SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 12
PHẨM PHẠM CHÍ
(phần đầu)
145. KINH CÙ-MẶC
MỤC-KIỀN-LIÊN
Tôi
nghe như vầy:
Một thời, sau khi
Đức Phật Bát-niết-bàn chưa bao lâu, Tôn giả A-nan du hóa tại thành Vương
xá.
Lúc bấy giờ đại thần
Vũ Thế,
nước Ma-kiệt-đà, đang chỉnh trị thành Vương xá để phòng ngừa dân Bạt-kỳ.
Rồi đại thần Vũ Thế sai Cù mặïc Mục-kiền-liên, một người làm ruộng,
đi đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà.
Bấy giờ Tôn giả
A-nan vào lúc sáng sớm khoác y ôm bát vào thành Vương xá để khất thực, rồi
Tôn giả A-nan nghĩ rằng: “Hãy gác việc khất thực trong thành Vương xá lại
đã. Ta hãy đến chỗ Cù-mặïc Mục-kiền-liên, người làm ruộng.”
Phạm chí Cù-măïc
Mục-kiền-liên
từ xa trông thấy Tôn giả A-nan đi đến, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, trịch
vai áo đang mặc, chắp tay hướng về Tôn giả A-nan, bạch rằng:
“Kính chào A-nan,
lâu nay không thấy đến. Xin mời ngồi trên chỗ này.”
Tôn giả A-nan liền
ngồi trên chỗ ngồi đó.
Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên sau khi chào hỏi Tôn giả A-nan, rồi ngồi xuống một bên mà
bạch rằng:
“Bạch A-nan, tôi có
điều muốn hỏi, mong nghe cho chăng?”
Tôn giả A-nan trả
lời rằng:
“Mục-kiền-liên, ông
cứ hỏi đi. Tôi nghe xong sẽ suy nghĩ .”
Bèn hỏi rằng:
“Bạch A-nan, có
Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn Cù-đàm chăng?”
Trong khi Tôn giả
A-nan và Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên đang thảo luận vấn đề này thì đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà đang đi ủy lạo những người làm ruộng,
đến chỗ của Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên, người làm ruộng. Đại thần Vũ Thế từ xa trông thấy Tôn giả
A-nan ở trong chỗ Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên, người làm ruộng, bèn đi đến chỗ Tôn giả A-nan. Sau khi chào
hỏi xong, ngồi xuống một bên, hỏi rằng:
“Bạch A-nan, vừa rồi
cùng với Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên thảo luận vấn đề gì vậy? Vì việc gì mà cùng hội họp ở đây?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Vũ Thế, Phạm chí
Cù-mặc
Mục-kiền-liên hỏi tôi rằng ‘A-nan, có Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn
Cù-đàm chăng?”
Đại thần Vũ Thế,
nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
“A-nan, ngài trả lời
ông ấy như thế nào?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Vũ Thế, hoàn
toàn không một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Thế Tôn được.”
Đại thần Vũ Thế,
nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
“Vâng, A-nan, không
một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Thế Tôn được. Nhưng có Tỳ-kheo nào được
Sa-môn Cù-đàm trong lúc tại thế lập nên và nói rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi
Ta Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa của các Tỳ-kheo’, và vị ấy nay là nơi
nương tựa của các người?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Vũ Thế, hoàn
toàn không một Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, Bậc Tri Kiến,
được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trong lúc tại thế lập lên
và nói rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các
Tỳ-kheo’ và ngày nay đang là chỗ nương tựa cho chúng tôi.”
