SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 12
PHẨM PHẠM CHÍ
(phần đầu)
142. KINH VŨ THẾ
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại thành Vương xá, ở trong núi Thứu nham.
Bấy giờ vua nước
Ma-kiệt-đà là Vị Sanh Oán Bệ-đà-đề Tử
cùng với nước Bạt-kỳ
thù nghịch nhau, thường ở giữa quyến thuộc nhiều lần nói rằng:
“Người nước Bạt-kỳ
có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần,
nhưng ta sẽ diệt trừ giống người Bạt-kỳ, tàn phá Bạt-kỳ, làm cho nhân dân
nước Bạt-kỳ gặp vô số tai ách.”
Khi ấy, Vị Sanh Oán
Bệ-đà-đề Tử, vua nước Ma-kiệt-đà nghe Đức Thế Tôn du hóa thành Vương xá, ở
trong núi Thứu nham, nên nói với đại thần Vũ Thế:
“Ta nghe Sa-môn
Cù-đàm du hóa thành Vương xá, ở trong núi Thứu nham. Này Vũ Thế, ngươi hãy
đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, nhân danh ta mà thăm hỏi Thánh thể có được an
vui không bệnh, sức lực có được bình thường hay không? Rồi hãy nói như
vầy, ‘Cù-đàm, vua nước Ma-kiệt-đà là Vị Sanh Oán Bệ-đà-đề Tử thăm hỏi
Thánh thể có được an vui không bệnh, sức lực có được bình thường chăng?
Bạch Sa-môn Cù-đàm, vua nước Ma-kiệt-đà là Vị Sanh Oán Bệ-đà-đề Tử, cùng
với nước Bạt-kỳ thù nghịch nhau, thường ở giữa quyến thuộc và nhiều lần
nói rằng: ‘Người nước Bạt-kỳ có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại
phước hựu, có đại oai thần, nhưng ta sẽ diệt trừ giống người Bạt-kỳ, tàn
phá Bạt-kỳ, làm cho nhân dân nước Bạt-kỳ gặp vô số tai ách’. Bạch Sa-môn
Cù-đàm, về vấn đề này Ngài dạy như thế nào?’ Này Vũ Thế, nếu Sa-môn Cù-đàm
có dạy những gì thì ngươi hãy cố gắng ghi nhớ, thọ trì. Vì sao? Bởi lẽ
những người như vậy nhất định không khi nào nói sai.”
Đại thần Vũ Thế vâng lời vua dạy xong, lên một cỗ xe rất đẹp và cùng năm
trăm cỗ xe khác đồng ra khỏi thành Vương xá, đi đến trong núi Thứu nham và
leo lên núi Thứu nham, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Phật.
Đại thần Vũ Thế cùng
với Đức Thế Tôn nói lời chào hỏi rồi ngồi sang một bên, thưa rằng:
“Thưa Cù-đàm, vua
nước Ma-kiệt-đà là Vị Sanh Oán Bệ-đà-đề Tử thăm hỏi Thánh thể có được an
vui không bệnh, sức lực có được bình thường chăng? Bạch Sa-môn Cù-đàm, vua
nước Ma-kiệt-đà là Vị Sanh Oán Bệ-đà-đề Tử, cùng với nước Bạt-kỳ thù
nghịch nhau, thường ở giữa quyến thuộc và nhiều lần nói rằng: ‘Người nước
Bạt-kỳ có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai
thần, nhưng ta sẽ diệt trừ giống người Bạt-kỳ, tàn phá Bạt-kỳ, làm cho
nhân dân nước Bạt-kỳ gặp vô số tai ách’. Bạch Sa-môn Cù-đàm, về vấn đề này
Ngài dạy như thế nào?”
“Đức Thế Tôn nghe
rồi, bảo rằng:
“Này Vũ Thế, xưa kia
Ta đã từng đi đến nước Bạt-kỳ. Nước đó có ngôi chùa tên là Giá-hòa-la.
