SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 13
PHẨM CĂN BỔN PHÂN
BIỆT
164. KINH PHÂN BIỆT QUÁN PHÁP[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, Ta
sẽ thuyết pháp cho các ngươi, phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối
cũng thiện, có nghĩa, có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh. Đó
là kinh ‘Phân biệt quán pháp’. Các thầy hãy lắng nghe, khéo suy tư và ghi
nhớ.
Nghe vậy, các
Tỳ-kheo thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, chúng
con xin vâng lời”.
Đức Phật bảo rằng:
“Tỳ-kheo, quán như
vậy như vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoài, bị
phân rải, tán loạn, tâm không an trú vào bên trong, không chấp thủ nhưng
sợ hãi. Nhưng, này các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nào mà sau khi các ngươi
đã quán như vậy, tâm không hướng về bên ngoài, không bị phân rải, tán
loạn, tâm trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi
không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự khổ”.
Đức Phật nói như thế, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vào thất tĩnh tọa.
Khi ấy, các Tỳ-kheo
nghĩ rằng: “Chư Hiền nên biết, Đức Thế Tôn nói lên điều đó một cách tóm
tắt, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy vào thất tĩnh
tọa. Thế Tôn chỉ nói: ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi quán như vậy
rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoài, bị phân rải, tán loạn, tâm không an
trú vào bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, này các Tỳ-kheo,
hãy quán như thế nào mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không hướng
về bên ngoài, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong, không chấp
thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó
là tận cùng sự khổ’.”
Các vị ấy lại nghĩ
rằng: “Chư Hiền, vị nào có thể phân biệt rộng rãi điều mà Thế Tôn đã nói
một cách tóm lược?” Các vị ấy lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có trí tán thán. Như vậy, Tôn giả
Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một cách
tóm lược. Này chư Hiền, hãy cùng nhau đi đến nơi Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên, nhờ Tôn giả giải thích điều đó. Nếu Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên phân biệt cho, chúng ta sẽ khéo thọ trì”.
Thế rồi các Tỳ-kheo
cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, cùng chào hỏi nhau rồi
ngồi qua một bên thưa rằng:
“Thưa Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên, nên biết cho rằng, Đức Thế Tôn nói điều này một cách tóm
lược, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vào phòng tĩnh
tọa. Thế Tôn chỉ nói rằng, ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi quán như
vậy rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoài, bị phân rải, tán loạn, tâm
không an trú vào bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, này các
Tỳ-kheo, hãy quán như thế nào mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm
không hướng về bên ngoài, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong,
không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh,
tử nữa. Đó là tận cùng sự kho.å’
“Chúng tôi đã nghĩ
rằng, ‘Chư Hiền, vị nào có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một
cách tóm lược?’
“Chúng tôi lại nghĩ,
‘Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn và các bậc pham hạnh có trí
tán thán. Như vậy, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt được điều mà
Thế Tôn đã nói một cách tóm lược’. Mong Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thương
xót mà phân biệt rộng rãi cho”.
Bấy giờ, Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên nói rằng:
“Này chư Hiền, hãy
nghe tôi nói thí dụ. Người có trí nghe thí dụ thì sẽ hiểu được nghĩa.
“Này chư Hiền, cũng
như ngườøi muốn tìm lõi cây. Vì muốn tìm lõi cây nên xách búa vào rừng.
Người ấy thấy cây đại thọ có đủ gốc, thân, cành, nhánh, lá, hoa và lõi.
Người ấy không đốn gốc, thân, cành và lõi mà chỉ chặt nhánh và lá thôi.
Điều chư Hiền nói ra cũng lại như vậy. Đức Thế Tôn còn đó mà chư Hiền lại
bỏ đi tìm tôi để hỏi về điều ấy. Vì sao? Chư Hiền nên biết, Thế Tôn là Con
Mắt, là Trí, là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng Nói nghĩa chân đế, hiển
hiện tất cả các nghĩa, đều do Thế Tôn.
“Này chư Hiền, hãy
đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi điều đó như thế này, ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế
nào? Điều đó có nghĩa gì?’ Đức Thế Tôn dạy thế nào, chư Hiền nên khéo léo
thọ trì thế ấy”.
Nghe thế, các
Tỳ-kheo thưa rằng:
“Xin vâng, thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Đức Thế Tôn là Con Mắt, là Trí,
là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng. Nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả
các nghĩa, đều do Thế Tôn. Chúng tôi đáng lẽ phải đến chỗ Thế Tôn mà hỏi
về điều đó như vầy ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế nào? Điều đó có nghĩa gì?’