Đại thần Vũ Thế,
nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
“Vâng, A-nan, không
một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn Cù-đàm, cũng không một Tỳ-kheo nào
được Sa-môn Cù-đàm trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta
Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo và ngày nay đang là chỗ nương
tựa cho các Tỳ-kheo’ và vị ấy nay là nơi nương tựa cho các người. Nhưng có
Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp và bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau
khi Thế Tôn Niết-bàn là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’, và vị ấy nay đang
là nơi nương tựa của các người?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Vũ Thế, cũng
không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo
này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ và vị ấy
nay đang là chỗ nương tựa cho chúng tôi.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà lại hỏi:
“Vâng, A-nan, không
một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn Cù-đàm, cũng không một Tỳ-kheo nào
được Sa-môn Cù-đàm trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta
Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi
nương tựa cho các người. Cũng không Tỳ-kheo nào được Tăng chúng hòa hiệp
bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa
cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho các người. Này
A-nan, nếu vậy các người hiện tại không có ai để nương tựa, nhưng cùng
sống hòa hiệp, không tranh chấp, an ổn, đồng nhất một giáo pháp, cùng hiệp
nhất như nước với sữa, khoái lạc du hành như trong lúc Sa-môn Cù-đàm tại
thế chăng?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Vũ Thế, ông
đừng nói rằng chúng tôi không có ai để nương tựa. Vì sao vậy? Thật sự
chúng tôi có nơi nương tựa.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà đáp rằng:
“Bạch A-nan, những điều được nói trước và sau sao lại không phù hợp nhau?
A-nan vừa nói như vầy ‘Không một Tỳ-kheo nào sánh ngang Thế Tôn, cũng
không một Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, Bậc Tri Kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta
Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi
nương tựa cho chúng tôi. Cũng không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa
hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi
nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay là nơi nương tựa cho chúng tôi’.
Nhưng này A-nan, do nhân gì, duyên gì, nay lại nói rằng ‘Thật sự chúng tôi
có nơi nương tựa’?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Vũ Thế, chúng
tôi không nương tựa nơi người, nhưng nương tựa nơi pháp. Này Vũ Thế, nếu
chúng tôi nương tựa nơi thôn ấp mà sống, vào ngày mười lăm là ngày thuyết
Tùng giải thoát, cùng tập họp ngồi tại một chỗ. Nếu có Tỳ-kheo nào hiểu
biết pháp, chúng tôi thỉnh vị ấy thuyết pháp cho chúng tôi. Nếu chúng Tăng
ấy được thanh tịnh, chúng tôi hoan hỷ phụng hành pháp mà Tỳ-kheo ấy đã
nói. Nếu chúng Tăng ấy không thanh tịnh, tùy theo pháp được nói, chúng tôi
khuyên dạy làm cho đúng.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà bạch rằng:
“Bạch A-nan, không
phải các ngài khuyên dạy làm cho đúng, nhưng chính là pháp khuyên dạy làm
cho đúng. Như vậy, A-nan, một ít pháp hay có nhiều pháp thảy đều có thể
được tồn tại lâu dài, và như vậy A-nan, các ngài sống hòa hiệp không tranh
chấp, an ổn, đồng nhất một giáo pháp, cùng hiệp nhất như nước với sữa,
khoái lạc du hành như lúc Sa-môn Cù-đàm tại thế.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà lại hỏi:
“Này A-nan, có vị
nào đáng tôn kính chăng?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Vũ Thế, có vị
xứng đáng được tôn kính.”
Vũ Thế bạch rằng:
“Bạch A-nan, những
điều được nói sao lại trước sau không phù hợp nhau? A-nan vừa nói như vầy
‘Không một Tỳ-kheo nào sánh ngang Thế Tôn, cũng không một Tỳ-kheo nào được
Thế Tôn trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bàn sẽ
là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo” để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho
chúng tôi. Cũng không có một Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp bái lập
lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các
Tỳ-kheo’ để nay vị ấy đang là nơi nương tựa cho chúng tôi. Nhưng này
A-nan, do nhân gì, duyên gì nay lại nói rằng ‘Có vị xứng đáng được tôn
kính’?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Vũ Thế, Thế
Tôn, bậc Tri kiến, là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đã có dạy
về mười pháp đáng tôn kính.
