SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 11
PHẨM ĐẠI (phần
đầu)
134. KINH THÍCH VẤN
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại phía Đông thành Vương xá, nước Ma-kiệt-đà, trong động đá
Nhân-đà-la, trên núi Bệ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại lâm.
Bấy giờ Thiên Vương
Thích
nghe Phật du hóa tại phía Đông thành Vương xá, nước Ma-kiệt-đà, trong động
Nhân-đà-la, trên núi Bệ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại lâm. Khi ấy, Thiên Vương
Thích bảo Ngũ Kết nhạc tử
rằng:
“Ta nghe Đức Thế Tôn du hóa tại
phía Đông thành Vương xá, nước Ma-kiệt-đà, trong động Nhân-đà-la, trên núi
Bệ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại lâm. Này Ngũ Kết, ngươi hãy cùng ta đến yết
kiến Đức Thế Tôn”.
Ngũ Kết nhạc tử thưa
rằng:
“Xin vâng.”
Rồi thì, Ngũ kết
nhạc tử ôm đàn lưu ly
cùng đi theo Thiên Vương Thích. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên nghe Thiên
Vương Thích rất khát khao muốn gặp Phật, chư Thiên Tam thập tam thiên cũng
theo hầu Thiên vương mà đi. Bấy giờ trong khoảnh khắc, nhanh như lực sĩ co
duỗi cánh tay, Thiên Vương Thích cùng chư Thiên Tam thập tam và Ngũ Kết
biến mất khỏi cõi trời Tam thập tam, đã hiện đến phía Đông thành Vương xá,
nước Ma-kiệt-đà, trên núi Bệ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại lâm, cách động đá
không xa.
Lúc bấy giờ núi
Bệ-đà-đề hào quang chiếu sáng rực rỡ như lửa cháy. Nhân dân ở chung quanh
núi thấy vậy nghĩ rằng: “Núi Bệ-đà-đề bị lửa đốt cháy khắp nơi.”
Khi ấy Thiên Vương
Thích sau khi đã đứng xuống tại một nơi, bảo rằng:
“Này Ngũ Kết, Đức
Thế Tôn là như vậy. Ngài ở trong rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây,
thích ở trên sườn núi cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự
dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa, có đại oai đức; cùng với
chư Thiên, ưa thích đời sống xa lánh, tĩnh tọa ấy, đời sống an ổn khoái
lạc ấy. Chúng ta chưa thông báo trước, không nên tự tiện bước tới. Này Ngũ
Kết, ngươi hãy đi đến thông báo trước, sau đó chúng ta mới bước tới.”
Ngũ kết thưa rằng:
“Xin vâng lời.”
Ngũ Kết sau khi vâng
lời dạy của Thiên Vương Thích, liền ôm đàn lưu ly đi trước, đến động đá
Nhân-đà-la, rồi nghĩ rằng: “Hãy ở nơi này, cách Phật không gần cũng không
xa, để Phật biết được và nghe được âm thanh của ta.”.
Khi đã đến đứng ở
nơi kia, Ngũ Kết gảy đàn và hát lên những bài tụng nói về tình yêu, nói về
rồng, nói về Sa-môn, nói về A-la-hán:
Hiền nương ơi[7]!
Ta kính lễ phụ mẫu
nàng;
Mặt trăng và Đam-phù-lâu[8];
Đã sanh nàng thù
diệu,
Gây hoan lạc lòng
ta.
Như nóng cầu gió
mát;
Như khát cầu nước
lạnh;
Như vậy, ta yêu
nàng,
Như La-hán yêu Pháp.
Như dòng nước, khó
giữ!
Lụy tình cũng như
vậy.
Đời đời mong sống
chung,
Như cúng dường Vô
Trước.
Ao nước trong, vừa
mát;
Dưới đáy có cát vàng[9];
Như voi chúa[10]
nóng bức,
Xuống ao tắm mặc
tình.
