SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 12
PHẨM PHẠM CHÍ
(phần sau)
154. KINH BÀ-LA-BÀ
ĐƯỜNG
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
nước Xá-vệ, trú tại Đông viên, trong giảng đường Lộc tử mẫu.
Bấy giờ, có hai
người thuộc dòng Phạm chí là Bà-tư-tra
và Bà-la-bà,
cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo. Các Phạm chí khác thấy vậy, chỉ trích họ dữ dội,
nói những lời rất gay gắt và cay đắng, rằng: “Dòng Phạm chí là hơn hết,
không dòng nào bằng; dòng Phạm chí là da trắng, ngoài ra đều là da đen;
Phạm chí được thanh tịnh, không phải Phạm chí thì không được thanh tịnh;
Phạm chí con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, được hóa sanh từ Phạm
thiên. Các ông bỏ nơi thù thắng mà đi theo chỗ thấp hèn, bỏ trắng theo
đen. Bọn Sa-môn đầu trọc kia bị trói buộc vào da đen, nên tuyệt tự, không
con cái. Cho nên, các ông đã làm chuyện đại cực ác, phạm việc đại sai
lầm."
Bấy giờ, vào buổi chiều, Đức Thế Tôn từ thiền tọa dậy, bước xuống giảng
đường. Ngài kinh hành trên khoảng đất trống trong bóng mát của giảng
đường, rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo.
Tôn giả Bà-tư-tra từ
xa trông thấy Đức Thế Tôn vào buổi chiều từ thiền tọa dậy, bước xuống
giảng đường. Ngài kinh hành trên khoảng đất trống trong bóng mát của giảng
đường, rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo. Sau khi thấy như
vậy, Tôn giả Bà-tư-tra nói:
“Này Hiền giả
Bà-la-bà, nên biết, Đức Thế Tôn, vào buổi chiều, từ thiền tọa dậy, bước
xuống giảng đường. Ngài kinh hành trên khoảng đất trống trong bóng mát của
giảng đường, rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo. Này Hiền giả
Bà-la-bà, chúng ta nên đến chỗ Đức Phật, hoặc có thể nhân đây mà được nghe
Ngài nói pháp.”
Khi ấy, Bà-tư-tra và
Bà-la-bà liền đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ, rồi đi kinh hành theo sau.
Đức Thế Tôn quay lại
nói với hai người kia:
“Bà-tư-tra, hai Phạm
chí, các ngươi từ bỏ chủng tộc Phạm chí, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa,
chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; các Phạm
chí khác thấy như vậy, không chỉ trích các ngươi sao?”
Hai người kia liền
bạch:
“Quả thật vậy, bạch
Đức Thế Tôn. Các Phạm chí thấy như vậy, chỉ trích dữ dội, gay gắt, cay
đắng.”
Đức Thế tôn hỏi:
“Này Bà-tư-tra, các
Phạm chí thấy như vậy, đã chỉ trích dữ dội, gay gắt, cay đắng như thế
nào?”
Bà-tư-tra thưa:
“Bạch Thế Tôn, các
Phạm chí thấy chúng con như vậy, nói như thế này, ‘Dòng Phạm chí là hơn
hết, không dòng nào bằng; dòng Phạm chí là da trắng, ngoài ra đều là da
đen; Phạm chí được thanh tịnh, không phải Phạm chí thì không được thanh
tịnh; Phạm chí con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, được hóa sanh từ
Phạm thiên. Các ông bỏ nơi thù thắng mà đi theo chỗ thấp hèn, bỏ trắng
theo đen. Bọn Sa-môn đầu trọc kia bị trói buộc vào da đen, nên tuyệt tự,
không con cái. Cho nên, các ông đã làm chuyện đại cực ác, phạm việc đại
sai lầm.’ Bạch Thế Tôn, các Phạm chí thấy chúng con như vậy, đã chỉ trích
dữ dội, gay gắt, cay đắng như vậy.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Bà-tư-tra,
những lời của các Phạm chí quá độc ác, hết sức vô lại. Vì sao? Vì họ ngu
si, không khéo hiểu rõ, không biết ruộng tốt, không thể tự biết mình, dó
đó mới nói như thế này, ‘Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên, sanh từ
miệng Phạm thiên, được hóa sanh từ Phạm thiên.’ Vì sao? Này Bà-tư-tra,
chính Ta, với sự chứng đắc Minh Hạnh vô thượng này không chủ trương thọ
sanh ưu thắng, không chủ trương chủng tộc, không chủ trương kiêu mạn, nói
rắng ‘Nó đẹp lòng Ta; nó không đẹp lòng Ta,’
không vì chỗ ngồi, không vì nước,
không vì sở học kinh sách.
