SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 13
PHẨM CĂN BỔN PHÂN
BIỆT
162. KINH PHÂN BIỆT LỤC GIỚI
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Ma-kiệt-đà, trú ở thành Vương xá.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
đến nhà thợ gốm,
nói rằng:
“Này thợ gốm, Ta nay
muốn tạm trú ở phòng làm đồ gốm một đêm, ông có thuận chăng?”
Thợ gốm trả lời:
“Con chẳng trở ngại
gì, nhưng đã có một Tỳ-kheo trú trong đó trước rồi. Nếu vị ấy thuận thì
xin tùy ý”.
Lúc ấy, Tôn giả
Phất-ca-la-sa-lợi
đã trú ở trong phòng làm đồ gốm ấy trước rồi.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
ra khỏi nhà thợ gốm, đi vào phòng làm gốm, nói với Tôn giả
Phất-ca-la-sa-lợi rằng:
“Này Tỳ-kheo, Ta nay
muốn tạm trú một đêm ở phòng làm gốm, thầy có thuận chăng?”
Tôn giả
Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Thưa Hiền giả, tôi
không trở ngại. Vả lại, ở phòng làm gốm này có chỗ ngồi bằng cỏ đã trải
xong, Hiền giả muốn ở lại thì tùy ý”.
Nghe vậy, Đức Thế
Tôn từ phòng làm gốm đi ra ngoài rửa chân rồi mới trở vào, lấy ni-sư-đàn
trải lên chỗ ngồi bằng cỏ mà ngồi kiết già, suốt đêm yên lặng tĩnh tọa,
định ý.
Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi cũng suốt đêm yên lặng tĩnh tọa, định ý.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
suy nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo này đi đứng tịch tĩnh, thật kỳ lạ, thật hiếm
có. Ta hãy Tỳ-kheo này, ‘Thầy của bạn là ai? Y theo ai mà bạn xuất gia,
học Đạo, thọ Pháp?’.” Nghĩ như vậy rồi, Thế Tôn bèn hỏi:
“Tỳ-kheo, Thầy của
bạn là ai? Y theo ai mà bạn xuất gia, học Đạo, thọ Pháp?”
Tôn giả
Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Này Hiền giả, có
Sa-môn Cù-đàm, dòng họ Thích, đã từ bỏ tông tộc, cạo bỏ râu tóc, khoác y
ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, học Đạo, đã giác ngộ
Vô thượng Chánh tận giác.
Vị ấy là Thầy của tôi. Tôi y theo vị ấy mà xuất gia học Đạo, thọ Pháp”.
Thế Tôn lại hỏi:
“Tỳ-kheo, đã từng
thấy Thầy chưa?”
Tôn giả
Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Chưa thấy”.
Thế Tôn hỏi:
“Nếu gặp Thầy, bạn
có nhận ra không?”
Tôn giả
Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Không biết. Nhưng,
này Hiền giả, tôi nghe rằng Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng
Hựu. Ngài là Thầy của tôi. Tôi y theo Ngài mà xuất gia, học Đạo, thọ
Pháp”.
Khi ấy, Thế Tôn lại suy nghĩ như vầy: “Thiện nam tử này y theo Ta mà xuất
gia, học Đạo, thọ Pháp. Ta nay có nên thuyết pháp chăng?”
Suy nghĩ như vậy
rồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi:
“Này Tỳ-kheo, nay Ta
sẽ thuyết pháp cho thầy, phần đầu toàn thiện, phần giữa cũng toàn thiện và
phần cuối cũng toàn thiện; có nghĩa, có văn đầy đủ, thanh tịnh, hiển hiện
phạm hạnh. Đó gọi là ‘Phân biệt sáu giới’.
Thầy hãy lắng nghe, khéo suy tư và ghi nhớ.
Tôn giả
Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Xin vâng”.
Đức Phật bảo rằng:
“Này Tỳ-kheo, con
người
có sáu giới tụ, có sáu xúc xứ, có mười tám ý hành, có bốn trụ xứ. Nếu ai
an trú vào đó sẽ không nghe đến chuyện sầu não.