Nếu chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào có mười pháp này, chúng tôi cùng ái kính,
tôn trọng, cúng dường, lễ sự Tỳ-kheo ấy.”
“Những gì là mười?
“Này Vũ Thế, Tỳ-kheo
tu tập cấm giới, thủ hộ Tùng giải thoát, lại khéo thu nhiếp oai nghi lễ
tiết, thấy tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới.
Này Vũ Thế, nếu chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào tích cực hành trì tăng thượng
giới thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự
Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy sự bác văn,
đối với những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, cụ
túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh, đối với các pháp như vậy, học rộng
nghe nhiều, tụng thuộc cho đến hằng nghìn, chuyên ý tư duy quán sát, thấy
rõ, hiểu sâu.
Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào tích cực đa văn thì chúng tôi
cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo ấy xứng đáng là thiện tri thức, xứng đáng là thiện bằng hữu,
xứng đáng là người bạn đồng hành tốt. Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy
Tỳ-kheo nào thật sự xứng đáng là thiện tri thức, thì chúng tôi cùng ái
kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo ưa thích đời sống viễn ly, thành tựu cả hai sự viễn ly là
thân và tâm. Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào thật sự rất ưa
thích đời sống viễn ly thì chúng tôi ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn
phụng, lễ sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo ưa thích sự tĩnh tọa, nội hành tĩnh chỉ vắng lặng,
cũng không rời tư sát, thành tựu quán hạnh, tăng trưởng không hành.
Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào rất ưa thích sự tĩnh tọa, thì
chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự Tỳ-kheo
ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo tri túc, áo cốt che thân, ăn chỉ để sống, đi đâu đều mang
theo y bát, đi không luyến tiếc. Cũng như con nhạn mang theo đôi cánh bay
liệng trong hư không; cũng vậy, Tỳ-kheo tri túc, áo cốt che thân, ăn chỉ
để sống, đi đâu đều mang theo y bát, đi không luyến tiếc. Này Vũ Thế, khi
chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào rất tri túc thì chúng tôi cùng ái kính, tôn
trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo thường hành chuyên niệm, thành tựu chánh niệm, những gì đã
tập hành từ lâu, những gì đã từng nghe từ lâu, hằng ghi nhớ không quên.
Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào rất chánh niệm thì chúng tôi
thường ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo thường hành tinh tấn, đoạn trừ ác bất thiện, tu tập các thiện
pháp, hằng tự khởi ý, chuyên nhất kiên cố, đối với các gốc rễ thiện pháp
không từ bỏ phương tiện. Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào rất
tinh cần thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ
sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo tu hành trí tuệ, quán pháp hưng suy, được như thật trí, thánh
tuệ minh đạt, phân biệt thông suốt để chân chánh diệt tận sự khổ. Này Vũ
Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào tích cực tu hành trí tuệ thì chúng tôi
cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Tỳ-kheo các lậu đã diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ
giải thoát, tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết như
thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không
còn tái sanh nữa’. Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào các lậu đã
diệt tận, thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ
sự Tỳ-kheo ấy.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, Thế Tôn, Bậc Tri Kiến, là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
giảng thuyết mười pháp xứng đáng được tôn kính này. Này Vũ Thế, khi chúng
tôi thấy Tỳ-kheo nào hành mười pháp này thì chúng tôi cùng ái kính, tôn
trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ sự Tỳ-kheo ấy.”
Lúc bấy giờ, đám
đông ở đây cất cao tiếng lớn nói:
“Có thể tu tập con
đường chánh trực chứ không phải không thể tu. Nếu ai tu tập con đường
chánh trực, chứ không phải không thể tu thì vị ấy là A-la-hán ở trong đời,
xứng đáng ái kính, tôn trọng, cúng dường, lễ sự. Nếu các ngài đối với con
đường chánh trực nên tu tập mà có thể tu tập, thế thì trong đời các ngài
là A-la-hán, xứng đáng ái kính, tôn trọng, cúng dường, lễ sự.”