“Này Bà-tư-tra, chỗ
nào có hôn nhân,
nơi đó mới có thể nói về thọ sanh, về chủng tộc, về kiêu mạn, nói, ‘Nó đẹp
lòng Ta, không đẹp lòng Ta; vì chỗ ngồi, vì nước uống và vì sở học kinh
sách.
“Này Bà-tư-tra, nếu
ai chủ trương thọ sanh, chủ trương chủng tộc, chủ trương kiêu mạn, người
ấy cách biệt quá xa đối với sự chứng đắc Minh Hạnh vô thượng của Ta.
Này Bà-tư-tra, nói
về thọ sanh, về chủng tộc, về kiêu mạn, nói: ‘Nó đẹp lòng Ta, không đẹp
lòng ta,’ vì chỗ ngồi, vì nước uống và vì sở học kinh sách thì cách biệt
với sự chứng đắc Minh Hạnh vô thượng của ta.
“Lại nữa, này
Bà-tư-tra, ở đây có ba giai cấp
khiến cho không phải tất cả mọi người cùng tranh luận với nhau, thiện và
bất thiện lẫn lộn, được các bậc Thánh khen ngợi hoặc không khen ngợi. Thế
nào là ba? Đó là: dòng Sát-lợi, dòng Phạm chí, dòng Cư sĩ.
“Này Bà-tư-tra, ý
ngươi thế nào? Người Sát-lợi có sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo cho
đến tà khiến; người Cư sĩ cũng vậy, chứ không phải Phạm chí (mới làm những
chuyện đó chăng)?”
Bà-tư-tra rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, dòng Sát-lợi cũng có người sát sanh, trộm cắp, tà dâm,
nói láo, cho đến tà kiến và dòng Phạm chí, Cư sĩ cũng vậy.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Bà-tư-tra, ý
ngươi thế nào? Chỉ có người Phạm chí mới xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát
sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, cho đến xa lìa tà kiến, được chánh kiến;
còn Sát-lợi, Cư sĩ thì không như vậy chăng?”
Bà-tư-tra thưa rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn,
Phạm chí cũng có người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, trộm cắp, tà
dâm, nói láo, cho đến xa lìa tà kiến, được chánh kiến, và Sát-lợi, Cư sĩ
cũng vậy.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Bà-tư-tra, ý
ngươi thế nào? Nếu có vô lượng pháp ác, bất thiện, thì đó chỉ là việc làm
của Sát-lợi, Cư sĩ, chứ không phải Phạm chí chăng? Và nếu có vô lượng pháp
thiện, thì đó chỉ là việc làm của Phạm chí chứ chẳng phải Sát-lợi, Cư sĩ?”
Bà-tư-tra thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, nếu
có vô lượng pháp ác, bất thiện thì hàng Sát-lợi, Cư sĩ kia cũng có thể
làm, mà Phạm chí cũng vậy. Nếu có vô lượng pháp thiện, thì Phạm chí cũng
có thể làm, và Sát-lợi, Cư sĩ cũng vậy.”
“Này Bà-tư-tra, nếu
có vô lượng pháp ác, bất thiện, mà tuyệt đối chỉ có Sát-lợi làm, chứ không
phải Phạm chí làm, và nếu có vô lượng pháp thiện, mà tuyệt đối chỉ có Phạm
chí làm chứ không phải Sát-lợi, Cư sĩ làm, thì các Phạm chí kia có thể nói
như thế này, ‘Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm
thiên, hóa sanh từ Phạm thiên.’ Vì sao? Này Bà-tư-tra, người ta thấy một
nữ Phạm chí vừa mới lấy chồng, sau khi lấy chồng thì nàng mang thai và sau
đó lại thấy nàng sanh ra một bé trai, hoăc là một bé gái. Này Bà-tư-tra,
như vậy, các Phạm chí cũng y theo pháp thế gian sanh ra từ sản đạo, thế
nhưng họ lại nói láo, vu báng Phạm thiên mà nói như thế này, ‘Phạm chí
chúng ta là con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, hóa sanh từ Phạm
thiên.’
“Này Bà-tư-tra, nếu
một Thiện nam tử, bất luận chủng tộc hay tánh danh nào, từ bỏ chủng tộc,
cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, theo Ta học đạo,
thì có thể nói như thế này, ‘Phạm chí chúng tôi là con Phạm thiên, sanh từ
miệng Phạm thiên, hóa sanh từ Phạm thiên.’
Vì sao? Này Bà-tư-tra, vì Thiện nam tử ấy vào trong Chánh pháp luật của
Ta, thọ lãnh Chánh pháp và Giới luật, đến được bờ bên kia, đoạn nghi, trừ
hoặc, không có do dự, đối với Pháp của Đấng Thế Tôn đã được vô sở úy. Cho
nên, người ấy đáng nói như thế này, ‘Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên,
sanh từ miệng Phạm thiên, hóa sanh từ Phạm thiên.’
