SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 12
PHẨM PHẠM CHÍ
(phần đầu)
143. KINH THƯƠNG-CA-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ, Ma-nạp
Thương-ca-la
sau giữa trưa, thong dong tản bộ, đi đến chỗ Phật, chào hỏi xong, ngồi
xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm, con có
điều muốn hỏi, mong Ngài nghe cho mới dám trình bày”.
Thế Tôn nói:
“Ma-nạp, muốn hỏi gì
cứ hỏi”.
Ma-nạp Thương-ca-la
bèn hỏi:
“Bạch Cù-đàm, Phạm
chí đúng như pháp mà hành khất tài vật, tự mình trai tự,
hoặc dạy người khác trai tự. Bạch Cù-đàm, nếu tự mình trai tự hay dạy
người khác trai tự, những người ấy đều hành trên vô lượng phước tích,
vì do nơi trai tự vậy. Đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, tùy theo dòng tộc,
cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình để học đạo, tự mình chế ngự, tự mình tịch tịnh, tự mình cứu cánh tịch
diệt. Như vậy, đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, thùy theo dòng tộc, chỉ hành trên
một phước tích chứ không hành trên vô lượng phước tích, do bởi sự học đạo
vậy.”
Bấy giờ Tôn giả
A-nan đang cầm quạt đứng hầu Phật, rồi Tôn giả A-nan hỏi:
“Này Ma-nạp, trong
hai đạo tích ấy, đạo tích nào là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”
Ma-nạp Thương-ca-la
nói:
“A-nan, đối với
Sa-môn Cù-đàm và A-nan, tôi đều cung kính tôn trọng, phụng thờ.”
Tôn giả A-nan lại
hỏi:
“Này Ma-nạp, tôi
không hỏi ông cung kính, tôn trọng, phụng thờ ai, mà tôi chỉ hỏi ông rằng,
trong hai đạo tích ấy, đạo tích nào là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”
Tôn giả A-nan đến ba
lần hỏi Ma-nạp Thương-ca-la rằng:
“Này Ma-nạp, trong
hai đạo tích ấy, đạo tích nào là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”
Ma-nạp Thương-ca-la
cũng đến ba lần nói rằng:
“A-nan, đối với
Sa-môn Cù-đàm và A-nan, tôi đều cung kính, tôn trọng, phụng thờ.”
Tôn giả A-nan cũng
nói lại:
“Này Ma-nạp, tôi
không hỏi ông cung kính, tôn trọng, phụng thờ ai, mà tôi chỉ hỏi ông rằng,
trong hai đạo tích ấy, đạo tích nào là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”
Lúc bấy giờ Đức Thế
Tôn nghĩ rằng: “Ma-nạp Thương-ca-la này đã bị A-nan khuất phục. Ta hãy cứu
nó!”
Thế Tôn biết vậy
rồi, bèn hỏi:
“Này Ma-nạp, hôm
qua, khi vua và các quần thần triệu tập đại hội, thảo luận những gì? Vì
những duyên cớ nào mà cùng tập hội?”
Ma-nạp Thương-ca-la
đáp:
“Ngày hôm qua, vua
và quần thần triệu tập đại hội để thảo luận vấn đề này, là ‘Do nhân gì,
duyên gì mà xưa kia Sa-môn Cù-đàm thiết lập học giới ít, nhưng các Tỳ-kheo
đắc đạo nhiều; và do nhân gì, duyên gì mà ngày nay khi Sa-môn Cù-đàm thiết
lập học giới nhiều thì các Tỳ-kheo đắc đạo lại ít?’
Bạch Cù-đàm, ngày hôm qua, vua và quần thần triệu tập đại hội để thảo luận
vấn đề này. Do sự kiện này mà triệu tập đại hội.”
Bấy giờ, Thế Tôn nói
rằng:
“Ma-nạp, bây giờ Ta hỏi ngươi, hãy tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Ý
ngươi nghĩ sao? Giả sử có một Sa-môn, Phạm chí tự hành đạo như vậy, tích
như vậy; và sau khi tự hành đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt
tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri, tự giác, tự
tác chứng, thành tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Vị ấy sau đó thuyết
giảng cho người khác rằng: ‘Ta tự hành đạo như vậy, tích như vậy, và sau
khi tự hành đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô
lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành
tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Các người hãy đến đây và cũng
hãy tự hành đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi tự hành đạo như vậy,
tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ
giải thoát, tự tri, tự giác. tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết như
thật: Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không
còn tái sanh nữa’.
“Rồi người này cũng
tự hành đạo như vậy, tích như vậy. Sau khi tự hành đạo như vậy, tích như
vậy, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát,
tự tri tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết như thật: Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.
Rồi người này lại
cũng thuyết giảng cho người khác nữa. Cứ như vậy lần lượt truyền đi cho
đến trăm ngàn vô lượng.