Đức Thế Tôn nói như thế nào, chúng tôi sẽ khéo thọ trì thế ấy. Nhưng Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có tri tán
tán. Như vậy, Tôn giả có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một
cách tóm lược. Mong Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thương xót mà giải thích
rộng rãi cho”.
Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên nói:
“Này chư Hiền, vậy
hãy nghe tôi nói.
“Này chư Hiền, thế
nào là tâm
Tỳ-kheo hướng ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn? –Chư Hiền, với con mắt,
Tỳ-kheo con mắt thấy sắc, thức ăn tướng của sắc, thắc đắm trước vị lạc của
tướng của sắc, thức bị trói buộc bởi vị lạc của tướng của sắc; vị ấy bị vị
ngọt của sắc tướng cột chặt tâm nên hướng ra ngoài, bị phân rải, tán loạn.
Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; với ý vị ấy nhận thức pháp, thức chạy
theo pháp tướng, thức đắm trước vị lạc của pháp tướng, thức bị trói buộc
bởi vị lạc của pháp tướng, vị ấy bị vị của vị ngọt của pháp tướng cột chặt
tâm nên hướng ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn.
“Này Chư Hiền, như
vậy gọi là tâm Tỳ-kheo hướng ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn.
“Này chư Hiền, thế
nào gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra ngoài, không bị phân rải, tán loạn?
“Này chư Hiền, với
con mắt, Tỳ-kheo thấy sắc, thức không chạy theo sắc tướng, thức không đắm
trước lạc của sắc tướng, thức không bị trói buộc bởi lạc của sắc tướng, vị
ấy không bị vị ngọt của sắc tướng cột chặt tâm nên không hướng ra ngoài,
không bị phân rải, tán loạn. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; với ý
Tỳ-kheo nhận thức pháp, thức không chạy theo pháp tướng, thức không đắm
trước lạc của pháp tướng, thức không bị trói buộc bởi lạc của pháp tướng.
Vị ấy không bị vị ngọt của pháp tướng cột chặt tâm nên không hướng ra
ngoài, không bị chi phối, tán loạn.
“Này Chư Hiền, như
vậy gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra ngoài, không bị phân rải, tán loạn.
“Này chư Hiền, thế nào là tâm Tỳ-kheo không trú vào bên trong?
“Này chư Hiền,
Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục
phát sanh, chứng đắc thiền thứ nhất, thành tựu an trụ. Nhưng thức của vị
ấy đắm trước ở vị ngọt của ly dục, y nơi đó, trú nơi đó, duyên nơi đó, gắn
chặt nơi đó, nên thức không trú vào bên trong.
“Lại nữa, này chư
Hiền, Tỳ-kheo giác quán đã dứt, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán,
có hỷ lạc do định phát sanh, đắc thiền thứ hai, thành tựu an trú. Nhưng
thức của vị ấy đắm trước nơi vị ngọt của định, y vào đó, trú vào đó, duyên
vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo ly hỷ dục, an trú xả, vô cầu, với chánh
niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh nói là được Thánh xả,
niệm, an trú lạc,
đắc thiền thứ ba, thành tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị
ngọt của ly hỷ, y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên
thức của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại nữa, này chư
Hiền, Tỳ-kheo diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ trước kia, không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh, đắc thiền thứ tư, thành tựu an trú. Nhưng thức
của vị ấy trú trước vào vị của xả và của niệm, y vào đó, trú vào đó, duyên
vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua mọi sắc tưởng, diệt hữu đối
tưởng, không tư duy đến các loại tưởng sai khác, nhập vô lượng không,
thành vô lượng không xứ, thành tựu và an trú. Nhưng thức của vị ấy trú
trước vào vị ngọt của không trí, y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn
chặt vào đó, nên thức của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại nữa, này chư
Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, vô
lượng thức xứ, thành tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị của
thức trí, y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức
của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại nữa, này chư
Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu xứ, thành
tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị của vô sở hữu trí, y vào
đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của vị ấy không
trú vào bên trong.
“Lại nữa, này chư
Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, nhập Phi hữu tưởng phi vô
tưởng, thành tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị của tưởng
trí, y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của vị
ấy không trú vào bên trong.
“Này chư Hiền, như
vậy gọi là tâm Tỳ-kheo không trú vào bên trong.