“Này Bà-tư-tra, Phạm
thiên đó là nói Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Bởi vì Phạm là Như
Lai, Mát lạnh là Như Lai, Không phiền không nhiệt, Không lìa Như là Như
Lai.
“Này Bà-tư-tra, ý
ngươi thế nào? Những người họ Thích có hạ ý yêu quý, kính trọng, cúng
dường, phụng sự Ba-tư-nặc, vua nước Câu-tát-la chăng?”
Bà-tư-tra thưa:
“Bạch Thế Tôn, có.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Bà-tư-tra, ý
ngươi thế nào? Nếu những người họ Thích hạ ý yêu kính, quý trọng, cúng
dường, phụng sự vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la thì như vậy, vua Ba-tư-nặc
nước Câu-tát-la đối với bản thân có hạ ý, yêu kính, quý trọng, cúng dường,
phụng sự Ta chăng?”
Đáp rằng:
“Những người họ
Thích mà hạ ý, yêu kính, quý trọng, cúng dường, phụng sự vua Ba-tư-nặc
nước Câu-tát-la, thì việc này không có gì lạ. Nếu vua Ba-tư-nặc nước
Câu-tát-la mà hạ ý, yêu quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự Đức Thế Tôn,
thì việc này rất kỳ lạ.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Bà-tư-tra, vua
Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đối với bản thân Ta mà hạ ý, yêu quý, kính
trọng, cúng dường, phụng sự Ta, không phải với ý nghĩ rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm
thuộc chủng tộc rất cao, còn ta chủng tộc quá thấp. Sa-môn Cù-đàm tài bảo
rất nhiều, còn ta tài bảo quá ít. Sa-môn Cù-đàm hình sắc rất đẹp, còn ta
hình sắc thô kịch. Sa-môn Cù-đàm có oai thần lớn, còn ta oai thần quá ít.
Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ thiện còn ta có trí tuệ ác.’ Nhưng này Bà-tư-tra,
vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-là chỉ vì yêu kính, tôn trọng Pháp và cúng
dường Pháp, vì phụng sự Pháp cho nên đối với bản thân Ta, mà hạ ý, yêu
quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự Ta.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
nói với Tỳ-kheo rằng:
“Này Bà-tư-tra, có
một lúc tất cả thế gian này đều hoại diệt. Khi thế gian này hoại, các
chúng sanh sanh lên cõi trời Hoảng dục;
ở trong cõi ấy, sắc vi diệu, do ý hóa sanh. Tất cả chi tiết và các căn đều
đầy đủ, dùng hỷ làm món ăn, tự thân phát sáng, bay lên hư không, sống lâu
trong tịnh sắc.
“Này Bà-tư-tra,
trong một thời gian quả đất này tràn ngập nước,
do gió thổi qua và khuấy động trên mặt nước đóng lại một lớp tinh, hòa
hiệp giống như sữa chín đóng váng và đông lại thành một lớp tinh. Cũng
vậy, Bà-tư-tra, có một thời gian quả đất này tràn ngập nước, do gió thổi
và khuấy động, trên mặt nước đông lại và hợp tụ hòa hợp thành một lớp
tinh, từ đó sanh ra vị của đất,
có sắc, có hương vị. Sắc nó như thế nào? Giống như sắc của sanh tô, và sắc
của thục tô. Và vị của nó như thế nào? Như vị mật ong.
“Này Bà-tư-tra, có
một thời gian khi thế giới này trở lại thời kỳ thành lập, có những chúng
sanh, sanh trên cõi trời Hoảng dục, tuổi thọ hết, nghiệp hết, phước hết,
mạng chung, sanh trở lại làm người, sanh vào thế gian này, cũng với sắc
tướng thù diệu và do hóa sanh; tất cả chi tiết và các căn đều đầy đủ, dùng
hỷ lạc làm thức ăn, tự thân phát sáng, bay trong hư không, sống lâu dài
trong tịnh sắc.
“Này Bà-tư-tra, bấy
giờ ở trong thế giới đó không có mặt trời, mặt trăng, cũng không có tinh
tú, không có ngày đêm, không có một tháng hay nửa tháng, không có ngày
giờ, không có năm. Này Bà-tư-tra, ngay vào lúc đó, không có cha, không có
mẹ, không có trai hay gái, lại cũng không có chủ nhân và tôi tớ, chỉ một
loại chúng sanh như nhau mà thôi. Rồi có một chúng sanh tham ăn, không
liêm khiết, đã nghĩ như thế này, ‘Vị của đất như thế nào? Ta thử dùng ngón
tay móc một ít đất này nếm thử.’ Khi ấy chúng sanh này bèn dùng ngón tay
móc đất đó mà nếm thử. Như vậy, chúng sanh đã biết vị của đất. Người ấy
lại muốn được ăn. Bấy giờ chúng sanh đó lại nghĩ như thế này, ‘Sao lại
phải nếm vị của đất bằng ngón tay cho nhọc sức. Ta hãy dùng bàn tay vóc
lấy vị đất này mà ăn.’ Khi đó chúng sanh này bèn dùng tay vóc lấy vị đất
này mà ăn.