Sau khi không nghe chuyện sầu não thì ý không chán ghét, không ưu sầu,
không lao nhọc, không sợ hãi. Như vậy, có sự khuyên bảo là đừng buông lung
trí tuệ, hãy thủ hộ chân đế và trưởng dưỡng huệ thí.
Này Tỳ-kheo, hãy học về tối thượng, hãy học về chí tịch,
như vậy là phân biệt về sáu giới.
“Này Tỳ-kheo, nói
rằng con người có sáu giới tụ, nhân gì mà nói như thế? Đó là, giới của
đất, giới của nước, giới của lửa, giới của gió, giới hư không và giới của
thức. Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu giới tụ là nhân đó mà nói.
“Này Tỳ-kheo, nói
rằng con người có sáu xúc xứ,
do nhân gì mà nói như thế? Đó là, này Tỳ-kheo, xúc con mắt thấy sắc, xúc
tai nghe tiếng, xúc mũi ngửi mùi, xúc lưỡi nếm vị, xúc thân cảm xúc, xúc ý
biết pháp. Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu xúc xứ là do nhânn đó mà
nói.
“Này Tỳ-kheo, nói
con người có mười tám ý hành,
do nhơn gì mà nói như thế? Đó là, này Tỳ-kheo, mắt thấy sắc, quán
sắc rồi an trú nơi hỷ, quán sắc rồi an trú nơi ưu, quán sắc rồi an trú nơi
xả. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Ý nhận thức pháp, quán pháp rồi
an trú nơi hỷ, quán pháp rồi an trú nơi ưu, quán pháp rồi an trú nơi xả.
Này Tỳ-kheo, như vậy sáu hỷ quán,
sáu ưu quán, sáu xả quán hợp lại là mười tám ý hành. Nói rằng con người có
mười tám ý hành là do nhơn đó mà nói.
“Này Tỳ-kheo, nói
rằng con người có bốn trụ xứ,
do nhơn gì mà nói như thế? Là chân đế trụ xứ, huệ trụ xứ, thí xả trụ xứ và
tịch tĩnh
trụ xứ. Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có bốn trụ xứ là do nhơn đó mà
nói.
“Này Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ? Tỳ-kheo phân
biệt thân giới như thế này: ‘Nay thân này của ta có nội địa giới, được
chấp thọ nơi hữu tình.
Nội địa giới là thế nào? Là tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt,
xương, gân, thận, tim, gan, phổi, lá lách, ruột già, bao tử, phổi, tương
tự như thế, trong thân này còn những thứ khác nữa. Những gì đượïc thâu
nhiếp trong thân thuộc về chất cứng, tính cứng ở bên trong, được chấp thọ
nơi hữu tình là nội địa giới’. Này Tỳ-kheo, dù là nội địa giới hay ngoại
địa giới đều gọi chung là địa giới. Tỳ-kheo đó dùng trí tuệ quán biết như
thật rằng ‘Tất cả những cái ấy không phải là sở hữu của ta. Ta không phải
là sở hữu của những cái ấy. Những cái ấy cũng không phải là tự ngã’.