“Này chư Hiền, thế
nào là tâm Tỳ-kheo an trú vào bên trong?
“Chư Hiền, Tỳ-kheo
ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh,
đắc Thiền thứ nhất, thành tựu an trú. Thức của vị ấy không trú trước vào
vị ngọt của ly dục, không y vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó,
không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại nữa, chư Hiền,
Tỳ-kheo giác quán đã dứt, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, có hỷ
lạc do định sanh, đắc đệ Nhị thiền, thành tựu an trú. Thức của vị ấy không
trú trước vào vị ngọt của định, không y vào đó, không trú vào đó, không
duyên vào đó, không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo ly hỷ dục, an trụ, vô cầu, chánh niệm chánh
trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh nói là được Thánh xả, niệm, an trú
lạc, đắc Thiền thứ ba, thành tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước
vào vị của ly hỷ, không y vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó,
không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại nữa, chư Hiền,
Tỳ-kheo diệt khổ, diệt dục, diệt hỷ và ưu có trước kia, không khổ không
lạc, xả niệm thanh tịnh, đắc Thiền thứ tư, thành tựu an trụ. Thức của vị
ấy không trú trước vào vị ngọt của xả và vị của niệm thanh tịnh, không y
vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn chặt vào đó, nên
thức trú vào bên trong.
“Lại nữa, chư Hiền,
Tỳ-kheo vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không tư duy đến
các loại tưởng sai biệt, nhập vô lượng không xứ, thành tựu an trụ. Thức
của vị ấy không trú trước vào vị của không trí, không y vào đó, không trú
vào đó, không duyên vào đó, không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên
trong.
“Lại nữa, chư Hiền,
Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức xứ, thành
tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước vào vị ngọt của thức trí, không
y vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn chặt vào đó, nên
thức trú vào bên trong.
“Lại nữa, chư Hiền,
Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu xứ, thành tựu an
trụ. Thức của vị ấy không trú trước vào vị ngọt của vô sở hữu trí, không y
vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn chặt vào đó, nên
thức trú vào bên trong.
“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, nhập phi hữu
tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước
vào vị ngọt của vô tưởng trí, không y vào đó, không trú vào đó, không
duyên vào đó, không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Này chư Hiền, như
vậy gọi là tâm Tỳ-kheo trú vào bên trong.
“Này chư Hiền, thế
nào là Tỳ-kheo không chấp thủ mà sợ hãi?
“Chư Hiền, Tỳ-kheo
không ly sắc nhiễm, không ly sắc dục, không ly sắc ái, không ly sắc khát.
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nào không ly sắc nhiễm, không ly sắc dục, không
ly sắc ái, không ly sắc khát, thì vị ấy muốn được sắc, truy cầu, đắm trước
sắc, trú vào sắc, nghĩ rằng ‘Sắc là ta. Sắc là sở hữu của ta’. Khi đã muốn
được sắc, truy cầu sắc, đắm trước sắc, trú vào sắc, nghĩ rằng ‘Sắc là ta.
Sắc là sở hữu của ta’, thì thức nắm bắt sắc. Sau khi thức nắm bắt sắc, lúc
ấy sắc biến dịch thì thức cũng bị chuyển theo sắc. Khi thức đã bị chuyển
theo sắc thì Tỳ-kheo ấy sanh sợ hãi, tâm trú vào trong đó. Nhơn vì tâm
không biết nên sanh khiếp sợ, lao nhọc, không chấp thủ mà sợ hãi.
“Cũng vậy, thọ,
tưởng, hành, thức; Tỳ-kheo không ly thức nhiễm, không ly thức dục, không
ly thức ái, không ly thức khát.
“Này chư Hiền, nếu
Tỳ-kheo nào không ly thức nhiễm, không ly thức dục, không ly thức ái,
không ly thức khát, thì vị ấy muốn được thức, truy cầu thức, đắm trước
thức, trú vào thức, nghĩ rằng ‘Thức là ta. Thức là sở hữu của ta’. Vị ấy
khi đã muốn đượïc thức, truy cầu thức, đắm trước thức, trú vào thức, nghĩ
rằng ‘Thức là ta. Thức là sở hữu của ta’ thì thức nắm bắt thức. Sau khi
thức nắm bắt thức, lúc thức ấy biến dịch thì thức cũng bị chuyển theo
thức. Sau khi thức đã bị chuyển theo thức, Tỳ-kheo ấy sanh sợ hãi, tâm trú
vào trong đó. Nhơn vì tâm không biết nên sanh khiếp hãi, lao nhọc, không
chấp thọ mà sợ hãi.
