SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 12
PHẨM PHẠM CHÍ
(phần đầu)
146. KINH TƯỢNG TÍCH DỤ
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ dị học Ti-lô
vào lúc sáng sớm ra khỏi nước Xá-vệ, đi đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ rồi
ngồi xuống một bên. Phật thuyết pháp cho ông nghe, khuyến phát khát
ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp,
khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ xong rồi Phật ngồi im lặng.
Dị học Ti-lô sau khi
được Phật thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ xong,
rời chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu lễ chân Phật, đi quanh ba vòng rồi lui về.
Bấy giờ, Phạm chí
Sanh Văn
ngồi trên cỗ xe trắng rất đẹp, cùng với năm trăm đệ tử, vào lúc sáng sớm,
khi ra khỏi Xá-vệ, đi đến một khu rừng để dạy đệ tử tụng đọc kinh thơ.
Phạm chí Sanh Văn từ xa trông thấy dị học Ti-lô đi đến, bèn hỏi:
“Này Bà-ta,
mới sáng sớm đã từ đâu về vậy?”
Dị học Ti-lô đáp:
“Này Phạm chí, tôi
đi thăm Đức Thế Tôn, lễ sự, cúng dường rồi về đây.”
Phạm chí Sanh Văn
hỏi:
“Có biết Sa-môn
Cù-đàm ở nơi trống vắng yên tĩnh học trí tuệ chăng?”
Dị học Ti-lô đáp:
“Phạm chí, hạng
người nào mà có thể biết Thế Tôn ở nơi trống vắng yên tĩnh học trí tuệ?
Này Phạm chí, nếu biết Thế Tôn ở nơi trống vắng yên tĩnh, học trí tuệ thì
cũng phải bằng Thế Tôn. Nhưng, này Phạm chí, kinh thơ mà tôi đọc có bốn cú
nghĩa
và do bốn cú nghĩa này mà tôi nhất định tin tưởng Thế Tôn là Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được nói bởi Thế Tôn là toàn thiện,
Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng.
“Này Phạm chí, cũng
như thợ săn voi rành nghề, đi rảo trong một khu rừng, ở giữa rừng cây nhìn
thấy dấu chân voi to lớn, thấy rồi thì nhất định tin tưởng con voi này
phải là rất lớn mới có dấu chân như vậy. Này Phạm chí, tôi cũng như vậy.
Trong kinh thơ mà tôi đọc có bốn cú nghĩa, do bốn cú nghĩa này mà tôi nhất
định tin rằng Thế Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp
được nói bởi Thế Tôn là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử của Như Lai khéo thú
hướng.
“Bốn cú nghĩa ấy là
thế nào?
“Này Phạm chí, các
luận sĩ Sát-lợi có trí tuệ, học rộng, quyết định,
có thể khuất phục người đời, không thứ gì là không biết, rồi đem những
điều được thấy mà tạo tác văn chương, lưu hành trong thế gian. Họ nghĩ như
vầy, ‘Ta đến chỗ Sa-môn Cù-đàm hỏi sự việc như vầy, nếu trả lời được, Ta
lại hỏi nữa. Nếu không trả lời được, Ta khuất phục rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế
Tôn đang trú tại một thôn ấp nào đó, bèn tìm đến. Sau khi gặp Thế Tôn, hỏi
còn không dám, há lại nói đến sự khuất phục. Này Phạm chí, kinh thư mà tôi
đã đọc dùng được cho cú nghĩa thứ nhất này. Nhân ý nghĩa này, tôi nhất
định tin rằng Thế Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp
được nói bởi Thế Tôn là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử của Như Lai khéo thú
hướng.
“Cũng vậy, những
Phạm chí có trí tuệ, những Cư sĩ có trí tuệ, những luận sĩ Sa-môn có trí
tuệ, đa văn, quyết định, có khả năng khuất phục người đời, không điều gì
là không biết, rồi đem những điều được thấy tạo tác văn chương lưu hành
thế gian. Họ nghĩ như vầy, ‘Ta đến chỗ Sa-môn Cù-đàm hỏi sự việc như vầy,
nếu trả lời được, Ta lại hỏi nữa. Nếu không trả lời được, Ta khuất phục
rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế Tôn đang trú tại một thôn ấp nào đó, bèn tìm đến.