Tâm vị ấy không nhiễm trước địa giới ấy. Đó là Tỳ-kheo không buông lung
trí tuệ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo phân biệt thân giới như thế này:
‘Nay thân này của ta có nội thủy giới, được chấp thọ nơi hữu tình. Nội
thủy giới là gì? Là não tủy,
nước mắt, mồ hôi, nước mũi, mủ, máu, mỡ, tủy, nước giải, đờm, nước tiểu,
tương tự như thế, trong thân này còn có nhiều thể khác nữa. Những gì được
thâu nhiếp trong thân, thuộc về chất nước, tính nước nhuần thấm ở bên
trong, được chấp thọ nơi hữu tình, đó là nội thủy giới’. Này Tỳ-kheo, nội
thủy giới hay ngoại thủy giới đều gọi chung là thủy giới. Tỳ-kheo ấy dùng
trí tuệ quán biết như thật rằng: ‘Tất cả những cái ấy không phải là sở hữu
của ta. Ta không phải là sở hữu của những cái ấy. Những cái ấy cũng không
phải là tự ngã’. Tâm vị ấy không nhiễm trước thủy giới ấy. Đó là Tỳ-kheo
không buông lung trí tuệ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo nào phân biệt thân giới như thế
này: ‘Nay thân này của ta có nội hỏa giới được chấp thọ nơi hữu tình. Nội
hỏa giới là gì? là cái làm cho thân phát nhiệt, thân nóng, thân phiền
muộn, thân âm ấp, làm tiêu đồ ăn thức uống, tương tự như thế, trong thân
này còn những thứ khác nữa, những gì được thâu nhiếp trong thân thuộc về
lửa, tức lửa làm nóng ở bên trong, được chấp thọ nơi hữu tình. Đó là nội
hỏa giới’. Này Tỳ-kheo, dù nội hỏa giới hay ngoại hỏa giới đều gọi chung
là hỏa giới. Vị ấy dùng trí tuệ quán biết như thật rằng: ‘Tất cả những cái
ấy không phải là sở hữu của ta. Ta không phải là sở hữu của những cái ấy.
Những cái ấy cũng không phải là tự ngã’. Tâm Tỳ-kheo ấy không nhiễm trước
hỏa giới ấy. Đó là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo nào phân biệt thân giới như thế
này: ‘Nay thân này của ta có nội phong giới được chấp thọ nơi hữu tình.
Nội phong giới là thế nào? Là gió thổi lên, gió thổi xuống, gió ngang
hông, gió co thắt, gió nhảy lên, gió phi đạo, gió cử động tay chân, gió ở
hơi thở ra, thở vào, tương tự như thế, trong thân này còn các thứ khác
nữa. Những gì được thâu nhiếp trong thân, thuộc về gió, tánh gió, lưu động
bên trong, được chấp thọ nơi hữu tình. Đó là nội phong giới’. Này Tỳ-kheo,
dù ngoại phong giới hay nội phong giới đều gọi là phong giới. Tỳ-kheo ấy
dùng trí tuệ quán biết như thật rằng: ‘Tất cả những cái ấy không phải là
sở hữu của ta. Ta không phải là sở hữu của những cái ấy. Những cái ấy cũng
không phải là tự ngã’. Đó là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo phân biệt thân giới như thế này:
‘Nay thân này của ta có nội không giới, được chấp thọ nơi hữu tình. Nội
không giới là gì? Là lỗ trống ở mắt, lỗ trống ở tai, lỗ trống ở mũi, lỗ
trống ở miệng, cái khiến cho cổ họng cử động, tức để cho thức ăn được nhai
và nuốt từ từ đi qua cổ họng, đi xuống rồi ra ngoài, tương tự như thế,
trong thân này có những thứ khác nữa thuộc về hư không. Ở chỗ hư không ấy
không bị da, thịt, xương, gân lấp kín. Đó là nội không giới’. Này Tỳ-kheo,
dù nội không giới hay ngoại không giới đều gọi chung là không giới.
Tỳ-kheo dùng trí tuệ quán biết như thật rằng: ‘Tất cả những cái ấy không
phải là sở hữu của ta. Ta không phải là sở hữu của những cái ấy. Những cái
ấy cũng không phải là tự ngã’. Tâm vị ấy không nhiễm trước không giới ấy.
Đó là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo,
nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về năm giới này, sau khi biết như thật, tâm
không nhiễm trước chúng thì được giải thoát, chỉ còn có các thức mà thôi.
Đó là những thức nào? Là thức về lạc, thức về khổ, thức về hỷ, thức về ưu
và thức về xả.
“Này Tỳ-kheo, nhơn
lạc xúc mà sanh lạc thọ,
vị ấy cảm giác lạc thọ. Khi đã cảm giác lạc thọ, vị ấy biết mình cảm giác
lạc thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt lạc xúc, sau khi diệt lạc xúc này, nếu có
lạc thọ do lạc xúc sanh, lạc thọ ấy cũng diệt, tĩnh chỉ; biết như vậy rồi,
mát lạnh.
