỏi lại
thiên thần:
“Nhưng ngài có thuộc
bài kệ Bạt-địa-la-đế chăng?”
Thiên thần trả lời:
“Tôi cũng không
thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế”.
Tôn giả Tam-di-đề
lại hỏi vị thiên thần kia:
“Ai thuộc bài kệ
Bạt-địa-la-đế?”
Thiên thần kia đáp:
“Đức Thế Tôn đang du
hóa trong thành Vương xá này, tại Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa. Chính Ngài
thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế. Này Tỳ-kheo, thầy nên gặp Thế Tôn và từ Ngài
mà ghi nhớ và thuộc kỹ, thọ trì bài kệ Bạt-địa-la-đế. Vì sao vậy? Vì bài
kệ Bạt-địa-la-đế đó có pháp có nghĩa, là căn bản của phạm hạnh, hướng đến
trí tuệ, hướng đến giác ngộ và hướng đến Niết-bàn. Một thiện nam tử chí
tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo, cần phải khéo thọ trì
đọc tụng bài kệ Bạt-địa-la-đế này”.
Thiên thần kia nói
như vậy, và sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân của Tôn giả Tam-di-đề, nhiễu
quanh Tôn giả ba vòng rồi biến mất khỏi chỗ đó.
Sau khi thiên thần
biến mất không lâu, Tôn giả Tam-di-đề đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi
ngồi xuống một bên mà bạch rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn,
hôm nay khi trời sắp rạng đông, con ra khỏi phòng, đi đến Ôn tuyền, cởi y
để trên bờ rồi xuống hồ Ôn tuyền tắm. Sau khi tắm xong, lên bờ lấy khăn
lau mình và mặc y vào. Bấy giờ có một vị thiên thần thân hình rất đẹp, sắc
tướng uy nghi, nhắm lúc trời sắp rạng đông, đi đến con, cúi đầu đảnh lễ
con rồi đứng qua một bên. Vị thiên thần đó với sắc tướng uy thần cực diệu
làm sáng chói khắp cả bờ hồ Ôn tuyền. Sau khi đứng qua một bên, thiên thần
bạch với con: ‘Này Tỳ-kheo, thầy có thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế chăng? Con
trả lời vị thiên thần kia rằng: ‘Tôi không thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế’.
Rồi con hỏi lại thiên thần: ‘Nhưng ngài có thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế
chăng?’ Thiên thần trả lời: ‘Tôi cũng không thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế’.
Con lại hỏi vị thiên thần kia: ‘Ai thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế?’ Thiên thần
kia đáp: ‘Đức Thế Tôn đang du hóa trong thành Vương xá này, tại Trúc lâm,
vườn Ca-lan-đa. Chính Ngài thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế. Này Tỳ-kheo, thầy
nên gặp Thế Tôn và từ Ngài mà ghi nhớ và thuộc kỹ, thọ trì bài kệ
Bạt-địa-la-đế. Vì sao vậy? Vì bài kệ Bạt-địa-la-đế đó có pháp có nghĩa, là
căn bản của phạm hạnh, hướng đến trí tuệ, hướng đến giác ngộ và hướng đến
Niết-bàn. Một thiện nam tử chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình
học đạo, cần phải khéo thọ trì đọc tụng bài kệ Bạt-địa-la-đế này’. Thiên
thần kia nói như vậy, và sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân con, nhiễu
quanh Tôn giả ba vòng rồi biến mất khỏi chỗ đó”.
Đức Thế Tôn hỏi
rằng:
“Này Tam-di-đề,
ngươi có biết vị thiên thần kia từ đâu đến chăng? Vị thiên thần kia tên là
gì chăng?”
“Tôn giả Tam-di-đề
đáp rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
không biết vị thiên thần kia từ đâu đến, cũng không biết tên gì”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Tam-di-đề, vị
thiên thần kia tên là Chánh Điện,
làm tướng quân ở cõi trời Tam thập tam thiên.
Khi ấy, Tôn giả
Tam-di-đề bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, nay
thật là đúng lúc. Bạch Thiện Thệ, nay thật là đúng lúc. Nếu Thế Tôn nói
cho Tỳ-kheo bài kệ Bạt-địa-la-đế ấy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Thế Tôn nói,
sẽ ghi nhớ kỹ”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Tam-di-đề, hãy
nghe kỹ và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ nói cho ông nghe”.