“Này Ma-nạp, ý ngươi
nghĩ sao? Đệ tử của Ta, tùy theo dòng tộc, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa,
chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình để học đạo, chỉ hành trên một
phước tích, không hành trên vô lượng phước tích, có phải là do bởi sự học
đạo chăng?”
Ma-nạp Thương-ca-la
đáp:
“Bạch Cù-đàm, theo
sự hiểu biết của con đối với điều mà Sa-môn Cù-đàm nói, thì đệ tử Sa-môn
Cù-đàm ấy, tùy theo dòng tộc, cạo bỏ râu tóc, chí tín, lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình để học đạo, thật sự hành trên vô lượng phước tích, chứ
không chỉ hành trên một phước tích do bởi sự học đạo.”
Thế Tôn lại nói với
Thương-ca-la:
“Có ba thị hiện
là, như ý túc thị hiện, chiêm niệm thị hiện, giáo huấn thị hiện.
“Ở đây, nếu có một
Sa-môn, Phạm chí có đại như ý túc, đại oai đức, đại phước hựu, đại oai
thần, đối với như ý túc, tâm được tự tại, hành vô lượng công đức của như ý
túc như vầy; nghĩa là phân một làm thành nhiều, hợp nhiều làm thành một,
một thì trụ trên một, được biết, được thấy;
không bị trở ngại bởi vách đá, cũng như đi trong hư không; chìm xuống đất
như chìm xuống nước, đi trên nước như đi trên đất; ngồi xếp kiết già mà
bay trên không như chim bay liệng; với mặt trời và mặt trăng này vốn có
đại như ý túc, đại phước hựu, đại oai thần mà có thể đưa tay bắt nắm, thân
cao đến trời Phạm thiên. Này Ma-nạp, đó là thị hiện bằng như ý túc.
“Này Ma-nạp, thế nào
là chiêm niệm thị hiện? Hoặc có một Sa-môn, Phạm chí do nơi tướng trạng
của người khác mà chiêm đoán được ý tưởng của họ, rằng ‘Nó có ý nghĩ như
thế này, nó có ý nghĩ như thế kia, nó thật sự có ý nghĩ’; vô lượng chiêm
đoán thì không ít chiêm đoán, nhưng tất cả thảy đều chắc thật, chứ không
phải là những giả thiết viễn vông. Hoặc giả không do nơi tướng trạng của
người khác để đoán biết ý tưởng của họ, nhưng do nghe tiếng của chư Thiên
và loài phi nhân mà đoán biết được ý tưởng của người khác rằng ‘Nó có ý
nghĩ như thế này, nó có ý nghĩ như thế kia, thật sự nó có ý nghĩ như vậy’
vô lượng chiêm đoán, không ít chiêm đoán, nhưng tất cả thảy đều chắc thật,
chứ không phải là những giả thiết viễn vông. Hoặc không do nơi tướng dạng
của người khác để đoán biết ý tưởng của họ, cũng không nghe tiếng của chư
Thiên và các loài phi nhân, nhưng do tâm niệm của người khác, tâm tư của
người khác, ngôn thuyết của người khác. Sau khi nghe tiếng rồi đoán biết
được ý tưởng của người khác rằng ‘Nó có ý tưởng như thế này, nó có ý tưởng
như thế kia, nó thật sự có ý tưởng như vậy’ vô lương chiêm nghiệm đoán,
không ít chiêm đoán, nhưng tất cả thảy đều chắc thật, chứ không phải là
những giả thuyết viễn vông. Hoặc không do nơi tướng dạng của người khác để
đoán biết ý tưởng của người khác, cũng không nghe tiếng của chư Thiên và
loài phi nhân để đoán biết ý tưởng của người khác, cũng không do nơi tâm
niệm của người khác, nhưng do nơi tâm tư, nơi ngôn thuyết của người khác
để sau khi nghe rồi, đoán biết ý tưởng của người khác, nhưng do thấy người
khác nhập vào định không giác không quán,
sau khi thấy bèn nghĩ rằng ‘Như Hiền giả này thì không có niệm, không có
tư, sở nguyện như ý. Hiền giả kia ra khỏi định này với niệm như vậy. Vị ấy
ra khỏi định này sẽ có tâm niệm như vậy, như vậy’. Người này cũng đoán
biết việc quá khứ, cũng đoán biết việc tương lai, cũng đoán biết việc hiện
tại, những điều được làm từ lâu, những điều được nói từ lâu, cũng đoán
biết những nơi yên tĩnh, sống nơi yên tĩnh, cũng đoán biết tất cả pháp tâm
và tâm sở hữu. Đó gọi là thiện bằng sự chiêm niệm.