Rồi đại thần Vũ Thế
nước Ma-kiệt-đà cùng với đám tùy tùng nói:
“A-nan, nay đang trú
tại đâu?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Tôi đang du hành
tại Vương xá này, ở trong Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà.”
“A-nan, vườn trúc
Ca-lan-đà thật là khả ái, đáng ưa, rất chỉnh đốn, dễ thích. Ban ngày không
ồn ào, ban đêm vắng lặng, không có muỗi mòng, ruồi nhặng, không lạnh,
không nóng. A-nan, ngài thích sống trong Trúc lâm Ca-lan-đà chăng?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Thật vậy, Vũ Thế,
vườn trong Trúc lâm Ca-lan-đà rất khả ái, dễ ưa, rất chỉnh đốn, dễ thích,
ban ngày không ồn ào, ban đêm thì vắng lặng, không có muỗi mòng, không có
ruồi nhặng, không lạnh, không nóng. Này Vũ Thế, tôi thích trú trong vườn
Trúc lâm Ca-lan-đà ấy. Vì sao? Vì được Tôn giả ủng hộ.”
Lúc ấy, đại tướng
Bà-nan
cũng ở giữõa đám đông ấy. Đại tướng Bà-nan thưa:
“Thật vậy, Vũ Thế,
vườn trong Trúc lâm Ca-lan-đà rất khả ái, dễ ưa, rất chỉnh đốn, dễ thích,
ban ngày không ồn ào, ban đêm thì vắng lặng, không có muỗi mòng, không có
ruồi nhặng, không lạnh, không nóng. Tôn giả ấy thích trú tại Trúc lâm
Ca-lan-đà. Vì sao vậy? –Vì Tôn giả này hành thiền tứ, ưa thích thiền tứ.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà nghe xong bèn nói:
“Này đại tướng
Bà-nan, trước đây, khi Sa-môn Cù-đàm du hành lạc viên Kim-bệ-la,
này đại tướng Bà-nan, lúc bấy giờ tôi nhiều lần đến thăm Sa-môn Cù-đàm. Vì
sao vậy? Sa-môn Cù-đàm hành thiền tứ, ưa thích thiền tứ, tán thán tất cả
thiền tứ.”
Tôn giả A-nan nghe
xong, nói rằng:
“Vũ Thế, đừng nói
rằng: Sa-môn Cù-đàm tán thán tất cả thiền tứ. Vì sao vậy? Thế Tôn có khi
tán thán thiền tứ, nhưng có khi không tán thán.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma Kiệt lại hỏi:
“A-nan, Sa-môn
Cù-đàm không tán thán thiền tứ; nhưng không tán thán loại thiền tứ nào?”
Tôn giả A-nan đáp
rằng:
“Vũ Thế, hoặc có
người bị trói buộc bởi tham dục mà phát khởi tham dục, không biết như thật
sự xuất yếu. Người ấy vì bị chướng ngại bởi tham dục cho nên thiền tứ,
tăng gia thiền tứ mà trầm trọng thiền tứ.
Đó là loại thiền tứ thứ nhất mà Thế Tôn không tán thán.
“Lại nữa, Vũ Thế, hoặc có người bị triền phược bởi sân nhuế mà móng khởi
sân nhuế, không biết như thật sự xuất yếu, người ấy vì bị chướng ngại bởi
sân nhuế cho nên thiền tứ, tăng gia thiền tứ mà trầm trọng thiền tứ. Vũ
Thế, đó là loại thiền tứ thứ hai Thế Tôn không tán thán.
“Lại nữa, này Vũ Thế, bị triền phược bởi thùy miên mà móng khởi thùy miên,
không biết như thật sự xuất yếu. Người ấy vì bị chướng ngại bởi thùy miên
cho nên thiền tứ, tăng gia thiền tứ, mà trầm trọng thiền tứ. Vũ Thế, đó là
loại thiền tứ thứ ba mà Thế Tôn không tán thán.