Sau khi gặp Thế Tôn, hỏi còn không dám, há lại nói đến sự khuất phục. Này
Phạm chí, kinh thư mà tôi đã đọc dùng được cho cú nghĩa thứ tư này. Nhân ý
nghĩa này, tôi nhất định tin rằng Thế Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, pháp được nói bởi Thế Tôn là toàn thiện, Thánh chúng đệ
tử của Như Lai khéo thú hướng.
“Này Phạm chí, kinh
thơ mà tôi được đọc có bốn cú nghĩa này. Tôi do bốn cú nghĩa này mà nhất
định tin tưởng rằng Thế Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
pháp được Thế Tôn nói là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú
hướng.”
Phạm chí Sanh Văn
nói rằng:
“Này Bà-ta, ông thật
hết sức cúng dường Sa-môn Cù-đàm. Do sở nhân, sở duyên này mà hoan hỷ
phụng hành.
Dị học Ti-lô đáp:
“Này Phạm chí, thật
vậy, thật vậy, tôi hết sức cúng dường Đức Thế Tôn ấy và cũng hết sức tán
thán. Tất cả thế gian cũng nên cúng dường.”
Lúc bấy giờ Phạm chí
Sanh Văn trên xe bước xuống, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về
rừng Thắng, vườn Cấp cô độc ba lần làm lễ:
“Nam mô Như Lai Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.”
Ba lần như vậy xong,
trở lên cỗ xe trắng rất đẹp, đi đến rừng Thắng, vườn Cấp cô độc. Đến chỗ
xe có thể đi được, rồi xuống xe đi bộ, tiến về chỗ Phật, chào hỏi xong
ngồi xuống một bên, đem câu chuyện mà Phạm chí Sanh Văn vừa thảo luận với
dị học Ti-lô, kể lại hết cho Phật nghe.
Thế Tôn nghe xong,
nói rằng:
“Này Phạm chí, dị
học Ti-lô nói thí dụ về dấu chân voi chưa được hoàn hảo, chưa được trọn
vẹn. Thí dụ về dấu chân voi mà được nói một cách hoàn hảo, trọn vẹn để Ta
nói cho ông nghe. Hãy khéo nghe kỹ.
“Này Phạm chí, cũng
như thợ săn voi rành nghề, đi vào trong một khu rừng, ở giữa đám cây rừng,
nhìn thấy dấu chân voi to lớn. Thấy rồi, có thể tin rằng con voi kia phải
hết sức to lớn mới có dấu chân như vậy.
“Này
Phạm chí, thợ săn voi rành nghề ấy, hoặc giả không tin, vì rằng trong khu
rừng ấy có một loại voi cái được gọi là Gia-lê-nậu,
thân thể rất cao lớn, nó có dấu chân này. Rồi thợ săn tìm theo dấu chân.
Lại thấy dấu chân voi rất lớn. Thấy rồi có thể tin rằng con voi này hết
sức to lớn mới có dấu chân như vậy.
“Này Phạm chí, thợ
săn rành nghề ấy, hoặc giả vẫn không tin, vì rằng trong khu rừng ấy lại
còn có loại voi cái được gọi là Gia-la-lê,
thân thể rất cao lớn, nó có dấu chân này. Rồi thợ săn tìm theo dấu chân
này, lại thấy dấu chân voi to lớn. Thấy rồi, có thể tin rằng con voi này
phải hết sức to lớn mới có dấu chân như vậy.
“Này Phạm chí, thợ săn rành nghề ấy, hoặc giả vẫn không tin, vì rằng trong
rừng này còn có loại voi cái được gọi là Bà-hòa-nậu,
thân thể rất cao lớn, nó có dấu chân này. Bèn đi tìm dấu chân này. Lại
thấy dấu chân voi to lớn. Thấy rồi có thể tin rằng con voi này phải hết
sức to lớn mới có dấu chân này. Thợ săn sau khi tìm theo dấu chân, thấy
dấu chân voi rất lớn. Dấu chân voi rất lớn, vuông vức, rất dài, rất rộng,
toàn thể chu vi bàn chân lún sâu xuống đất, và thấy con voi ấy hoặc đi
lui, hoặc đi tới, hoặc dừng lại, hoặc chạy, hoặc đứng, hoặc nằm. Thấy con
voi ấy rồi bèn nghĩ ‘Nếu có dấu chân lớn ấy tất phải con voi lơn này’.