“Này Ma-nạp, thế nào
là giáo huấn thị hiện? Ở đây có một Sa-môn, Phạm chí tự hành đạo như vậy,
tích như vậy, và sau khi hành đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt
tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự
tác chứng, thành tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi vị ấy giảng
thuyết lại cho người khác rằng ‘Ta tự hành đạo như vậy, tích như vậy, và
sau khi hành đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô
lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành
tựu an trụ, biết như thật Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm
đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi người đó cũng tự hành đạo như
vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát,
tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết như
thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không
còn tái sanh nữa. Rồi người đó cũng lại thuyết giảng cho người khác. Cứ
như vậy... lần lượt truyền đi cho đến vô lượng trăm ngàn. Này Ma-nạp, đó
gọi là sự thị hiện bằng giáo huấn.
“Trong ba thị hiện
này, thị hiện nào là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”
Thương-ca-la Ma-nạp
đáp rằng:
“Bạch Cù-đàm, nếu
Sa-môn, Phạm chí nào có đại như ý túc, đại oai đức, đại phước hựu, đối với
như ý túc, tâm được tự tại, cho đến, thân cao đến trời Phạm thiên, thưa
Cù-đàm, cái đó là tự mình làm tự mình có, tự mình thọ lãnh quả báo. Thưa
Cù-đàm, trong các thị hiện, sự thị hiện này được gọi là đại pháp.
“Bạch Cù-đàm, nếu
Sa-môn, Phạm chí nào do nơi tướng dạng mà đoán biết ý tưởng của người
khác, cho đến các pháp tâm và tâm sở hữu, thì bạch Cù-đàm, cái đó là tự
mình làm tự mình có, tự mình thọ lãnh quả báo. Thưa Cù-đàm, trong các thị
hiện, sự thị hiện này được gọi là đại pháp.
“Bạch Cù-đàm, nếu
Sa-môn, Phạm chí nào tự hành đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi tự hành
đạo như vậy, tích như vậy, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải
thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ,
biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi vị ấy thuyết giảng cho người khác nữa.
Cứ như vậy lần lượt truyền đi cho đến trăm ngàn vô lượng, thì bạch Cù-đàm,
trong ba thị hiện, sự thị hiện này là tối thượng, tối diệu, tối thắng.”
Thế Tôn lại hỏi
Thương-ca-la Ma-nạp:
“Trong ba thị hiện,
ngươi tán thán sự thị hiện nào?”
Ma-nạp Thương-ca-la
đáp:
“Trong ba thị hiện,
con tán thán Sa-môn Cù-đàm. Vì sao vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm có đại như ý túc,
có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, cho
đến thân cao ngang Phạm thiên. Sa-môn Cù-đàm do nơi tướng dạng của người
khác mà biết ý tưởng của người khác, cho đến đoán biết các tâm và tâm sở
hữu pháp. Sa-môn Cù-đàm thị đạo với đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi
hành đạo này, tích này, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải
thoát, tuệ giải thoát, thành tựu an trụ, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
Sa-môn Cù-đàm thuyết giảng cho người khác, rồi người khác thuyết giảng cho
người khác nữa. Như vậy, lần lượt truyền đi cho đến trăm ngàn vô lượng.
Bạch Cù-đàm, cho nên, đối với ba thị hiện, con tán thán Sa-môn Cù-đàm.”
Rồi Thế Tôn nói
rằng:
“Ma-nạp, người khéo
thấu suốt vấn đề này. Vì sao? Thật sự Ta có đại như ý túc, đại oai thần,
đại phước hựu, đại oai thần, đối với như ý túc, tâm được tự tại, cho đến,
thân cao ngang Phạm thiên. Này Ma-nạp, Ta do tướng dạng người khác mà biết
được ý tưởng của người khác, cho đến đoán biết tâm và tâm sở hữu pháp.
“Này Ma-nạp, Ta tự
hành đạo như vậy, tích như vậy, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm
giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành tựu an
trụ, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi Ta giảng thuyết cho người khác, người
khác cũng giảng thuyết cho người khác nữa. Như vậy, lần lượt truyền đi cho
đến trăm ngàn vô lượng.
“Này Ma-nạp, cho nên
ngươi khéo thấu suốt vấn đề này. Ngươi hãy biết như vậy, hãy khéo thọ trì
như vậy. Vì sao? Bởi vì ý nghĩa được nói này phải như vậy.”
Lúc bấy giờ,
Thương-ca-la Ma-nạp bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Thế Tôn, con nay tự quy y Phật,
Pháp, Tỳ-kheo Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay
trọn đời tự quy y cho đến tận mạng.”
Phật thuyết như vậy.
Thương-ca-la Ma-nạp, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 12
142
|
143
|
144
|
145
|
146
|
147
|
148
|
149
|
150
|
151
152
|
153
|
154
|
155
|
156
|
157
|
158
|
159
|
160
|
161
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003