“Lại nữa, này Vũ
Thế, bị triền phược bởi nghi hoặc mà móng khởi nghi hoặc, không biết như
thật sự xuất yếu. Người ấy vì bị chướng ngại bởi nghi hoặc cho nên thiền
tứ, tăng gia thiền tứ, mà trầm trọng thiền tứ. Vũ Thế, đó là loại thiền tứ
thứ tư Thế Tôn không tán thán.
“Này Vũ Thế, Thế Tôn
không tán thán bốn loại thiền tứ này.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà bạch rằng:
“Bạch A-nan, bốn
loại tư sát này thật đáng ghét, là những trường hợp đáng ghét, Sa-môn
Cù-đàm không tán thán. Vì sao vậy? Vì là Bậc Chánh Đẳng Giác vậy.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà lại hỏi:
“A-nan, những loại thiền tứ nào được Sa-môn Cù-đàm tán thán?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Vũ Thế, tỳ-kheo ly
dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ.
Này Vũ Thế, Thế Tôn tán thán bốn loại thiền tứ này.”
Đại thần Vũ Thế nước
Ma-kiệt-đà bạch rằng:
“Bạch A-nan, bốn
loại thiền tứ này thật đáng tán thán, là những trường hợp đáng tán thán,
được Sa-môn Cù-đàm tán thán. Vì sao vậy? Vì là Bậc Chánh Đẳng Giác vậy.
A-nan, tôi nhiều việc ứ đọng, xin phép cáo từ.”
Tôn giả A-nan nói:
“Xin cứ tùy ý.”
Rồi đại thần Vũ Thế,
nước Ma-kiệt-đà sau khi nghe Tôn giả A-nan nói, cẩn thận ghi nhớ, từ chỗ
ngồi đứng dậy, đi quanh Tôn giả ba vòng rồi trở lui.
Lúc bấy giờ Phạm chí
Cù-mặc Mục-kiền-liên sau khi đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà đi không bao
lâu, bạch rằng:
“Bạch A-nan, phải chăng những điều tôi hỏi đã không được trả lời?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Mục-kiền-liên, quả
thật tôi đã không trả lời.”
Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên bạch rằng:
“A-nan, tôi lại có
điều muốn hỏi, mong nghe cho chăng?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Mục-kiền-liên, ông
cứ hỏi. Tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.”
Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên bèn hỏi rằng:
“A-nan, giải thoát
và tuệ giải thoát của Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và giải
thoát của A-la-hán, ba giải thoát này có sự sai biệt nào và có sự thắng
liệt nào chăng?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Này Mục-kiền-liên,
giải thoát và tuệ giải thoát của Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác
và giải thoát của A-la-hán, ba giải thoát này không có sai biệt, cũng
không có sự thắng liệt.”
Phạm chí Cù-mặc
Mục-kiền-liên bạch rằng:
“Bạch A-nan, mong
ngài ở lại đây dùng cơm.”
Tôn giả A-nan im
lặng nhận lời.
Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên biết Tôn giả A-nan im lặng nhận lời bèn rời
khỏi chỗ ngồi đứng dậy, tự tay lấy nước, rửa dọn các thức ăn rất tịnh diệu
với các loại nhai và nuốt rất thịnh soạn, tự tay châm chước cho đến no đủ.
Ăn xong, dọn dẹp chén bát, dùng nước rửa xong, lấy một cái giường nhỏ ngồi
riêng một bên nghe pháp. Tôn giả A-nan thuyết pháp cho ông nghe, khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện
thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ xong, Tôn giả
A-nan đứng dậy ra về.
Tôn giả A-nan thuyết
như vậy. Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà và Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên
sau khi nghe Tôn giả A-nan thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 12
142
|
143
|
144
|
145
|
146
|
147
|
148
|
149
|
150
|
151
152
|
153
|
154
|
155
|
156
|
157
|
158
|
159
|
160
|
161
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003