“Này Phạm chí, cũng
vậy, nếu trong đời xuất hiện Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu; vị ấy đối với thế gian này, gồm chư Thiên,
Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ người đến người, mà tự tri, tự giác, tự tác
chứng, thành tựu an trụ, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Vị ấy thuyết
pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có văn, có nghĩa, trọn đủ thanh
tịnh, hiển hiện phạm hạnh, pháp được vị áy thuyết giảng, hoặc Cư sĩ, hoặc
con nhà Cư sĩ, nghe xong được tín tâm. Sau khi ở trong chánh pháp luật của
Như Lai mà được tín tâm rồi, bèn nghĩ rằng ‘Tại gia chật hẹp, đầy những
nhọc nhằn bụi bặm. Đời xuất gia học đạo rộng rãi bao la. Ta nay sống tại
gia bị những phiền lớn khóa chặt, không được trọn đời tịnh tu phạm hạnh.
Vậy ta hãy từ bỏ những tài vật ít hay tài vật nhiều, từ giã thân thuộc lớn
hay thân thuộc nhỏ, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình để học đạo’.
“Người ấy về sau hãy
từ bỏ những tài vật ít hay tài vật nhiều, từ giã thân thuộc lớn hay thân
thuộc nhỏ, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình để học đạo. Vị ấy sau khi xuất gia, từ giã thân thuộc, thọ
yếu pháp Tỳ-kheo, tu tập cấm giới, thủ hộ Tùng giải thoát; lại khéo thu
nhiếp các oai nghi, lễ tiết, thấy những lỗi nhỏ nhặt cũng thường đem lòng
lo sợ, thọ trì học giới.
“Người ấy lìa bỏ sát
sanh, đoạn trừ sát sanh, dẹp bỏ dao gậy, có tàm, có quý, có tâm từ bi, làm
lợi ích cho tất cả, cho đến côn trùng. Người ấy đối với sự sát sanh, tâm
đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
lấy của không cho, đoạn trừ sự lấy của không cho, chỉ lấy của được cho,
vui trong sự lấy của được cho, thường ưa bố thí, hoan hỷ không keo kiết,
không trông chờ báo đáp. Người ấy đối với sự lấy của không cho, tâm đã
tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa phi
phạm hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh, siêng tu phạm hạnh, tinh cần diệu hạnh
thanh tịnh vô uế, ly dục, đoạn dâm. Người ấy đối với sự phi phạm hạnh tâm
đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa nói
láo, đoạn trừ nói láo, nói lời chắc thật, an trụ trên sự thật không di
động, nói tất cả những lời đều đáng tin, không lừa gạt thế gian. Người ấy
đối với sự nói láo, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi, sống không hai lưỡi,
không phá hoại người khác. Không nghe người này nói lại người kia để phá
hoại người này. Không nghe từ người kia nói lại người này để phá hoại
người kia. Chia rẽ thì làm cho hòa hợp, đã hòa hợp thì làm cho hoan hỷ.
Không kết bè đảng, không vui theo bè đảng, không ca ngợi việc kết bè đảng.
Người ấy đối với hai lưỡi, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa lời
nói cộc cằn, đoạn trừ nói cộc cằn. Nếu có lời nói nào mà lời lẽ thô lỗ,
tiếng dữ chói tai, mọi người không vui, mọi người không thích, khiến người
khác khổ não, khiến không được định, đoạn trừ những lời như vậy. Nếu có
những lời nào mà ôn hòa, mềm mỏng, nghe lọt tai, thấm vào lòng, đáng ưa,
đáng thích, khiến người khác an ổn, lời tiếng rõ ràng đầy đủ, không khiến
người sợ, khiến người được định. Nói những lời như vậy. Người ấy đối với
sự nói cộc cằn, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa nói
thêu dệt, đoạn trừ nói thêu dệt; nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói đúng
pháp, nói đúng nghĩa, nói tịch tịnh, nói sự ưa thích tịch tịnh, hợp sự
việc, hợp thời cơ, khéo khuyến giáo, khéo khiển trách. Người ấy đối với sự
nói thêu dệt, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa
việc buôn bán, dẹp bỏ cân đong và đấu hộc; cũng không nhận hàng hóa, không
buộc trói người, không mong đong lừa, cân thiếu, không vì lợi nhỏ mà xâm
hại, gạt gẫm người. Người ấy đối với sự buôn bán, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
thâu nhận đàn bà góa, đồng nữ, đoạn trừ sự thâu nhận đàn bà góa, đồng nữ.