“Này Tỳ-kheo, nhơn
khổ xúc sanh ra khổ thọ, vị ấy cảm giác khổ thọ. Sau khi đã cảm giác khổ
thọ, vị ấy biết đã cảm giác khổ thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt khổ xúc, sau khi
diệt khổ xúc, nếu có khổ thọ do khổ xúc sanh, vị ấy cũng diệt tĩnh chỉ;
biết như vậy rồi, mát lạnh.
“Này Tỳ-kheo, nhơn
hỷ xúc sanh ra hỷ thọ, vị ấy cảm giác hỷ thọ. Khi đã cảm giác hỷ thọ, vị
ấy biết đã cảm giác hỷ thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt hỷ xúc, sau khi diệt hỷ
xúc này, nếu có hỷ thọ do hỷ xúc sanh, vị ấy cũng diệt, tĩnh chỉ; biết như
vậy rồi, mát lạnh.
“Này Tỳ-kheo, nhơn
ưu xúc sanh ra ưu thọ, vị ấy cảm giác ưu thọ. Khi đã cảm giác ưu thọ, vị
ấy biết đã cảm giác ưu thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt ưu xúc, sau khi diệt ưu
xúc này, nếu có ưu thọ do ưu xúc sanh, vị ấy cũng diệt, tĩnh chỉ; biết như
vậy rồi, mát lạnh.
“Này Tỳ-kheo, nhơn
xả xúc sanh ra xả thọ, vị ấy cảm giác xả thọ. Khi đã cảm giác xả thọ, vị
ấy biết đã cảm giác xả thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt xả xúc, sau khi diệt xả
xúc này, nếu có xả thọ do xả xúc sanh, vị ấy cũng diệt, tĩnh chỉ; biết như
vậy rồi, mát lạnh.
“Này Tỳ-kheo, nhơn
các xúc ấy sanh ra các thọ ấy. Khi đã diệt các xúc ấy thì các thọ ấy cũng
diệt. Vị ấy biết rằng, thọ này từ xúc mà có, lấy xúc làm gốc, lấy xúc làm
tập khởi, từ xúc sanh ra, lấy xúc làm đầu mối, y cứ nơi xúc mà hiện hành.
“Này Tỳ-kheo, cũng
như mồi lửa, nhơn cái dùi, sự nỗ lực của ngườøi và sức nóng mà lửa phát
sanh. Này Tỳ-kheo, khi các dùi cây ấy tách rời nhau thì lửa mà từ đó phát
sanh, sức nóng của lửa và sự chấp thọ của hữu tình, tất cả đều tắt biến,
vắng bặt, im lìm và dùi cây ấy trở nên nguôïi lạnh. Cũng vậy, này Tỳ-kheo,
các xúc ấy thế này hay thế kia, sanh ra các thọ như thế này hay thế khác.
Diệt các xúc ấy thì các thọ ấy cũng diệt. Như vậy là đã biết thọ này từ
xúc mà có, lấy xúc làm gốc, lấy xúc làm tập khởi, từ xúc sanh ra, lấy xúc
làm đầu mối, y cứ nơi xúc mà hiện hành.
“Nếu Tỳ-kheo nào
không nhiễm trước ba thọ này, mà giải thoát, thì Tỳ-kheo ấy chỉ còn có xả
cực kỳ thanh tịnh.
“Này Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo ấy nghĩ rằng, ‘Ta với xả thanh tịnh này nhập vào vô lượng không xứ;
tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó,
buộc chặt vào đó. Ta với xả thanh tịnh này nhập vào vô lượng thức xứ,
vô sở hữu xứ, phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, tu tập tâm như vậy, y nơi đó,
an trụ nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó, buộc chặt vào đó’.