Lúc ấy, này Vũ Thế, Ta giảng nói pháp không suy thoái
cho người nước Bạt-kỳ nghe. Người nước Bạt-kỳ có thể vâng thọ và thực hành
bảy pháp không suy thoái đó. Này Vũ Thế, nếu người dân nước Bạt-kỳ thực
hành được bảy pháp không suy thoái mà không trái phạm thì nước Bạt-kỳ chắc
chắn hùng mạnh, không thể suy vi được.”
Đại thần Vũ Thế bạch
Đức Thế Tôn:
“Sa-môn Cù-đàm, về
việc này chỉ nói một cách tóm tắt, chứ không phân biệt rộng rãi. Chúng con
không thể hiểu được nghĩa này. Kính xin Sa-môn Cù-đàm phân biệt rộng rãi
để chúng con được biết ý nghĩa này.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Vũ Thế, hãy
lắng nghe, suy nghĩ kỹ. Ta sẽ giảng nói rộng rãi ý nghĩa này cho ông nghe.”
Đại thần Vũ Thế vâng
lời, lắng nghe.
Lúc ấy, Tôn giả
A-nan đang cầm quạt đứng hầu Phật, Đức Thế Tôn quay lại hỏi A-nan rằng:
“Ngươi có từng nghe
người nước Bạt-kỳ thường xuyên hội họp và tụ tập đông đảo chăng?
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
nghe người nước Bạt-kỳ thường xuyên hội họp và tụ tập đông đảo.”
Đức Thế Tôn liền bảo
đại thần Vũ Thế:
“Nếu người nước
Bạt-kỳ thường xuyên hội họp và tụ tập đông đảo thì nước Bạt-kỳ tất thắng,
không thể suy vi được.”
Đức Thế Tôn lại hỏi
Tôn giả A-nan:
“Ngươi có từng nghe
người nước Bạt-kỳ cùng chung hội họp, cùng chung làm công việc của người
Bạt-kỳ và cùng giải tán?”
“Bạch Đức Thế Tôn,
con nghe người nước Bạt-kỳ cùng chung hội họp, cùng chung làm công việc
của người Bạt-kỳ và cùng giải tán.”
Đức Thế Tôn lại bảo
đại thần Vũ Thế:
“Nếu người nước
Bạt-kỳ cùng chung hội họp, cùng chung làm công việc của người Bạt-kỳ và
cùng giải tán thì nước Bạt-kỳ tất thắng, không thể suy vi được.”
Đức Thế Tôn lại hỏi
Tôn giả A-nan:
“Ngươi có từng nghe nước Bạt-kỳ đối với những điều chưa thi thiết thì
không thi thiết thêm, những điều đã thi thiết thì không cải đổi, những
pháp cũ xưa của nước Bạt-kỳ thì được nghiêm chỉnh phụng hành chăng?”
“Bạch Đức Thế Tôn,
con nghe nước Bạt-kỳ đối với những điều chưa thi thiết thì không thi thiết
thêm; những điều đã thi thiết thì không cải đổi; những pháp cũ xưa của
nước Bạt-kỳ thì được nghiêm chỉnh phụng hành.”
Đức Thế Tôn lại bảo
đại thần Vũ Thế:
“Nếu nước Bạt-kỳ đối
với những điều chưa thi thiết thì không thi thiết thêm; những điều đã thi
thiết thì không cải đổi; những pháp cũ xưa của nước Bạt-kỳ thì được nghiêm
chỉnh phụng hành, thì nước Bạt-kỳ tất thắng, không thể suy vi được.”
Đức Thế Tôn lại hỏi
Tôn giả A-nan:
“Ngươi có từng nghe
người nước Bạt-kỳ không ỷ thế mà xâm phạm vợ của người và con gái của
người khác chăng?”
“Bạch Thế Tôn, con
nghe người nước Bạt-kỳ không ỷ thế mà xâm phạm vợ của người và con gái của
người khác.”