Như voi bị móc câu
Lòng ta bị nàng
khuất
Hành động nàng không
hay
Yểu điệu, chưa được
nàng.
Tâm ý ta hoàn toàn
lệ thuộc,
Và phiền oan đã đốt
cháy tim;
Và vì vậy không còn
hoan lạc,
Như một người đi vào
hang hùm.
Như Thích tử tư duy
thiền tọa,
Hằng vui say trong
sự nhất tâm.
Như Mâu-ni đạt thành giác ngộ
[11];
Cũng diệu tịnh như
ta được nàng.
Như niềm vui Đại thánh Mâu-ni[12]
Do chứng đắc viên
toàn giác đạo.
Niềm vui ta cũng ở
nơi kia,
Bằng khao khát được
nàng hội tụ
Như người bệnh mong
cầu phương dược;
Như đói ăn hoài niệm
thức ăn;
Ơi Hiền nữ, mong
lòng ta tắt,
Như nước rưới cho
ngọn lửa tàn.
Nếu ta có hành vi
tạo phước,
Như cúng dường
La-hán chân nhân[13];
Thọ báo ấy tức thành
tịnh diệu,
Ta mong cùng Hiền nữ
sống chung.
Ta ước nguyện bên
nàng vĩnh kiếp;
Không xa nàng sống
lẻ đơn thân.
Và ta hẹn theo nàng
được chết,
Không mong gì cách
biệt ly sanh.
Ôi, Thiên đế cho tôi
lời nguyện,
Bậc tôn cao Tam thập
tam thiên!
Ôi Đại Thánh, trên
đời tối thượng,
Biết cho tôi lời
nguyện vững bền.
Kính lễ Đấng Hùng
Lực,
Tối thượng giữa nhân
gian,
Dứt trừ gai ái dục,
Con lạy Đấng Nhật
Thân[14].
Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ tam-muội dậy, tán thán Ngũ Kết Nhạc tử:
“Lành thay! Lành
thay! Ngũ Kết, giọng ca của ngươi cùng với tiếng đàn hòa điệu; tiếng đàn
và giọng ca hòa điệu. Giọng ca không đi ngoài tiếng đàn; tiếng đàn không
đi ngoài giọng ca. Này Ngũ Kết, ngươi nhớ lại ngày xưa, ngươi có ca tụng
bài kệ liên quan đến tình yêu, liên quan đến rồng, liên quan đến Sa-môn,
liên quan đến La-hán này chăng?”
Ngũ Kết thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, mong
Đại Tiên Nhân
tự biết cho. Bạch Đại Tiên Nhân, ngày xưa, khi Thế Tôn mới chứng đắc giác
đạo, ở tại Uất-bệ-la,
bên bờ sông Ni-liên-thiền,
dưới gốc cây A-xà-hòa-la-ni-câu-loại.
Bấy giờ con gái của Nhạc vương Đam-phù-lâu,
tên là Hiền Nguyệt Sắc
và có một thiên thần tên là Kết, con trai của Ma-đâu-lệ, người đánh xe,
yêu người con gái kia.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
vị ấy trong lúc đang yêu người con gái ấy, con cũng yêu người con gái ấy.
Nhưng, bạch Đại Tiên Nhân, khi con yêu người con gái ấy mà cuối cùng không
được. Bấy giờ con đứng sau người con gái ấy mà ngâm bài kệ liên quan đến
tình yêu, liên quan đến rồng, liên quan đến Sa-môn, liên quan đến La-hán
này.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
khi con ngâm bài kệ này, người con gái ấy quay nhìn lại, hân hoan cười nụ
và nói với con rằng: ‘Ngũ Kết, tôi chưa được thấy Phật Thế Tôn kia, nhưng
tôi nghe từ các vị trời Tam thập tam nói rằng: ‘Đức Thế Tôn kia là Như
Lai, là Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Thành Tựu Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo
Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu’. Này Ngũ Kết, nếu anh đã từng
nhiều lần ca ngợi Đức Thế Tôn, vậy anh có thể cùng với tôi đồng thờ kính
Đấng Đại Tiên Nhân’. Con chỉ gặp gỡ nàng được một lần duy nhất, từ đó về
sau không còn thấy lại.”