Tôn giả Tam-di-đề
bạch:
“Xin vâng, bạch Thế
Tôn!”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo
vâng lời chỉ giáo mà lắng nghe.
Đức Thế Tôn đọc bài
tụng:
Cẩn thận, đừng nghĩ
quá khứ;
Tương lai cũng chớ
mong cầu.
Quá khứ đã qua, đã
mất,
Tương lai chưa đến,
còn xa.
Hiện tại những gì
đang có
Thì nên quán sát suy
tư.
Niệm niệm mong manh
không chắc,
Người khôn biết vậy
nên tu.
Nếu có làm theo hạnh
Thánh,
Ai hay nỗi chết ưu
sầu.
Nhất định tránh xa
sự chết;
Hiểm nguy, khổ lớn
dứt trừ.
Như vậy thực hành
tinh tấn,
Ngày đêm không chút
biếng lười.
Vì vậy phải thường
tụng đọc
Bạt-địa-la-đế kệ
này.
Sau khi nói bài kệ
như vậy, Đức Thế Tôn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh thất mà tĩnh
tọa.
Lúc bấy giờ, các
Tỳ-kheo liền nghĩ rằng: “Này chư Hiền, nên biết, Đức Thế Tôn chỉ nói vắn
tắt lời dạy này, không phân biệt rộng rãi, rồi Ngài liền từ chỗ ngồi đứng
dậy đi vào tịnh thất nhập định.
Cẩn thận, đừng nghĩ
quá khứ;
Tương lai cũng chớ
mong cầu.
Quá khứ đã qua, đã
mất,
Tương lai chưa đến,
còn xa.
Hiện tại những gì
đang có
Thì nên quán sát suy
tư.
Niệm niệm mong manh
không chắc,
Người khôn biết vậy
nên tu.
Nếu có làm theo hạnh
Thánh,
Ai hay nỗi chết ưu
sầu.
Nhất định tránh xa
sự chết;
Hiểm nguy, khổ lớn
dứt trừ.
Như vậy thực hành
tinh tấn,
Ngày đêm không chút
biếng lười.
Vì vậy phải thường
tụng đọc
Bạt-địa-la-đế kệ
này.
Các vị ấy lại nghĩ
rằng: “Chư Hiền, vị nào có thể phân biệt rộng rãi điều mà Thế Tôn đã nói
một cách tóm lược?” Các vị ấy lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có trí tán thán. Như vậy, Tôn giả
Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một cách
tóm lược. Này chư Hiền, hãy cùng nhau đi đến nơi Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên, nhờ Tôn giả giải thích điều đó. Nếu Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên phân biệt cho, chúng ta sẽ khéo thọ trì”.
Thế rồi các Tỳ-kheo
cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, cùng chào hỏi nhau rồi
ngồi qua một bên thưa rằng:
“Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên, nên biết, Đức Thế Tôn chỉ nói vắn tắt lời dạy này, không
phân biệt rộng rãi, rồi Ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất
nhập định.
Cẩn thận, đừng nghĩ
quá khứ;
Tương lai cũng chớ
mong cầu.
Quá khứ đã qua, đã
mất,
Tương lai chưa đến,
còn xa.
Hiện tại những gì
đang có
Thì nên quán sát suy
tư.
Niệm niệm mong manh
không chắc,
Người khôn biết vậy
nên tu.
Nếu có làm theo hạnh
Thánh,
Ai hay nỗi chết ưu
sầu.
Nhất định tránh xa
sự chết;
Hiểm nguy, khổ lớn
dứt trừ.
Như vậy thực hành
tinh tấn,
Ngày đêm không chút
biếng lười.
Vì vậy phải thường
tụng đọc
Bạt-địa-la-đế kệ
này.
“Chúng tôi suy nghĩ
rằng: ‘Chư Hiền, vị nào có thể phân biệt rộng rãi điều mà Thế Tôn đã nói
một cách tóm lược?’ Chúng tôi lại nghĩ: ‘Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường
được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có trí tán thán. Như vậy, Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm
lược. Cúi xin Tôn giả Đại Ca-chiên-diên vì lòng từ mẫn mà nói nghĩa ấy một
cách rộng rãi”.
Bấy giờ, Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên nói rằng:
“Này chư Hiền, hãy
nghe tôi nói thí dụ. Người có trí nghe thí dụ thì sẽ hiểu được nghĩa.
“Này chư Hiền, cũng
như người muốn tìm lõi cây. Vì muốn tìm lõi cây nên xách búa vào rừng.