Đức Thế Tôn lại bảo
đại thần Vũ Thế:
“Nếu người nước Bạt-kỳ không ỷ thế mà xâm phạm vợ của người và con gái của
người khác thì nước Bạt-kỳ tất thắng, không thể suy vi được.”
Đức Thế Tôn lại hỏi
Tôn giả A-nan:
“Ngươi có từng nghe
người nước Bạt-kỳ nếu có những bậc danh đức đáng tôn trọng thì những người
nước Bạt-kỳ cùng nhau tôn kính, cung phụng, cúng dường chăng? Và họ có
nghe lời dạy của những bậc ấy mà làm theo chăng?”
“Bạch Thế Tôn, con
nghe người nước Bạt-kỳ nếu có những bậc danh đức đáng tôn kính thì những
người nước Bạt-kỳ cùng nhau tôn kính, cung phụng, cúng dường và họ nghe
theo lời dạy của những bậc ấy mà làm theo.”
Đức Thế Tôn lại bảo
đại thần Vũ Thế:
“Này Vũ Thế, nếu
người nước Bạt-kỳ có những bậc danh đức đáng tôn trọng thì người nước
Bạt-kỳ cùng nhau tôn kính, cung phụng, cúng dường và họ nghe lời dạy của
những bậc ấy mà làm theo, thì nước Bạt-kỳ tất thắng, không thể suy vi
được.”
Đức Thế Tôn lại hỏi
Tôn giả A-nan:
“Ngươi có từng nghe
người nước Bạt-kỳ nếu có chùa cũ nào
thì người nước Bạt-kỳ cùng nhau tu bổ, tuân phụng cúng dường, lễ bái,
thường không bỏ bê những tế tự đã có, không giảm thiểu tập tục đã làm
chăng?”
“Bạch Thế Tôn, con
nghe người nước Bạt-kỳ nếu có chùa cũ nào thì người nước Bạt-kỳ cùng nhau
tu bổ, tuân phụng cúng dường, lễ bái, thường không bỏ bê những tế tự đã
có, không giảm thiểu tập tục đã làm.”
Đức Thế Tôn lại bảo
đại thần Vũ Thế:
“Nếu nước Bạt-kỳ có
chùa cũ nào thì người nước Bạt-kỳ cùng nhau tu bổ, tuân phụng, cúng dường,
lễ bái, thường không bỏ bê những tế tự đã có, không giảm thiểu tập tục đã
làm, thì nước Bạt-kỳ tất thắng, không thể suy vi được.”
Đức Thế Tôn lại hỏi
Tôn giả A-nan:
“Ngươi có từng nghe
người nước Bạt-kỳ thảy đều ủng hộ các vị A-la-hán và vô cùng kính mến,
thường mong muốn các vị A-la-hán chưa đến thì đến, đã đến rồi thì mong
hằng an trụ lâu dài, thường không để các vị ấy thiếu thốn các nhu dụng
sinh sống như quần áo, đồ ăn uống, giường chõng, thuốc thang chăng?”
“Bạch Thế Tôn, con
nghe người nước Bạt-kỳ thảy đều ủng hộ các vị A-la-hán và vô cùng kính
mến, thường mong muốn các vị A-la-hán chưa đến thì đến, đã đến rồi thì
mong hằng an trụ lâu dài, thường không để các vị ấy thiếu thốn các nhu
dụng sinh sống như quần áo, đồ ăn uống, giường chõng, thuốc thang.”
Đức Thế Tôn lại bảo
đại thần Vũ Thế:
“Nếu người nước
Bạt-kỳ thảy đều ủng hộ các vị A-la-hán và vô cùng kính mến, thường mong
muốn các vị A-la-hán chưa đến thì đến, đã đến rồi thì mong hằng an trụ lâu
dài, thường không để các vị ấy thiếu thốn các nhu dụng sinh sống như quần
áo, đồ ăn uống, giường chõng, thuốc thang, thì nước Bạt-kỳ tất thắng,
không thể suy vi được.