“Này chư Hiền, như vậy gọi là Tỳ-kheo không chấp thọ mà sợ hãi.
“Này chư Hiền, thế
nào gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ, không sợ hãi?
“Chư Hiền, là Tỳ-kheo ly sắc nhiễm, ly sắc dục, ly sắc ái, ly sắc khát.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nào ly sắc nhiễm, ly sắc dục, ly sắc ái, ly sắc
khát, thì vị ấy không muốn được sắc, không truy cầu sắc, không đắm trước
sắc, không trú vào sắc nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc không phải là
sở hữu của ta’. Vị ấy đã không muốn được sắc, không truy cầu sắc, không
đắm trước sắc, không trú vào sắc nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc
không phải là sở hữu của ta’ thì thức không nắm bắt sắc. Khi thức đã không
nắm bắt sắc, lúc ấy sắc biến dịch, thức không bị chuyển theo sắc. Thức đã
không bị chuyển theo sắc thì vị ấy không sanh sợ hãi, tâm không trú vào
trong đó. Nhơn vì tâm biết nên không khiếp sợ, không lao nhọc, không chấp
thọ, không sợ hãi.
“Cũng vậy, thọ,
tưởng, hành, thức; Tỳ-kheo ly thức nhiễm, ly thức dục, ly thức ái, ly thức
khát. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nào ly thức nhiễm, ly thức dục, ly thức
ái, ly thức khát thì vị ấy không muốn đắc thức, không truy cầu thức, không
đắm trước thức, không trú vào thức, nghĩ rằng ‘Thức không phải là ta. Thức
không phải là sở hữu của ta’. Tỳ-kheo ấy khi đã không muốn được thức,
không truy cầu thức, không đám trước thức, không trú vào thức, nghĩ rằng
‘Thức không phải là ta. Thức không phải là của ta’, thì thức không nắm bắt
thức. Khi thức đã không nắm bắt thức, lúc thức kia biến dịch, thức không
bị chuyển theo thức. Khi thức không bị chuyển theo thức, Tỳ-kheo ấy không
sanh sợ hãi, tâm không trú vào trong đó. Nhơn vì tâm biết nên không khiếp
sợ, không lao nhọc, không chấp thọ, không sợ hãi.
“Này chư Hiền, như
vậy gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ, không sợ hãi.
“Này chư Hiền, Đức
Thế Tôn nói điều đó tóm lược, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, vào phòng tĩnh tọa. Ngài chỉ nói rằng ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như
vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳ-kheo, tâm hướng về bên ngoài, bị phân rải,
tán loạn, tâm không an trú vào bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi.
Nhưng, này các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nào mà sau khi các ngươi đã quán
như vậy, tâm không hướng về bên ngoài, không bị phân rải, tán loạn, tâm
trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn
sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự khổ’. Đức Thế Tôn đã nói điều
ấy tóm lược, không phân biệt rộng rãi như vậy đó. Tôi đã dùng cú này, văn
này giải thích rộng rãi như thế. Này chư Hiền, hãy đến trình bày với Thế
Tôn đầy đủ. Nếu Đức Thế Tôn nói điều đó như thế nào thì chư Hiền thọ trì
như thế ấy”.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo
ấy nghe Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói như vậy, khéo thọ trì, đọc tụng,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh Tôn giả ấy ba vòng rồi đi đến chỗ Thế
Tôn, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi qua một bên mà thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, sau
khi Thế Tôn nói tóm lược về điều đó mà không phân biệt rộng rãi, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, vào thất tĩnh tọa, thì Tôn giả Đại Ca-chiên-diên với cú
như thế, văn như thế đã giải thích rộng rãi về điều đó”.
Đức Thế Tôn nghe như
vậy, liền tán thán rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Trong số đệ tử của Ta, đó là vị có mắt, có trí, có pháp, có nghĩa.
Vì sao? Vì đạo sư nói điều ấy tóm lược, không phân biệt rộng rãi cho các
đệ tử, mà đệ tử ấy đã bằng cú như thế, văn như thế để giải thích rộng rãi.
Cho nên những gì mà Ca-chiên-diên đã nói, các ngươi hãy thọ trì như vậy.
Vì sao? Vì thuyết quán nghĩa phải như vậy.
Phật thuyết như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 13
162
|
163
|
164
|
165
|
166
|
167
|
168
|
169
|
170
|
171
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003