“Trong số các chúng
sanh kia lại có những chúng sanh khác thấy các chúng sanh này mỗi người
dùng tay vóc lấy vị đất mà ăn, bèn nghĩ như thế này, ‘Cái này thật là hay,
cái này thật là khoái, chúng ta có thể dùng tay vóc lấy vị đất này để ăn.’
Rồi các chúng sanh liền dùng tay vóc lấy vị đất này để ăn. Khi họ đã dùng
tay vóc lấy vị đất này để ăn như vậy và như vậy, thân họ trở thành dày,
trở thành nặng, thành cứng. Nếu trước kia họ có sắc thanh tịnh, thì lúc ấy
bị mất, tự nhiên sanh ra tối tăm.
“Này Bà-tư-tra, pháp của thế gian tự nhiên có điều này: nếu sự tối tăm đã
sanh ra, thì mặt trời, mặt trăng tất xuất hiện. Mặt trời, mặt trăng đã
xuất hiện, thì các tinh tú cũng xuất hiện; tinh tú xuất hiện, tức thì
thành ngày đêm, thành ngày đêm rồi, thì liền có một tháng hay nửa tháng có
ngày giờ và có năm. Họ ăn vị của đất và sống đời rất lâu.
“Này Bà-tư-tra, nếu
chúng sanh nào ăn nhiều vị của đất, thì sắc da thành xấu, nếu ăn ít vị của
đất thì sắc da đẹp; từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu sắc. Nhân màu sắc
hơn kém cho nên mỗi mỗi chúng sanh có những lời khinh mạn lẫn nhau, ‘Sắc
da của ta hơn, sắc của ông không bằng.’ Nhân màu sắc hơn kém mà sanh ra sự
khimh mạn và ác pháp, cho nên vị của đất liền mất. Khi vị của đất đã mất,
các chúng sanh kia liền tụ tập nhau lại, khóc lóc não nề và nói như thế
này, ‘Hỡi ôi vị đất! Hỡi ôi vị đất!’ Cũng như người đời nay ngậm tan vật
ngon; chúng không nói chữ của thời xưa, tuy thọ trì mà không biết nghĩa.
Sự quán sát ý nghĩa cũng được nói như vậy.
“Này Bà-tư-tra, sau
khi vị của đất mất, chất béo của đất
có sắc, hương, vị sanh ra cho các chúng sanh kia. Sắc nó như thế nào? Như
sắc của sanh tô và thục tô. Vị như thế nào? Như vị của mật ong. Chúng sanh
kia ăn chất béo của đất này mà tồn tại ở thế gian trong một thời gian lâu
dài.
“Này Bà-tư-tra, nếu
chúng sanh nào ăn chất béo của đất nhiều thì sắc da xanh xấu, người ăn
chất béo của đất ít thì có sắc da đẹp, từ đó có sự phân biệt hơn kém về
sắc da. Nhân màu sắc có hơn kém cho nên mỗi mỗi chúng sanh cùng nói nhau
lời khinh mạn: ‘Sắc của ta hơn, sắc của ông không bằng.’ Do sắc hơn kém mà
sanh ra khinh mạn và ác pháp, cho nên chất chất béo của đất liền tiêu mất.
Khi chất béo của đất tiêu mất, các chúng sanh kia liền nhóm họp nhau lại,
khóc lóc não nề và nói như thế này: ‘Hỡi ơi chất béo của đất! Hỡi ơi chất
béo của đất!’ Cũng như người đời nay bị người khác mắng; chúng không nói
chữ của thời xưa, tuy thọ trì mà không biết nghĩa.
Sự quán sát ý nghĩa cũng được nói như vậy.
“Này Bà-tư-tra, sau
khi chất béo của đất tiêu mất, một loại bà-la
có sắc, có hương vị sanh ra cho các chúng sanh kia. Sắc nó như thế nào?
Như sắc hoa đàm. Vị nó như thế nào? Như vị mật ong tinh chất. Họ ăn dây
bà-la này mà tồn tại ở thế gian trong thời gian lâu dài.