Đối với sự thâu nhận đàn bà góa, đồng nữ, người ấy tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
thâu nhận nô tỳ, đoạn trừ sự thâu nhận nô tỳ. Người ấy đối với sự thâu
nhận nô tỳ, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
thâu nhận voi, ngựa, bò, dê, đoạn trừ sự thâu nhận voi, ngựa, bò, dê.
Người ấy đối với sự thâu nhận voi, ngựa, bò, dê, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
thâu nhận gà, heo, đoạn trừ sự thâu gà, heo. Người ấy đối với sự thâu nhận
gà, heo, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
thâu nhận ruộng vườn, quán xá, đoạn trừ sự thâu nhận ruộng vườn, quán xá.
Người ấy đối với sự thâu nhận ruộng vườn, quán xá, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
thâu nhận lúa, thóc, đậu sống, đoạn trừ sự thâu nhận lúa, thóc, đậu sống.
Người ấy đối với sự thâu nhận lúa, thóc, đậu sống, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa
rượu, đoạn trừ rượu. Người ấy đối với sự uống rượu, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa
giường cao rộng lớn, đoạn trừ giường cao rộng lớn. Người ấy đối với giường
cao rộng lớn, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa
tràng hoa, anh lạc, hương bột, phấn sáp; đoạn trừ tràng hoa, anh lạc,
hương bột, phấn sáp. Người ấy đối với tràng hoa, anh lạc, hương bột, phấn
sáp, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa ca,
vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe; đoạn trừ ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem
nghe. Người ấy đối với ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe, tâm đã tịnh
trừ.
“Người ấy xa lìa sự
thâu nhận tiền bạc, đoạn trừ sự thâu nhận tiền bạc. Người ấy đối với sự
thâu nhận tiền bạc, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy xa lìa sự
ăn quá ngọ, đoạn trừ sự ăn quá ngọ. Người ấy đối với sự ăn quá ngọ, tâm đã
tịnh trừ.
“Người ấy sau khi
thành tựu Thánh giới tụ này rồi, lại sống hết sức tri túc, áo chỉ cốt che
thân, ăn chỉ cốt nuôi thân, du hành đến đâu đều mang theo y bát, đi không
luyến tiếc, cũng như con nhạn mang theo đôi cánh bay liệng trong không.
“Người ấy sau khi
thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc rồi, lại thủ hộ các căn,
thường niệm sự khép kín, niệm tưởng muốn minh đạt, thủ hộ niệm tâm mà được
thành tựu, hằng mướn khởi ý. Khi mắt thấy sắc, không chấp thủ sắc tướng,
không đắm sắc vị; vì sự phẫn tránh
mà thủ hộ căn con mắt, trong tâm không sanh tham lam, ưu não, ác bất thiện
pháp, vì thú hướng đến kia,
nên thủ hộ căn con mắt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, khi ý biết pháp
không chấp thủ pháp tướng, không đắm pháp vị; vì sự phẫn tránh mà thủ hộ ý
căn, trong tâm không sanh tham lam, ưu não, ác bất thiện pháp, vì thú
hướng đến kia, nên thủ hộ ý căn.
“Người ấy sau khi
thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc, thủ hộ các căn rồi, lại
biết rõ chân chánh sự ra vào, khéo quán sát phân biệt sự co, duỗi, cúi,
ngước, nghi dung chững chạc, khéo đắp Tăng-già-lê và mang các y bát; đi,
đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, nói năng thảy đều biết rõ chân chánh.