“Này Vũ Thế, người
nước Bạt-kỳ đã thực hành bảy pháp không suy thoái này. Nếu vâng giữ bảy
pháp không suy thoái này thì nước Bạt-kỳ tất thắng, không thể suy vi
được.”
Khi ấy, đại thần Vũ
Thế liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai hữu, chắp tay hướng về Đức
Phật, bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm, dù cho
nước Bạt-kỳ chỉ thành tựu một pháp không suy thoái thì nước Ma-kiệt-đà là
Vị Sanh Oán, con bà Bệ-đà-đề cũng không thể khuất phục họ được, huống chi
họ đầy đủ cả bảy pháp không suy thoái. Bạch Cù-đàm, con nhiều việc nước,
xin được từ giã lui về.”
Đức Thế Tôn nói:
“Muốn lui về xin cứ
tùy ý.”
Lúc đó, đại thần Vũ
Thế nghe lời Phật dạy, khéo léo ghi nhớ, đi quanh Đức Thế Tôn ba vòng rồi
ra về.
Sau khi đại thần Vũ
Thế ra về chẳng bao lâu, bấy giờ Đức Thế Tôn quay lại bảo Tôn giả A-nan:
“Nầy A-nan, nếu có
những Tỳ-kheo hiện đang sống rải rác trong núi Thứu nham thì ngươi hãy
truyền cho tất cả tập trung tại giảng đường. Sau khi tất cả đã tụ họp
xong, hãy đến cho Ta hay.”
Tôn giả A-nan liền
vâng lời Phật dạy:
“Kính vâng, bạch Thế
Tôn!”
Ngay khi đó, Tôn giả
A-nan đi truyền lệnh:
“Những Tỳ-kheo nào
hiện đang sống rải rác trong núi Thứu nham thì truyền cho tất cả hãy tập
trung tại giảng đường.”
Sau khi tất cả tập
họp xong, Tôn giả trở lại chỗ Phật, cúi đầu làm lễ rồi đứng sang một bên,
bạch rằêng:
“Bạch Thế Tôn, con đã truyền lệnh: nếu có những Tỳ-kheo nào hiện đang sống
rải rác trong núi Thứu nham thì tất cả hãy tập trung tại giảng đường. Giờ
đây đã tập họp xong, kính mong Thế Tôn tự biết thời.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
cùng Tôn giả A-nan đi đến giảng đường, trải chỗ ngồi trước chúng Tỳ-kheo
rồi nói với các thầy Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ nói cho
các ngươi nghe về bảy pháp không suy thoái. Các ngươi hãy lắng nghe, khéo
suy nghĩ kỹ.”
Lúc ấy các Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là bảy?
“Nếu chúng Tỳ-kheo
thường xuyên hội họp, tụ tập đông đảo thì chúng Tỳ-kheo chắc chắn vững
mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
cùng chung hội, cùng chung làm việc chung và cùng giải tán thì chúng
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
đối với những việc chưa thi thiết thì không thêm; những việc đã thi thiết
thì không thay đổi; những giới luật do Ta nói ra được phụng hành nghiêm
chỉnh; thì chúng Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
không bị chi phối
bởi hữu ái đưa đến vị lai,
hiện hành với hỷ dục, ái lạc đời sống như vầy như kia,
thì chúng Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
có bậc trưởng lão thượng tôn đồng học phạm hạnh, các Tỳ-kheo thảy đều tôn
kính, cung phụng, cúng dường và nghe theo lời dạy của các vị ấy, thì chúng
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
đối với rừng vắng, sườn núi cao, chỗ thanh tịnh nhàn cư, vắng bặt không có
tiếng động, xa lánh sự dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa,
hoan lạc an trụ không rời, thì chúng Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không
thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
thảy đều ủng hộ các vị phạm hạnh, hết sức tôn trọng, ái kính, thường mong
muốn các vị phạm hạnh chưa đến thì đến, đã đến rồi thì hằng mong an trụ
lâu dài, thường không để các vị ấy thiếu thốn những nhu dụng sinh sống như
quần áo, đồ ăn uống, giường chõng, thuốc thang, thì chúng Tỳ-kheo chắc
chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
thực hành bảy pháp không suy thoái này, thọ trì, không trái phạm thì chúng
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.”