Người ấy thấy cây đại thọ có đủ gốc, thân, cành, nhánh, lá, hoa và lõi.
Người ấy không đốn gốc, thân, cành và lõi mà chỉ chặt nhánh và lá thôi.
Điều chư Hiền nói ra cũng lại như vậy. Đức Thế Tôn còn đó mà chư Hiền lại
bỏ đi tìm tôi để hỏi về điều ấy. Vì sao? Chư Hiền nên biết, Thế Tôn là Con
Mắt, là Trí, là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng Nói nghĩa chân đế, hiển
hiện tất cả các nghĩa, đều do Thế Tôn.
“Này chư Hiền, hãy
đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi điều đó như thế này, ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế
nào? Điều đó có nghĩa gì?’ Đức Thế Tôn dạy thế nào, chư Hiền nên khéo léo
thọ trì thế ấy”.
Nghe thế, các
Tỳ-kheo thưa rằng:
“Xin vâng, thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Đức Thế Tôn là Con Mắt, là Trí,
là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng. Nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả
các nghĩa, đều do Thế Tôn. Chúng tôi đáng lẽ phải đến chỗ Thế Tôn mà hỏi
về điều đó như vầy ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế nào? Điều đó có nghĩa gì?’
Đức Thế Tôn nói như thế nào, chúng tôi sẽ khéo thọ trì thế ấy. Nhưng Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có tri tán
thán. Như vậy, Tôn giả có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một
cách tóm lược. Mong Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thương xót mà giải thích
rộng rãi cho”.
Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Này chư Hiền, nếu
vậy xin hãy nghe tôi nói.
“Này chư Hiền, thế
nào là Tỳ-kheo truy niệm quá khứ? Này chư Hiền, Tỳ-kheo quả thật có sắc
được biết bởi mắt, khả hỷ, ý niệm, sắc ái, tâm lạc tương ưng với dục, tâm
mò bắt cái gốc. Gốc tức quá khứ vậy. Thức quá khứ vị ấy bị nhiễm trước
dục; do thức nhiễm trước dục, vị ấy hoan lạc. Do hoan lạc, vị ấy truy niệm
quá khứ. Tai, mũi, lưỡi và thân cũng vậy. Quả thật có sắc được biết bởi
mắt, khả hỷ, ý niệm, sắc ái, tâm lạc tương ưng với dục, tâm mò bắt cái
gốc. Gốc tức quá khứ vậy. Thức quá khứ vị ấy bị nhiễm trước dục; do thức
nhiễm trước dục, vị ấy hoan lạc. Do hoan lạc, vị ấy truy niệm quá khứ.
“Này chư Hiền, sao
gọi là Tỳ-kheo không truy niệm quá khứ? Này chư Hiền, Tỳ-kheo quả thật có
sắc được biết bởi mắt, khả hỷ, ý niệm, sắc ái, tâm lạc tương ưng với dục,
tâm mò bắt cái gốc. Gốc tức quá khứ vậy. Thức quá khứ vị ấy không bị nhiễm
trước dục; do thức không bị nhiễm trước dục, nên không hoan lạc nơi đó. Do
không hoan lạc nơi đó nên không truy niệm quá khứ. Tai, mũi, lưỡi, thân
cũng vậy, quả thật có sắc được biết bởi mắt, khả hỷ, ý niệm, sắc ái, tâm
lạc tương ưng với dục, tâm mò bắt cái gốc. Gốc tức quá khứ vậy. Thức quá
khứ vị ấy không bị nhiễm trước dục; do thức không nhiễm trước dục, vị ấy
không hoan lạc. Do không hoan lạc, vị ấy không truy niệm quá khứ.
Này chư Hiền, như
vậy đó là Tỳ-kheo không truy niệm quá khứ.
“Này chư Hiền, sao
gọi là Tỳ-kheo mong ước vị lai? Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo có mắt, sắc và
thức con mắt, đối với vị lai những gì chưa được thì muốn được, đã được rồi
thì tâm mong ước. Do tâm mong ước nên hoan lạc nơi đó. Do hoan lạc nên
mong ước vị lai. Tai, mắt, nũi, lưỡi, thân cũng như vậy. Đối với vị lai,
những gì chưa được thì muốn được. Đã được thì tâm mong ước. Do tâm mong
ước nên tâm hoan lạc nơi đó. Do hoan lạc nên mong ước vị lai. Này chư
Hiền, như vậy đó là Tỳ-kheo mong ước vị lai.