Bấy giờ Thiên Vương
Thích nghĩ rằng: “Ngũ Kết nhạc tử đã làm cho Thế Tôn ra khỏi thiền định,
thông báo ta với Đức Thiện Thệ.” Rồi thì, Thiên Vương Thích nói:
“Ngũ Kết, ngươi hãy
đến nơi ấy, thay mặt ta đảnh lễ sát chân Phật mà thăm hỏi Đức Thế Tôn
rằng: ‘Thánh thể có khỏe mạnh, an ổn khoái lạc, không bệnh, đi đứng thoải
mái, khí lực bình thường chăng? Bạch Đại Tiên Nhân, Thiên Vương Thích và
chư Thiên ở Tam thập tam muốn đến yết kiến Thế Tôn’.”
Ngũ kết thưa:
“Xin vâng.”
Khi đó, Ngũ Kết bỏ
đàn lưu ly xuống, chắp tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn! Kính
Đại Tiên Nhân! Thiên Vương Thích xin cúi đầu dưới chân Phật, thăm hỏi Thế
Tôn rằng: ‘Thánh thể có khỏe mạnh, an ổn khoái lạc, không bệnh, đi đứng
thoải mái, khí lực bình thường chăng? Bạch Đại Tiên Nhân, Thiên Vương
Thích và chư Thiên ở Tam thập tam muốn đến yết kiến Thế Tôn’.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo rằng:
“Này Ngũ Kết, mong
cho Thiên Vương Thích được an ổn khoái lạc. Chư Thiên, loài người,
A-tu-la, Kiền-thát-bà, La-sát và tất cả các loài chúng sanh khác đều được
an ổn, khoái lạc. Này Ngũ Kết, Thiên Vương Thích có muốn đến yết kiến Ta,
vậy xin cứ tùy ý.”
Ngũ Kết nghe Phật
dạy xong, khéo léo thọ trì, đảnh lễ chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui
ra, trở về đến chỗ Thiên Vương Thích thưa rằng:
“Tâu Thiên vương,
tôi đã bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nay đang đợi Thiên vương. Mong Thiên
vương nên tự biết thời.”
Bấy giờ, Thiên Vương
Thích cùng chư Thiên Tam thập tam và Ngũ kết nhạc tử đi đến chỗ Phật. Khi
ấy, Thiên Vương Thích cúi đầu sát chân Phật, ba lần tự xưng danh tánh
rằng:
“Bạch Đại Tiên Nhân!
Con là Thiên Vương Thích! Con là Thiên Vương Thích!”
Đức Thế Tôn bảo:
“Quả thật vậy! Quả
thật vậy. Này Câu-dực,
ngươi chính là Thiên Vương Thích.”
Thiên Vương Thích ba
lần tự xưng danh tánh, đảnh lễ chân Phật rồi đứng sang một bên. Khi ấy,
Thiên Vương Thích thưa rằng:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
con nên ngồi cách Thế Tôn xa hay gần?”Đức Thế Tôn dạy:
“Ngươi hãy ngồi gần
ta. Vì sao? Vì người có hàng chư Thiên quyến thuộc đông vậy.”
Rồi Thiên Vương
Thích đảnh lễ chân Phật và ngồi sang một bên. Chư Thiên Tam thập tam và
Ngũ Kết nhạc tử cũng đảnh lễ chân Phật rồi ngồi sang một bên. Lúc ấy động
Nhân-đà-la bỗng nhiên rộng lớn. Vì sao? Vì do oai thần của Phật và oai đức
của chư Thiên vậy.
Thiên Vương Thích
sau khi ngồi xuống, thưa rằng:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
đã từ lâu con muốn đến yết kiến Thế Tôn, muốn thưa hỏi về giáo pháp. Bạch
Đại Tiên Nhân, xưa kia, một thời Đức Thế Tôn du hóa tại nước Xá-vệ, trong
một vách đá.