“Này Bà-tư-tra, nếu
chúng sanh nào ăn bà-la nhiều thì sắc da thành xấu, người ăn ít bà-la thì
có sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu da. Nhân sắc có hơn
kém, cho nên mỗi mỗi chúng sanh nói lời khinh mạn với nhau rằng, ‘Sắc ta
hơn, sắc ông không bằng.’ Nhân sắc có hơn kém mà sanh khinh mạn và ác
pháp, cho nên bà-la liền diệt mất. Khi bà-la đã diệt mất, các chúng sanh
kia liền nhóm họp nhau lại, khóc lóc não nề và nói như thế này: ‘Hỡi ơi
bà-la! Hỡi ơi bà-la!’ Cũng như người đời nay bị người khác mắng; chúng
không nói chữ của thời xưa, tuy thọ trì mà không biết nghĩa. Sự quán sát ý
nghĩa cũng được nói như vậy.
“Này Bà-tư-tra, sau
khi bà-la diệt mất, loại nếp tự nhiên
sanh ra cho các chúng sanh kia. Trắng tinh, không vỏ cũng không có cám,
trấu; dài bốn tấc. Sớm mai cắt chiều sanh, chiều cắt sáng sanh; lúa chín
có vị muối, không có mùi sống. Chúng sanh ăn loại nếp tự nhiên này. Sau
khi họ ăn nếp tự nhiên này, tức thì sanh ra sự khác nhau về thân hình.
Hoặc có chúng sanh trở thành hình dạng con trai, hoặc có chúng sanh trở
thành hình dạng con gái. Sau khi các chúng sanh này trở thành hình trai và
hình gái, họ thấy nhau bèn nói như thế này: ‘Ôi, ác chúng sanh ra đời! Ác
chúng sanh ra đời!’
“Này Bà-tư-tra, ác
chúng sanh đó là nói người đàn bà. Khi chúng sanh kia đã trở thành hình
trai và hình gái, thì họ nhìn ngắm nhau. Nhìn ngắm nhau rồi, nhìn kỹ nhau
bằng mắt; mắt nhìn kỹ rồi, thì họ nhiễm nhau; nhiễm nhau rồi, liền sanh
bức rức; bức rức rồi, thì ái trước nhau; ái trước nhau rồi, họ làm chuyện
dâm dục. Nếu họ bị bắt gặp trong lúc hành dục, người ta bèn dùng cây, đá,
hoặc dùng gậy, đất cục mà đánh, ném, và nói như thế này: ‘Ôi, bọn họ xấu
xa, làm việc phi pháp! Tại sao chúng sanh làm chung nhau chuyện như vậy?’
Cũng như người thời nay khi rước vợ mới người ta rải hoa, hay buông rũ
những tràng hoa và nói như thế này: ‘Chúc cô dâu bình an! Chúc cô dâu bình
an!’
Đó là việc mà xưa kia thì người ta ghét, còn nay thì người ta yêu.
“Này Bà-tư-tra, cũng
có chúng sanh ghét pháp bất tịnh, ghê tởm, sỉ nhục, hổ thẹn, người đó liền
xa đám đông
từ một ngày, hai ngày, đến sáu bảy ngày, nửa tháng, một thàng cho đến một
năm.
“Này Bà-tư-tra, nếu
chúng sanh nào muốn làm việc bất tịnh này, thì người ấy bèn làm nhà và nói
như thế này: ‘Ta làm chuyện xấu trong này! Ta làm chuyện xấu trong này!’
Này Bà-tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên trong thế gian có pháp dựng nhà.
Đó là trí bậc nhất kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp.
Như pháp là tôn quý giữa loài người.
“Ở đây, có một chúng
sanh lười biếng. Người ấy nghĩ như thế này: ‘Tại sao ta phải mỗi bữa đi
lấy nếp tự nhiên? Sao ta không lấy luôn cho đủ ăn một ngày?’ Người ấy bèn
gom lấy gạo ăn cho một ngày. Khi ấy, có một chúng sanh khác nói với người
ấy rằng: ‘Này Chúng sanh, ông đi lấy gạo với tôi chăng?’ Vị ấy trả lời:
‘Tôi đã gom đủ. Ông đi lấy một mình vậy.’
“Chúng sanh kia nghe
rồi, liền nghĩ như thế này: ‘Thật là hay, thật là khoái! Ta cũng có thể
lấy luôn gạo ăn cho ngày mai chăng?’ Người này bèn lấy luôn gạo cho ngày
mai.
“Lại có một chúng
sanh khác nói với người này rằng: ‘Này Chúng sanh! Ông hãy đi lấy gạo với
tôi chăng?’ Chúng sanh kia đáp: ‘Tôi đã lấy luôn gạo cho ngày mai, ông đi
một mình vậy.’ Chúng sanh này nghe rồi, bèn nghĩ như thế này: ‘Thật là
hay, thật là khoái! Ta nay nên lấy gạo ăn luôn trong bảy ngày.’ Khi chúng
sanh này lấy loại lúa tự nhiên tích tụ rất nhiều; lúa nếp được cất bèn
sanh ra vỏ và cám, cắt lấy cho đến bảy ngày cũng sanh vỏ và cám. Cắt đến
đâu, chỗ ấy không còn mọc trở lại nữa.