Lúc ấy Đức Thế Tôn
lại bảo các thầy Tỳ-kheo:
“Ta lại nói cho các
ngươi nghe về bảy pháp không suy thoái khác. Các thầy hãy lắng nghe, suy
nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch
Phật:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là bảy?
“Nếu Tỳ-kheo đối với
Tôn sư mà hết sức cung kính, cúng dường, phụng sự, thì Tỳ-kheo chắc chắn
vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu Tỳ-kheo đối với
Pháp, với Tăng, với Giới, với sự không phóng dật, với sự cung cấp và đối
với định
mà hết sức cung kính thì Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
thực hành bảy pháp không suy thoái này, thọ trì không trái phạm thì
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.”
Đức Thế Tôn lại bảo
các thầy Tỳ-kheo:
“Ta lại nói cho các
ngươi nghe về bảy pháp không suy thoái khác. Các ngươi hãy lắng nghe, suy
nghĩ kỹ.”
Các thầy Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là bảy?
“Nếu chúng Tỳ-kheo
không hành nơi thế nghiệp,
không hoan lạc nơi thế nghiệp, không tập quán thế nghiệp, thì chúng
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu chúng Tỳ-kheo
không hành nơi phiếm luận,
không hoan lạc nơi phiếm luận, không tập quán nơi phiếm luận; không hành
nơi tụ hội, không hoan lạc nơi tụ hội, không thân cận nơi tụ hội; không
hành nơi sự kết hợp hỗn tạp,
không hoan lạc nơi sự kết hợp hỗn tạp, không tập quán sự kết hợp hỗn tạp;
không hành ngủ nghỉ, không hoan lạc ngủ nghỉ, không tập quán ngủ nghỉ;
không vì lợi, không vì tiếng khen, không vì người khác mà tu hành phạm
hạnh; đối với quả thấp, đối với quả cao không nửa chừng gián đoạn nỗ lực
hướng thượng, thì Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu Tỳ-kheo thực
hành bảy pháp không suy thoái này, thọ trì không trái phạm thì Tỳ-kheo
chắc chắn vững mạnh không thể suy thoái.”
Đức Thế Tôn lại bảo
các Tỳ-kheo:
“Ta lại nói cho các
ngươi nghe về bảy pháp không suy thoái khác. Các ngươi hãy lắng nghe, suy
nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch
Phật:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là bảy?
“Nếu Tỳ-kheo thành
tựu tài sản tín, tài sản giới, tài sản tàm, tài sản
quý, tài sản bác văn, tài sản thí và thành tựu tài
sản tuệ, thì Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu Tỳ-kheo thực
hành được bảy pháp không suy thoái này, thọ trì không trái phạm, thì
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.”
Đức Thế Tôn lại bảo
các Tỳ-kheo
“Ta lại nói cho các
ngươi nghe về bảy pháp không suy thoái khác. Các ngươi hãy lắng nghe, suy
nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch
Phật:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là bảy?
“Nếu Tỳ-kheo thành tựu năng lực tín, năng lực tinh tấn, năng
lực tàm, năng lực quý, năng lực niệm, năng lực
định, và thành tựu năng lực tuệ, thì Tỳ-kheo chắc chắn vững
mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu Tỳ-kheo thực
hành được bảy pháp không suy thoái này, thọ trì không trái phạm thì
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.”
Đức Thế Tôn lại bảo
các thầy Tỳ-kheo:
“Ta lại nói cho các
ngươi nghe về bảy pháp không suy thoái khác. các ngươi hãy lắng nghe, suy
nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch
Phật:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là bảy?