Bạch Đại Tiên Nhân, lúc đó con có việc riêng, cùng với chư Thiên Tam thập
tam đi xe ngàn voi
đến nhà của đại vương Bệ-Sa-môn;
Bệ-sa-môn đại vương gia có người thiếp tên là Bàn-xà-na.
“Lúc bấy giờ Thế Tôn đang nhập định, im lặng tịch nhiên. Người thiếp kia
chắp tay đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn. Bạch Đại Tiên Nhân, con nói với
Bàn-xà-na rằng: ‘Này hiền muội, nay không phải lúc ta đến yết kiến Thế
Tôn. Thế Tôn đang nhập định. Nếu khi nào Thế Tôn xuất định, hiền muội hãy
thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và hỏi thăm Thánh thể của Thế Tôn có khỏe
mạnh, an ổn, khoái lạc, không bệnh, đi đứng thoải mái, khí lực bình thường
không nói như vầy: ‘Bạch Đại Tiên Nhân, Thiên Vương Thích đảnh lễ chân
Phật và thăm hỏi rằng: ‘Thế Tôn có khỏe mạnh, an ổn, khoái lạc, không
bệnh, đi đứng thoải mái, khí lực bình thường không?’ Bạch Đại Tiên Nhân,
cô em ấy có thay mặt con đảnh lễ chân Phật và thăm hỏi Thế Tôn, Thế Tôn có
nhớ chăng?”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Câu-dực, cô em
ấy có thay mặt ngươi đảnh lễ và cũng nói lại ý ngươi muốn thăm hỏi. Ta có
nhớ việc ấy. Này Câu-dực, khi người đi, Ta nghe tiếng xe lăn mà xuất
định.”
“Bạch Thế Tôn, ngày
xưa con có nghe rằng, khi Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
Minh Hạnh Thành Tựu Tựu, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu
xuất hiện ở đời thì thiên chúng được hưng thịnh mà A-tu-la bị giảm thiểu.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
chính mắt con trông thấy Tỳ-kheo đệ tử Thế Tôn theo Phật tu hành phạm
hạnh, xả dục, ly dục. Khi thân hoại mạng chung được đến cõi an lành, sanh
lên trời.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
Thích nữ Cù-tỳ
là đệ tử của Thế Tôn cũng theo Thế Tôn tu tập phạm hạnh, ghê tởm thân nữ,
ái lạc thân nam, chuyển thân nữ thành thân nam, xả dục, ly dục, khi thân
hoại mạng chung được sanh đến cõi Tam thập tam thiên làm con của con. Nàng
đã thọ sanh rồi, chư Thiên thảy đều biết, Cù-bà thiên tử,
có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
con lại thấy có ba vị Tỳ-kheo đệ tử Thế Tôn cũng theo Thế Tôn tu tập phạm
hạnh, nhưng không xả ly dục, khi thân hoại mạng chung chúng sanh vào trong
Kỹ nhạc cung
thấp kém. Họ đã thọ sanh rồi, ngày ngày đến Tam thập tam thiên cùng chư
Thiên hầu hạ Cù-bà thiên tử. Thiên tử thấy chúng liền nói bài kệ:
Pháp nhãn Ưu-bà-di[30],
Tôi vốn tên Cù-tì,
Phụng kính Phật và
pháp,
Tịnh ý thờ Tăng-già.
Tôi đã nhờ ân Phật,
Thích tử phước đức
lớn,
Diệu sanh Tam thập
tam,
Thiên tử, mọi người
biết.
Biết người vốn
Tỳ-kheo,
Sanh làm thần kỹ
nhạc;
Chắp tay đứng trước
mặt
Cù-bà nói kệ cho.
Vốn con Đức Cù-đàm;
Khi tôi ở nhân gian,
Nhà ta các ngươi
đến;
Ẩm thực tôi cúng
dường.