“Này chư Hiền, sao
gọi là Tỳ-kheo không mong ước vị lai? Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo có mắt,
sắc và thức con mắt, đối với vị lai những gì chưa được thì không muốn
được, đã được rồi thì tâm không mong ước. Do tâm không mong ước nên không
hoan lạc nơi đó. Do không hoan lạc nơi đó nên không mong ước vị lai. Này
chư Hiền, như vậy đó gọi là Tỳ-kheo mong ước vị lai.
“Này chư Hiền, sao
gọi là Tỳ-kheo chấp thủ pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo có mắt,
sắc và thức con mắt, đối với hiện tại, vị ấy thức hiện tại bị nhiễm trước
dục. Do thức bị nhiễm trước dục nên hoan lạc nơi ấy. Do hoan lạc nên chấp
thủ pháp hiện tại. Tai, mũi, lưỡi, thân cũng vậy, nếu có ý, pháp và ý
thức, đối với hiện tại, vị ấy thức hiện tại bị nhiễm trước dục. Do bị
nhiễm trước dục nên hoan lạc nơi ấy. Do hoan lạc nên chấp thủ pháp hiện
tại. Này chư Hiền, như vậy đó là Tỳ-kheo chấp thủ pháp hiện tại.
“Này chư Hiền, sao
gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo có
mắt, sắc và thức con mắt, đối với hiện tại, vị ấy thức hiện tại không bị
nhiễm trước dục. Do thức không bị nhiễm trước dục nên không hoan lạc nơi
ấy. Do hoan lạc nên không chấp thủ pháp hiện tại. Tai, mũi, lưỡi, thân
cũng vậy, nếu ý, pháp và ý thức, đối với hiện tại, vị ấy thức hiện tại
không bị nhiễm trước dục. Do thức không bị nhiễm trước dục nên hoan lạc
nơi ấy. Do không hoan lạc nên không chấp thủ pháp hiện tại. Này chư Hiền,
như vậy đó là Tỳ-kheo không chấp thủ pháp hiện tại.
“Này chư Hiền, phần này được Thế Tôn nói vắn tắt, không phân biệt một cách
rộng rãi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa”.
Cẩn thận, đừng nghĩ
quá khứ;
Tương lai cũng chớ
mong cầu.
Quá khứ đã qua, đã
mất,
Tương lai chưa đến,
còn xa.
Hiện tại những gì
đang có
Thì nên quán sát suy
tư.
Niệm niệm mong manh
không chắc,
Người khôn biết vậy
nên tu.
Nếu có làm theo hạnh
Thánh,
Ai hay nỗi chết ưu
sầu.
Nhất định tránh xa
sự chết;
Hiểm nguy, khổ lớn
dứt trừ.
Như vậy thực hành
tinh tấn,
Ngày đêm không chút
biếng lười.
Vì vậy phải thường
tụng đọc
Bạt-địa-la-đế kệ
này.
“Phần này được Thế
Tôn nói vắn tắt mà không phân biệt một cách rộng rãi. Tôi bằng những câu
này nói một cách rộng rãi như vậy đó. Này chư Hiền, có thể đến trình bày
đầy đủ lên Đức Phật. Nếu Đức Thế Tôn có nói ý nghĩa như thế nào, chư Hiền
hãy thọ trì”.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo
ấy nghe Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói như vậy, khéo thọ trì, đọc tụng,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh Tôn giả ấy ba vòng rồi đi đến chỗ Thế
Tôn, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi qua một bên mà thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, sau
khi Thế Tôn nói tóm lược về điều đó mà không phân biệt rộng rãi, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, vào thất tĩnh tọa, thì Tôn giả Đại Ca-chiên-diên với cú
như thế, văn như thế đã giải thích rộng rãi về điều đó.”
Đức Thế Tôn nghe như
vậy, liền tán thán rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Trong số đệ tử của Ta, đó là vị có mắt, có trí, có pháp, có nghĩa.
Vì sao? Vì đạo sư nói điều ấy tóm lược, không phân biệt rộng rãi cho các
đệ tử, mà đệ tử ấy đã bằng cú như thế, văn như thế để giải thích rộng rãi.
Cho nên những gì mà Ca-chiên-diên đã nói, các ngươi hãy thọ trì như vậy.
Vì sao? Vì thuyết quán nghĩa phải như vậy.
Phật thuyết như vậy.
Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 13
162
|
163
|
164
|
165
|
166
|
167
|
168
|
169
|
170
|
171
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003