“Người ấy sau khi
thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc, thủ hộ các căn, biết rõ
chân chánh sự ra vào rồi lại sống cô độc tại nơi xa vắng, ở trong rừng
vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, những nơi trống vắng yên tĩnh, sườn
non, động đá, đất trống, lùm cây, hoặc đến trong rừng, hoặc giữa bãi tha
ma. Người ấy sau khi ở trong rừng vắng, hoặc đến gốc cây, những chỗ không
nhàn yên tĩnh, trải ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già, chánh thân chánh nguyện,
hướng niệm nội tâm,
đoạn trừ tâm tham lam, không có não hại, thấy tài vật và các nhu dụng sinh
sống của người khác mà không khởi tâm tham lam muốn khiến về mình. Người
ấy đối với tham lam, tâm được tịnh trừ.
“Cũng vậy, đối với
sân nhuế, thùy miên, trạo hối, đoạn trừ nghi hoặc, đối với các thiện pháp
không còn do dự. Vị ấy đối với sự nghi hoặc, tâm đã tịnh trừ.
“Người ấy đoạn trừ
năm triền cái này, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly ác bất
thiện pháp, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền,
thành tựu an trụ.
“Này Phạm chí, đó
gọi là điều được Như Lai khuất, được Như Lai hành, được Như Lai phục,
nhưng người ấy không cho đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói là toàn thiện,
Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Rồi người ấy giác
quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán, hỷ lạc do định
sanh, chứng đắc Nhị thiền, thành tựu an trụ.
“Này Phạm chí, đó
gọi là điều được Như Lai khuất, được Như Lai hành, được Như Lai phục,
nhưng người ấy không cho đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói là toàn thiện,
Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Rồi người ấy ly hỷ
dục, xả, vô cầu, an trụ nơi chánh niệm, chánh trí, thân cảm lạc thọ, điều
mà Thánh nói là Thánh sở xả niệm lạc trụ thất, đạt đến Tam thiền, thành
tựu an trụ.
“Này Phạm chí, đó
gọi là điều được Như Lai khuất, được Như Lai hành, được Như Lai phục,
nhưng người ấy không cho đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói là toàn thiện,
Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Rồi người ấy lạc
diệt, khổ diệt, ưu hỷ vốn cũng đã diệt, không lạc, không khổ, xả niệm
thanh tịnh, đạt đến Tứ thiền, thành tựu an trụ.
“Này Phạm chí, đó
gọi là điều được Như Lai khuất, được Như Lai hành, được Như Lai phục,
nhưng người ấy không cho đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói là toàn thiện,
Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Người ấy sau khi
đạt đến tịnh tâm như vậy, thanh tịnh, không uế, không phiền, nhu nhuyến,
an trụ vững vàng, đạt được bất động tâm, thú hướng đến sự tác chứng lậu
tận trí thông. Người ấy biết như thật đây là Khổ, biết như thật đây là Khổ
tập, đây là Khổ diệt, đây là Khổ diệt đạo, biết như thật đây là lậu, biết
như thật đây là lậu tận, đây là lậu diệt, đây là lậu diệt đạo.
“Người ấy biết như
vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, vô minh
lậu. Giải thoát rồi thì biết mình đã giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái
sanh nữa’.
“Này Phạm chí, đó
gọi là điều được Như Lai khuất, được Như Lai hành, được Như Lai phục,
Người ấy lấy đây làm cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói là toàn thiện, Thánh chúng
đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Này Phạm chí, ý ông
nghĩ sao? Thí dụ về dấu chân voi như vậy là khéo trình bày được trọn vẹn
chăng?”
Phạm chí Sanh Văn
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã rõ. Bạch Thế Tôn, con nay tự quy y Phật,
Pháp và chúng Tỳ-kheo Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ
hôm nay tự quy y cho đến mạng tận.”
Phật thuyết như vậy.
Phạm chí Sanh Văn và Dị học Ti-lô sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng
hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 12
142
|
143
|
144
|
145
|
146
|
147
|
148
|
149
|
150
|
151
152
|
153
|
154
|
155
|
156
|
157
|
158
|
159
|
160
|
161
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003