Ngươi vốn cùng bậc
Thánh
Hành vô thượng phạm
hạnh;
Nay lại để người
sai,
Thường nhật kính
phụng trời.
Xưa tôi hầu hạ
người,
Cùng nghe Thánh diệu
pháp.
Được tín, thành tựu
giới;
Khéo sanh cõi trời
này.
Người vốn được thờ
phụng,
Hành vô thượng phạm
hạnh.
Nay lại để người sai
Thường nhật kính
phụng trời.
Mặt mày người là gì?
Phật pháp đã thọ
trì,
Quay lưng, không
hướng Pháp,
Pháp nội tâm chứng tri[31],
Thánh nhãn đã dạy rõ[32].
Tôi xưa hầu các vị;
Nay nhạc thần thấp
kém;
Tự theo phi pháp
hành,
Tự sanh chỗ phi
pháp.
Ta sống đời tại gia;
Nay xem thắng đức
ta,
Chuyển nữ thành
thiên tử,
Thọ ngũ dục tự do.
Con Cù-đàm bị mắng,
Buồn nản, khen Cù-đàm[33]:
Ta[34]
nay hãy tiến hành;
Thiên tử nói thật
đúng.
Hai trong số cần
hành,
Nhớ pháp luật
Cù-đàm,
Biết dục là tai họa,
Bèn xả ly dục tham.
Chúng bị dục trói
chặt,
Tức xả ly được liền.
Như voi bứt dây
xích,
Vượt Tam thập tam
thiên.
Nhân-đà-la, Thiên,
Phạm,
Tất cả đều đến nhóm.
Họ liền vượt chỗ
ngồi,
Hùng mãnh xả trần
dục.
Đế Thích thấy chúng phiền[35];
Thắng Thiên[36],
trời trên trời.
Chúng vốn sanh hạ
tiện,
Nay vượt Tam tam
thiên.
Ưu phiền, rồi tấm tắc[37].
Cù-bà nói sau hết:
Loài người có Đại
Giác,
Đấng Mâu-ni thắng dục[38].
Con Ngài do lãng
quên,
Bị quở trách, lại
được.
Một trong ba vị kia
Sanh trong thần kỹ
nhạc.
Hai vị chánh đạo
thành
Tại trời, vui định
căn.
Ngươi nói pháp như
vầy;
Đệ tử không mê hoặc,
Vượt lậu, đoạn tà
nghi,
Lễ Phật, thắng phục căn[39].
Bởi vì tỏ các pháp,
Hai vị được tiến
thăng.
Từ chỗ tiến thăng ấy
Sanh lên trời Phạm
thiên.
Chúng con biết pháp
ấy
Nên đến đây, Đại
Tiên!”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
nghĩ rằng: “Vị Quỷ
này không bao giờ dua nịnh, dối trá, không huyễn hoặc, chất trực. Nếu có
hỏi tất là muốn biết, chứ không phải muốn xúc nhiễu. Những điều vị này
muốn hỏi cũng vậy. Ta hãy nói A-tỳ-đàm thậm thâm.”
Đức Thế Tôn biết như
thế rồi, Ngài liền nói bài kệ cho Thiên Vương Thích:
Vì an lạc đời này,
Và an lạc đời sau,
Câu-dực tùy ý hỏi,
Theo những điều sở
thích.
Điều này hay điều
kia,
Ta quyết đoán hết
thảy.
Thế Tôn đã nghe cho
Nhật Thiên cầu đạo
nghĩa,
Tại nước Ma-kiệt-đà
Hiền Bà-sa-bà hỏi[41].
Bấy giờ Thiên Vương
Thích thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, các
loại trời, người, A-tu-la, Kiền-đạt-hòa, La-sát và các chủng loại khác,
mỗi mỗi có bao nhiêu kết sử?”
Đức Thế Tôn nghe
xong, đáp:
“Này Câu-dực, các loại trời, người, A-tu-la, Kiền đạt hòa, La-sát và các
chủng loại khác, mỗi mỗi đều có hai kết là bỏn sẻn và ganh tị.