“Bấy giờ, các chúng
sanh mới cùng nhóm họp, khóc lóc não nề mà nói thế này: ‘Chúng ta đã làm
phát sanh pháp ác, bất thiện; bọn chúng ta cất chứa gạo để lâu. Vì sao?
Bởi lẽ, chúng ta trước kia có sắc tướng thù diệu, và do ý hóa sanh; tất cả
chi tiết và các căn đều đầy đủ, dùng hỷ làm thức ăn, tự nhiên chói sáng,
bay trong hư không, sống lâu dài với tịnh sắc. Chúng ta sanh ra vị của đất
có sắc, hương, vị. Sắc như thế nào? Như sắc của sanh tô và thục tô. Vị thế
nào? Vị như mật ong. Chúng ta ăn vị của đất và tồn tại trong một thời gian
lâu dài. Chúng ta nếu ăn nhiều vị của đất, sắc da thành xấu. Người ăn vị
của đất ít, thì có sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu sắc.
Nhân màu sắc hơn kém, cho nên chúng ta mỗi người cùng nói lời khinh mạn
nhau rằng: ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Nhân sắc có hơn kém mà sanh
ra khinh mạn và ác pháp, cho nên vị của đất liền tiêu mất. Sau khi vị của
đất tiêu mất, loại chất béo của đất, có sắc, hương, vị sanh ra cho chúng
ta. Sắc như thế nào? Như sắc của sanh tô, thục tô. Vị như thế nào? Vị như
mật ong. Chúng ta ăn chất béo của đất mà tồn tại ở thế gian trong một thời
gian lâu dài. Người nào ăn chất béo của đất nhiều thì sắc da thành xấu;
người ăn chất béo của đất ít thì sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém
về màu sắc. Vì sắc có hơn kém, cho nên chúng ta mỗi người cùng nói lời
khinh mạn nhau: ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Vì sắc hơn kém mà sanh
ra khinh mạn và ác pháp, cho nên chất béo của đất liền tiêu mất. Sau khi
chất béo của đất tiêu mất, loại bà-la, có sắc, hương, vị sanh ra cho chúng
ta. Sắc như thế nào? Sắc như hoa đàm. Vị như thế nào? Như vị mật ong tinh
chất. Chúng ta ăn bà-la mà tồn tại ở thế gian lâu dài. Người nào nếu ăn
bà-la nhiều, thì sắc da thành xấu, người ăn bà-la ít, thì có sắc da đẹp.
Từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu sắc. Nhân sắc có hơn kém cho nên
chúng ta mỗi người cùng nói lời khinh mạn nhau rằng: ‘Sắc ta hơn, sắc
ngươi không bằng.’ Nhân sắc hơn kém mà sanh ra khinh mạn và ác pháp, cho
nên bà-la liền tiêu mất. Sau khi bà-la mất, loại nếp tự nhiên sanh ra cho
chúng ta, trắng tinh, không vỏ, cũng không cám, trấu; dài bốn tấc, sáng
cắt chiều sanh, chiều cắt sáng sanh, lúa chín có chất muối, không có mùi
sống. Chúng ta ăn nếp tự nhiên kia. Khi chúng ta tích tụ loại nếp tự nhiên
rất nhiều; nếp lúa được cất liền sanh vỏ, cám, cắt cho đến bảy ngày cũng
sanh vỏ, cám; cắt đến đâu, chỗ đó không còn mọc trở lại nữa. Vậy chúng ta
phải làm thành ruộng, và cắm mốc chăng?’
“Rồi các chúng sanh
ấy làm ruộng, gieo giống và cắm mốc. Trong khi đó có một chúng sanh đã có
lúa của mình, còn vào ruộng người khác mà lấy trộm lúa. Người chủ ruộng
thấy vậy bèn nói như thế này: ‘Chao ôi! Chúng sanh xấu ác đã ra đời! Tại
sao ngươi làm như vậy? Ngươi có lúa của ngươi mà còn vào ruộng của người
khác lấy trộm lúa; hãy đi đi. Về sau đừng làm như vậy nữa.’ Song chúng
sanh kia vẫn đi lấy trộm lúa của người khác hai ba lần nữa. Người chủ
ruộng cũng hỏi hai ba lần, thấy rồi, liền nắm tay thoi chúng sanh kia, lôi
đến chỗ đông người và nói với mọi người rằng: ‘Chúng sanh này có lúa của
nó mà còn vào ruộng tôi lấy trộm lúa tôi.’ Chúng sanh kia cũng nói với mọi
người rằng: ‘Chúng sanh này nắm tay tôi, thoi tôi, lôi tôi đến chỗ đông
người.’ Khi ấy, các chúng sanh kia cùng nhau nhóm họp, khóc lóc não nề và
nói như thế này: ‘Chúng ta sanh pháp ác bất thiện, đó là phải giữ ruộng
vậy. Vì sao? Vì gìn giữ ruộng, cho nên mới cùng nhau tranh tụng, có mất
mát, kiệt tận, có nói chuyện nhau bằng lời, có thoi nhau bằng nắm tay.