“Nếu Tỳ-kheo tu
niệm giác chi, y trên xả ly, y trên vô dục, y trên diệt tận, thú hướng
xuất yếu. Cũng vậy, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định; tu
xả giác chi, y trên xả ly, y trên vô dục, y trên diệt tận, thú hướng
xuất yếu; thì Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.
“Nếu Tỳ-kheo thực
hành được bảy pháp không suy thoái này, thọ trì không trái phạm, thì
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.”
Đức Thế Tôn lại bảo
các Tỳ-kheo:
“Ta lại nói cho các
ngươi nghe về bảy pháp không suy thoái khác. Các ngươi hãy lắng nghe, suy
nghĩ kỹ.”
Các thầy Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là bảy?
“Nếu Tỳ-kheo cần cho
luật hiện tiền thì cho luật hiện tiền. Cần cho luật ức niệm thì cho luật
ức niệm. Cần cho luật bất si thì cho luật bất si. Cần cho luật tự phát lồ
thì ban cho luật tự phát lồ. Cần ban cho luật quân thì ban cho luật quân.
Cần cho luật triển chuyển thì cho luật triển chuyển. Nếu trong chúng khởi
lên sự tranh tụng thì đúng theo pháp diệt tránh như liệng bỏ giẻ rách để
chấm dứt.
“Nếu Tỳ-kheo thực
hành được bảy pháp không suy thoái này, thọ trì không trái phạm, thì
Tỳ-kheo chắc chắn vững mạnh, không thể suy thoái.”
Đức Thế Tôn lại bảo
các Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ nói cho
các ngươi nghe về sáu pháp ủy lạo.
Các ngươi hãy lắng nghe, suy nghĩ kỹ.”
Các thầy Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Kính vâng.”
Phật nói:
“Những gì là sáu?
“Thân nghiệp từ hòa
hướng đến các vị đồng phạm hạnh. Pháp ấy gọi là pháp ủy lạo, là pháp khả
ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng, khiến cho
phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho hòa thuận, được
Sa-môn, được sự nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Cũng vậy, khẩu
nghiệp từ hòa, ý nghiệp từ hòa.
“Lợi lộc nào đúng
theo pháp mà được, cho đến miếng cơm ở chính trong bình bát của mình, với
phần lợi như vậy mang chia xẻ cho các vị đồng phạm hạnh. Pháp đó gọi là
pháp ủy lạo, là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho
tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập,
khiến cho hòa thuận, được Sa-môn, được sự nhất tâm, được sự tinh cần,
chứng đắc Niết-bàn.
“Nếu có giới nào
không bị sứt mẻ, không bị hư thủng, không bị uế tạp, không bị đen, vững
vàng như mặt đất,
được Thánh khen ngợi, đầy đủ, cẩn thận thọ trì. Với giới phần như vậy,
cùng chia xẻ với các vị đồng phạm hạnh. Pháp đó gọi là pháp ủy lạo, là
pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng,
khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho hòa
thuận, được Sa-môn, được sự nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc
Niết-bàn.
“Nếu có kiến giải
của Thánh, có sự xuất yếu, có sự thấy rõ, có sự thấu triệt, đưa đến sự
chân chánh diệt khổ; với kiến phần như vậy, cùng chia xẻ với các vị đồng
phạm hạnh. Pháp đó gọi là pháp ủy lạo, là pháp khả ái, là pháp khả lạc,
khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung
kính, khiến cho tu tập, khiến cho hòa thuận, được Sa-môn, được sự nhất
tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Nhân đây nên Ta nói
sáu pháp ủy lạo.”
Phật thuyết như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 12
142
|
143
|
144
|
145
|
146
|
147
|
148
|
149
|
150
|
151
152
|
153
|
154
|
155
|
156
|
157
|
158
|
159
|
160
|
161
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003