Mỗi chủng loại ấy đều nghĩ rằng: ‘Mong sao ta không gậy,
không kết, không oán, không nhuế, không tranh, không đấu, không khổ, sống
trong an lạc.’
Chúng tuy nghĩ như vậy, nhưng vẫn có gậy, có kết, có oán, có nhuế, có
tranh, có đấu, có khổ mà không sống trong sự an lạc.”
Thiên Vương Thích
nghe thế, thưa rằng:
“Thật sự như vậy,
bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại
Tiên Nhân, các loài trời, người, A-tu-la, Kiền đạt hòa, La-sát và các
chủng loại khác, mỗi mỗi đều có hai kiết sử. Chúng nghĩ rằng: ‘Mong sao ta
không gậy, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, không đấu, không
khổ, mà sống trong sự an lạc’. Chúng tuy nghĩ như vậy, nhưng vẫn có gậy,
có kết, có oán, có nhuế, có tranh, có đấu, có khổ mà không sống trong sự
an lạc. Thật sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ!
Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân. Đúng như pháp mà Phật đã nói, con đã
biết. Con đã đoạn trừ nghi hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật
dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành; rồi lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
bỏn sẻn, ganh tị do nhân gì duyên gì, từ đâu sanh ra, do đâu mà có? Lại do
nhân gì, duyên gì mà không có bỏn sẻn và ganh tị?”
Thế Tôn đáp rằng:
“Này Câu-dực, bỏn
sẻn và ganh tị nhân nơi yêu và không yêu,
duyên nơi yêu và không yêu; từ nơi yêu và không yêu sanh ra; do yêu và
không yêu mà có. Nếu không có yêu, và không yêu thì không có bỏn sẻn và
ganh tị vậy.”
Thiên Vương Thích
nghe xong, thưa rằng:
“Thật sự như vậy,
bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại
Tiên Nhân. Bỏn sẻn và ganh tị nhân nơi yêu và không yêu, duyên nơi yêu và
không yêu; từ nơi yêu và không yêu sanh ra; do yêu và không yêu mà có. Nếu
không có yêu, và không yêu thì không có bỏn sẻn và ganh tị. Thật sự như
vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch
Đại Tiên Nhân. Đúng như pháp mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn trừ
nghi hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
yêu và không yêu là do nhân gì, duyên gì, từ đâu phát sanh, do đâu mà có?
Lại do nhân nào mà không có yêu và không yêu?”
Đức Thế Tôn bảo
rằng:
“Này Câu-dực, yêu và
không yêu là nhân nơi dục và duyên nơi dục mà phát sanh, do dục mà có.
Nếu vô dục thì không có yêu và không yêu vậy.”
Thiên Vương Thích
nghe xong, thưa rằng:
“Thật sự như vậy,
bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thậït sự như vậy, bạch Đại
Tiên Nhân! Yêu và không yêu là nhân nơi dục và duyên nơi dục mà phát sanh,
do dục mà có. Nếu vô dục thì không có yêu và không yêu vậy. Thật sự như
vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch
Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn trừ
nghi hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
dục là do nhân gì, duyên gì, từ đâu mà sanh, do đâu mà có; do nhân nào
không có dục?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Câu-dực, dục là
do nhân niệm
và duyên nơi niệm, từ nơi niệm mà phát sanh; do niệm mà có; nếu không có
suy niệm thì không có dục.”
Thiên Vương Thích
nghe thế thưa rằng:
“Thật sự như vậy,
bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại
Tiên Nhân, dục là do nhân niệm và duyên nơi niệm, từ nơi niệm mà phát
sanh; do niệm mà có; nếu không có suy niệm thì không có dục. Thật sự như
vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch
Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn
nghi, trừ hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
niệm là do nhân gì, duyên gì, từ đâu mà sanh, do đâu mà có. Lại do nhân
nào không có suy niệm?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Câu-dực, niệm
là nhân nơi tư và duyên nơi tư, từ nơi tư mà phát sanh, do tư mà có.