“Này Tỳ-kheo, cũng
như thợ luyện kim lành nghề, dùng lửa đốt thỏi vàng, dát cho thật mỏng,
rồi lại bỏ vào lò nung, đốt lửa đều đặn và đúng độ, luyện kỹ cho đến lúc
tinh ròng, rất mềm mại và có ánh sáng. Này Tỳ-kheo, thứ vàng này là do thợ
vàng đã đốt lửa đều đặn và đúng độ, luyện kỹ thật tinh ròng, rất mềm mại
và có ánh sáng. Như vậy rồi, tự thợ vàng ấy làm theo ý mình, như làm dây
đính vào tơ lụa để trang sức áo mới, làm nhẫn tay, vòng tay, xuyến, chuỗi,
lưới tóc... Cũng vậy, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy nghĩ rằng: ‘Ta với xả thanh
tịnh này nhập vào vô lượng không xứ; tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ
nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó, buộc chặt vào đó. Ta với xả thanh
tịnh này nhập vào Vô lượng thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi hữu tưởng phi vô
tưởng xứ, tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi đó,
duyên nơi đó, buộc chặt vào đó’.
“Tỳ-kheo ấy lại
nghĩ, ‘Ta với xả thanh tịnh này, mà y vào vô lượng không xứ, như vậy thuộc
pháp hữu vi. Là pháp hữu vi thì vô thường. Cái gì là vô thường, cái ấy là
khổ. Nếu cái gì là khổ thì biết là khổ’. Sau khi biết khổ, vị ấy xả, không
còn di chuyển nhập vô lượng không xứ nữa.
“‘Ta với xả thanh
tịnh này, mà y vào Vô lượng thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi hữu tưởng phi vô
tưởng xứ, vẫn là thuộc pháp hữu vi. Là pháp hữu vi thì vô thường. Cái gì
là vô thường, cái ấy là khổ. Nếu cái gì là khổ thì biết là khổ’. Sau khi
biết khổ, vị ấy xả, không còn di chuyển nhập Vô lượng thức xứ, Vô sở hữu
xứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ nữa.
“Này Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo nào đối với bốn xứ này bằng tuệ mà quán sát,
biết như thật, tâm không thành tựu, không di chuyển nhập, thì bấy giờ vị
ấy không cần phải làm gì, và cũng không có gì để tư niệm, nghĩa là những
gì liên hệ dến hữu và vô hữu.
Vị ấy cảm giác về thân tối hậu chấp thọ
thì biết cảm giác về thân chấp thọ cuối cùng; cảm giác về mạng chấp thọ
tối hậu
thì biết cảm giác về mạng chấp thọ tối hậu; và biết khi thân hoại mạng
chung, thọ mạng chấm dứt, những gì được cảm thọ, tất cả đều tịch diệt,
tịch tịnh, tĩnh chỉ và biết là trở thành rất mát lạnh.
“Này Tỳ-kheo, ví như
đèn sáng là nhờ dầu và nhờ bấc. Nếu không có ai đổ thêm dầu, nối thêm bấc,
như vậy khi dầu và bấc có trước đã cháy hết mà những cái sau không được
tiếp nối sẽ không còn gì để chấp thọ nữa. Tỳ-kheo ấy cũng thế, cảm giác về
chấp thọ thân tối hậu thì biết cảm giác về chấp thọ thân tối hậu; cảm giác
về chấp thọ sanh mạng tối hậu thì biết cảm giác về chấp thọ sanh mạng tối
hậu; và biết rằng, khi thân hoại mạng chung, sanh mạng chấm dứt thì tất cả
những gì được cảm thọ thảy đều tịch diệt, tịch tịnh, tĩnh chỉ và biết là
trở thành rất mát lạnh.
“Này Tỳ-kheo, như
thế vị ấy được gọi là Tỳ-kheo tối thắng chánh tuệ, nghĩa là đạt đến cứu
cánh diệt tận, lậu tận. Tỳ-kheo ấy thành tựu như vậy là thành tựu tối
thắng chánh tuệ xứ.
“Này Tỳ-kheo, sự
giải thoát này an trú nơi chân đế, không bị di động. Chân đế là pháp như
thật. Giả dối là pháp hư vọng. Tỳ-kheo ấy thành tựu tối thắng chân đế xứ.