Trong số đông này chúng ta hãy cử ra một người đoan chánh, có hình sắc rất
đẹp đẽ, lập làm điền chủ. Nếu người nào đáng quở trách thì phải để cho ông
ấy quở trách. Nếu người nào đáng đuổi thì để cho ông ấy đuổi. Còn lúa bọn
chúng ta thu được thì nên theo đúng như pháp chở đến cho ông ấy.’
“Khi ấy trong số
chúng sanh kia có một người đoan chánh, hình sắc đẹp đẽ đệ nhất, họ bèn cử
ra, lập làm điền chủ. Nếu có ai đáng quở trách thì ông ấy quở trách; nếu
có ai đáng đuổi, thì ông ấy đuổi. Nếu có lúa thì họ đúng như pháp chở đến
cho điền chủ. Điền chủ đó tức là Sát-lợi.
Làm cho chúng sanh hoan lạc đúng như pháp, thủ hộ và hành giới là vua.
Vua được gọi là vua vậy.
“Này Bà-tư-tra, đó
la nhân duyên đầu tiên của dòng Sát-lợi trong thế gian. Đó là trí bậc nhất
kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như pháp là tôn quý
giữa loài người.
“Khi ấy, có chúng sanh cho rằng sự thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ
hộ là mũi tên đâm, liền từ bỏ sự thủ hộ, nương nơi vô sự,
làm nhà lá để ở và học Thiền. Người ấy từ chỗ vô sự, mỗi buổi sáng vào
thôn ấp hay vương thành mà khất thực. Số đông chúng sanh kia thấy vậy liền
bố thí cho, cung kính, tôn trọng và nói như thế này: ‘Chúng sanh này cho
rằng thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm, nên đã từ
bỏ thủ hộ, nương nơi vô sự làm nhà lá để ở và học Thiền. Này chư Tôn,
người này đã xả bỏ sự gây hại, pháp ác, bất thiện.’ Đó là Phạm chí. Do đó
Phạm chí được gọi là Phạm chí vậy.
“Chúng sanh kia học
Thiền mà không đắc Thiền, học khổ hạnh mà không đắc khổ hạnh, học viễn ly
mà không đắc viễn ly, học nhất tâm mà không đắc nhất tâm, học tinh tấn mà
không được tinh tấn, liền bỏ chỗ vô sự, trở về thôn ấp, vương thành, làm
nhà bốn trụ, tạo lập kinh sách. Các chúng sanh kia thấy vậy, bèn không bố
thí, không cung kính, tôn trọng nữa và nói như thế này: ‘Chúng sanh này
trước kia coi thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm,
bèn từ bỏ sự thủ hộ, nương nơi vô sự, làm nhà lá để ở và học Thiền, nhưng
không thể đắc Thiền, học khổ hạnh mà không đắc khổ hạnh, học viễn ly mà
không được viễn ly, học nhất tâm mà không được nhất tâm, học tinh tấn mà
không được tinh tấn liền bỏ nơi vô sự, trở về thôn ấp, vương thành, làm
nhà bốn trụ, tạo lập kinh sách. Này chư Tôn, người này lại học sự bác văn,
không học Thiền nữa. Bác văn do đó được gọi là bác văn vậy.
“Này Bà-tư-tra, đó
là nhân duyên đầu tiên của dòng Phạm chí trong thế gian. Đó là trí bậc
nhất kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như pháp là tôn
quý giữa loài người.
“Bấy giờ, các chúng
sanh khác, mỗi người đến mỗi phương mà làm ruộng; người thì đi về phương
này mà làm nghề làm ruộng; người thì đi về phương kia mà làm nghề làm
ruộng. Đó là dòng Phệ-xá.
“Này Bà-tư-tra, đây
là nhân duyên đầu tiên có dòng Phệ-xá trong đời. Đó là trí bậc nhất kỳ
cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như pháp là tôn quý
giữa loài người.
“Này Bà-tư-tra, khi
thế gian khởi lên ba chủng tánh này rồi, thì liền biết có dòng Sa-môn thứ
tư.