Nếu không có tư thì không có niệm.
“Do niệm có dục, do
dục có yêu và không yêu. Do yêu và không yêu có bỏn sẻn và ganh tị. Do bỏn
sẻn và ganh tị mà sanh ra dao, gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, dối
trá, nói láo, nói hai lưỡi, trong tâm sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện.
Như vậy, toàn khối lớn khổ đau này phát sanh.
“Nếu không có tư thì không có niệm. Nếu không có niệm thì không có dục.
Nếu không có dục thì không có yêu và không yêu. Nếu không có yêu và không
yêu thì không có bỏn sẻn và ganh tị. Nếu không có bỏn sẻn và ganh tị thì
không có dao gậy, đấu tranh, thì nghịch, dua nịnh, dối trá, nói láo, nói
hai lưỡi, trong tâm không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy,
toàn khối lớn đau khổ này tiêu diệt”.
Thiên Vương Thích
nghe xong, thưa rằng:
“Con đã hiểu, bạch
Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ! Con đã hiểu, bạch Đại Tiên Nhân.
Niệm là nhân nơi tư và duyên nơi tư, từ nơi tư mà phát sanh, do tư mà có.
Nếu không có tư thì không có niệm.
“Do niệm có dục, do
dục có yêu và không yêu. Do yêu và không yêu có bỏn sẻn và ganh tị. Do bỏn
sẻn và ganh tị mà sanh ra dao, gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, dối
trá, nói láo, nói hai lưỡi, trong tâm sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện.
Như vậy, toàn khối lớn khổ đau này phát sanh.
“Nếu không có tư thì không có niệm. Nếu không có niệm thì không có dục.
Nếu không có dục thì không có yêu và không yêu. Nếu không có yêu và không
yêu thì không có bỏn sẻn và ganh tị. Nếu không có bỏn sẻn và ganh tị thì
không có dao gậy, đấu tranh, thì nghịch, dua nịnh, dối trá, nói láo, nói
hai lưỡi, trong tâm không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy,
toàn khối lớn đau khổ này tiêu diệt.
“Thật sự như vậy,
bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại
Tiên Nhân! Đúng như pháp mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn nghi,
trừ hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe xong những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
thế nào là con đường tiêu diệt hý luận.
Tỳ-kheo thực hành như thế nào để hướng đến con đường tiêu diệt hý luận?”
Đức Thế Tôn đáp
rằng:
“Này Câu-dực, con
đường tiêu diệt hý luận là Thánh đạo tám chi. Đó là, chánh kiến, chánh tư
duy, cho đến chánh định. Này Câu-dực, đó là con đường tiêu diệt hý luận.
Tỳ-kheo thực hành như vậy để hướng đến con đường tiêu diệt hý luận.”
Thiên Vương Thích
nghe dạy xong, thưa rằng:
“Thật sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự
như vậy, bạch Đại Tiên Nhân, con đường tiêu diệt hý luận là Thánh đạo tám
chi. Đó là, chánh kiến, chánh tư duy, cho đến chánh định. Này Câu-dực, đó
là con đường tiêu diệt hý luận. Tỳ-kheo thực hành như vậy để hướng đến con
đường tiêu diệt hý luận. Đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch
Thiện thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp mà Đức Phật đã
dạy, con đã rõ. Con đã đoạn trừ nghi hoặc, không còn do dự, do nghe những
điều Phật dạy”.
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
một Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận phải đoạn bao nhiêu pháp
và hành bao nhiêu pháp?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Câu-dực,
Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận phải đoạn ba pháp và tu hành
ba pháp. Thế nào là ba? Một là niệm, hai là ngôn, ba là cầu.
“Này Câu-dực, niệm
ấy Ta nói có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu niệm mà không nên
hành thì Ta liền đoạn trừ. Nếu niệm nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành,
có niệm, có trí để thành tựu niệm kia vậy. Ngôn cũng như thế.