“Này Tỳ-kheo, với
thí xả, nếu trước kia có oan gia cố cựu thì bấy giờ vị ấy phóng xả, lìa
bỏ, giải thoát, dứt trừ. Này Tỳ-kheo, đó là Tỳ-kheo tối thắng chánh huệ
thí, là xả ly tất cả mọi sự ở đời, hoàn toàn vô dục, tịch tĩnh, tĩnh chỉ.
Này Tỳ-kheo, thành tựu như thế là thành tựu tối thắng huệ thí xứ.
“Này Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo nào tâm bị dục, nhuế và si làm cho ô uế, không được giải thoát,
Tỳ-kheo ấy tận diệt tất cả dâm, nộ, si, vô dục, tịch tịnh, tĩnh chỉ, chứng
đắc tối thắng, tịch tĩnh. Này Tỳ-kheo, thành tựu như thế là thành tựu tối
thắng tịch tĩnh xứ.
“Này Tỳ-kheo, ai nghĩ rằng ‘Tôi đang là’, ấy là tự đề cao.
Rằng ‘Tôi sẽ hiện hữu’, ấy là tự đề cao. Rằng “Tôi sẽ không hiện hữu, cũng
không phải không hiện hữu’, ấy là tự đề cao. ‘Tôi sẽ có sắc’, ấy là tự đề
cao.
‘Tôi sẽ không có
sắc’, ấy là tự đề cao. ‘Tôi sẽ có tưởng’, ấy là tự đề cao. ‘Tôi sẽ không
có tưởng’, ấy là tự đề cao. ‘Tôi sẽ không có tưởng, không không có tưởng’,
ấy là tự đề cao. Đó làø cống cao, là kiêu ngạo, là phóng dật.
“Này Tỳ-kheo, nếu
không có tất cả những sự tự đề cao, cống cao, kiêu ngạo, phóng dật ấy thì
ý tịch tĩnh.
“Này Tỳ-kheo, nếu ý
tịch tĩnh thì không chán ghét, không ưu sầu, không lao nhọc, không sợ hãi.
Vì sao? Vì Tỳ-kheo ấy đã thành tựu pháp nên không còn chán ghét, không
chán ghét thì không ưu tư, không ưu tư thì không sầu não, không sầu não
thì không lao nhọc, không lao nhọc thì không sợ hãi. Nhơn không sợ hãi nên
sẽ đắc Niết-bàn, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã đã dứt, phạm hạnh đã vững,
việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’”.
Đức Thế Tôn
thuyết pháp này xong, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn ly trần cấu, phát
sanh pháp nhãn và các pháp. Bấy giờ, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn thấy
pháp, đắc pháp, chứng pháp bạch tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, không còn ai
hơn, không tùy thuộc ai nữa, không còn do dự, đã an trú vào quả chứng đắc;
đối với pháp của Thế Tôn, chứng đắc vô úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi
đầu đảnh lễ sát chân Phật mà bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
ăn năn! Bạch Thiện Thệ, con ngay từ đầu như ngu, như si, như khờ dại, như
không hiểu biết, không nhận ra Bậc Lương Điền mà không tự biết. Vì sao? Vì
con đã gọi Như Lai –Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác– là “Hiền giả”.
Mong Đức Thế Tôn cho con sám hối. Sau khi sám hối, con sẽ không còn tái
phạm nữa”.
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Tỳ-kheo, ngươi
quả thực ngu si, quả thực là khờ dại, không hiểu biết nên đã gọi Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, là “Hiền giả”. Này Tỳ-kheo, nếu ngươi tự
sám hối, đã thấy và phát lồ, gìn giữ không tái phạm nữa, như thế, này
Tỳ-kheo, đối với pháp luật của bậc Thánh như vậy là tăng ích chứ không tổn
hại, vì đã tự sám hối, đã tự thấy và phát lồ, gìn giữ không tái phạm nữa”.
Đức Phật, thuyết
như vậy. Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 13
162
|
163
|
164
|
165
|
166
|
167
|
168
|
169
|
170
|
171
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003