Tại sao trong thế gian có ba chủng tánh này rồi liền biết có dòng Sa-môn
thứ tư? Trong dòng tộc Sát-lợi có những thiện nam tử hay tự quở trách
mình, ghét pháp bất thiện, tự chán ghét pháp ác, bất thiện, cạo bỏ râu
tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình học đạo, và suy nghĩ thế
này: ‘Ta nên làm Sa-môn, tu Phạm hạnh.’ Người ấy bèn làm Sa-môn, tu Phạm
hạnh. Thiện nam tử trong dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá cũng vậy, cũng
tự quở trách, ghét pháp bất thiện, tự chán ghét pháp ác, bất thiện, cạo bỏ
râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình,
học đạo, cũng nghĩ như thế này: ‘Ta nên làm Sa-môn, tu Phạm hạnh,’ bèn làm
Sa-môn và tu Phạm hạnh.
“Này Bà-tư-tra, như
vậy, trong thế gian khởi lên ba chủng tánh này rồi, thì liền biết có dòng
Sa-môn thứ tư.
“Này Bà-tư-tra, nay
Ta nói rộng về ba chủng tánh này. Nói rộng về ba chủng tánh này thế nào?
Một thiện nam tử thuộc chủng tộc Sát-lợi mà thân làm pháp bất thiện, khẩu,
ý, làm pháp bất thiện, thì người đó khi thân hoại mạng chung, nhất định
phải thọ khổ.
“Cũng vậy, thiện nam
tử trong dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá, thân làm pháp bất thiện,
khẩu, ý, làm pháp bất thiện, thì người đó khi thân hoại mạng chung, nhất
định phải thọ khổ.
“Này Bà-tư-tra, một
thiện nam tử thuộc dòng tộc Sát-lợi mà thân làm thiện pháp, khẩu, ý làm
thiện pháp, thì người đó khi thân hoại chung, nhất định sẽ thọ lạc.
“Cũng vậy, thiện nam
tử dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá, mà thân làm thiện pháp, khẩu, ý làm
thiện pháp, thì người đó khi thân hoại mạng chung, nhất định sẽ thọ lạc.
“Này Bà-tư-tra,
thiện nam tử thuộc dòng tộc Sát-lợi, thân làm hai hạnh, và giữ hộ hạnh,
khẩu, ý làm hai hạnh và giữ hộ hạnh, thì người đó khi thân hoại mạng
chung, sẽ thọ khổ và lạc.
“Cũng vậy, này
Bà-tư-tra, thiện nam tử thuộc dòng tộc Phạm chí hay Phệ-xá, thân làm hai
hạnh, và giữ hộ hạnh, khẩu, ý làm hai hạnh và giữ hộ hạnh, thì người đó
khi thân hoại mạng chung, sẽ thọ khổ và lạc.
“Này Bà-tư-tra,
thiện nam tử dòng tộc Sát-lợi tu bảy giác pháp, khéo tư duy và khéo quán
sát, biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát
hữu lậu và vô minh lậu, giải thoát rồi liền biết giải thoát, biết như
thật: Sự sanh đã hết, Phạm hạnh đã lập, điều cần làm đã làm xong, sẽ không
còn tái sanh nữa.
“Cũng vậy, thiện nam
tử dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá tu bảy giác pháp, khéo tư duy, khéo
quán sát; người ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm
giải thoát khỏi hữu lậu, vô minh lậu, giải thoát rồi liền biết giải thoát,
biết như thật: Sự sanh đã hết, Phạm hạnh đã lập, điều cần làm đã làm xong,
không còn tái sanh.
“Này Bà-tư-tra, như
vậy, Ta đã phân biệt rộng rãi về ba chủng tánh này vậy.
“Phạm thiên đế chúa
nói bài kệ:
Loài hai chân,
Sát-lợi tối tôn,
Đấy là chủ trương có
chủng tộc.
Những ai cầu học
Minh và Hạnh,
Vị ấy, Thiên, Nhân
đều tán thán.
“Này Bà-tư-tra, Phạm
thiên đế chúa khéo nói bài kệ này chứ không phải không khéo, khéo ca ngơi,
phúng tụng chứ không phải không khéo, khéo ngâm vịnh và nói, chứ không
phải không khéo, nói như thế này:
Loài hai chân,
Sát-lợi tối tôn,
Đấy là chủ trương có
chủng tộc.
Những ai cầu học
Minh và Hạnh,
Vị ấy, Thiên, Nhân
đều tán thán.
“Vì sao? Vì Ta cũng
nói như vậy:
Loài hai chân,
Sát-lợi tối tôn,
Đấy là chủ trương có
chủng tộc.
Những ai cầu học
Minh và Hạnh,
Vị ấy, Thiên, Nhân
đều tán thán.”
Đức Phật nói như
vậy, Tôn giả Bà-tư-tra, Bà-la-bà và chư Tỳ-kheo nghe Phật nói, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 12
142
|
143
|
144
|
145
|
146
|
147
|
148
|
149
|
150
|
151
152
|
153
|
154
|
155
|
156
|
157
|
158
|
159
|
160
|
161
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003