“Này Câu-dực, cầu ấy
Ta nói cũng có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu cầu mà không nên
hành thì Ta liền đoạn. Nếu cầu mà nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành,
có niệm, có trí, để thành tựu cầu kia vậy.”
Thiên Vương Thích
nghe xong, thưa:
“Thật sự như vậy,
bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại
Tiên Nhân! Tỳ-kheo không hướng đến con đường tiêu diệt hý luận, đoạn ba
pháp, tu hành ba pháp. Thế nào là ba? Một là niệm, hai là ngôn, ba là cầu.
Đại Tiên Nhân đã
nói, niệm có hai loại nên hành và không nên hành. Nếu niệm tăng trưởng
pháp ác bất thiện và giảm tổn thiện pháp thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ.
Nếu niệm giảm tổn pháp ác bất thiện và tăng trưởng thiện pháp thì Đại Tiên
Nhân biết lúc nào nên hành, có niệm, có trí để thành tựu niệm kia vậy.
Ngôn cũng như vậy. Đại Tiên Nhân đã nói cầu cũng có hai loại, nên hành và
không nên hành. Nếu cầu tăng trưởng pháp ác bất thiện và tổn giảm thiện
pháp thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu cầu mà giảm tổn pháp ác bất
thiện và tăng trưởng thiện pháp thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào nên hành,
có niệm, có trí để thành tựu cầu kia vậy.
“Đúng như vậy, bạch
Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân!
Đúng như pháp Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn trừ nghi hoặc, không
còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận, có bao nhiêu pháp; để thủ
hộ Tùng giải thoát,
hành bao nhiêu pháp?
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Câu-dực,
Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận có sáu pháp; để thủ hộ tùng
giải thoát hành sáu pháp. Sáu pháp ấy là gì? Đó là, mắt thấy sắc, tai nghe
thanh, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết xúc, ý biết pháp.
“Này Câu-dực, mắt
thấy sắc ấy, Ta nói có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu mắt thấy
sắc không nên hành thì Ta liền đoạn trừ. Nếu mắt sắc nên hành thì Ta biết
lúc nào nên hành, có niệm, có trí để thành tựu mắt vậy.
“Cũng như thế, đối
với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết xúc và ý biết
pháp ấy, Ta nói cũng có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu ý biết
pháp không nên hành thì Ta liền đoạn trừ. nếu ý biết pháp nên hành thì Ta
biết lúc nào nên hành, có niệm, có trí để thành tựu ý vậy.”
Thiên Vương Thích
nghe xong, thưa:
“Đúng như vậy, bạch
Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân!
Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận có sáu pháp; để thủ hộ Tùng
giải thoát hành sáu pháp. Sáu pháp ấy là gì? Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng,
mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết xúc, ý biết pháp. Đại Tiên Nhân đã
nói, mắt thấy sắc có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu mắt thấy mà
tăng trưởng pháp ác bất thiện và làm tổn giảm thiện pháp thì Đại Tiên Nhân
liền đoạn trừ. Nếu mắt thấy sắc làm tổn giảm pháp ác bất thiện và làm tăng
trưởng thiện pháp thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào nên hành vậy. Có niệm, có
trí để thành tựu mắt vậy. Cũng như thế, đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi
hương, lưỡi nếm vị, thân biết xúc, ý biết pháp cũng có hai loại, nên hành
và không nên hành. Nếu ý biết pháp làm tăng trưởng pháp ác bất thiện và
giảm tổn thiện pháp thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu ý biết pháp làm
tổn giảm pháp ác bất thiện và tăng trưởng thiện pháp thì Đại Tiên Nhân
biết lúc nào nên hành, có niệm, có trí để thành tựu ý vậy. Đúng như vậy,
bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên
Nhân! Đúng như pháp Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc,
không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
vị Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận, khi thân mạng tồn tại
trong một khoảnh khắc, phải đoạn bao nhiêu pháp và tu hành bao nhiêu
pháp?”
Đức Thế Tôn dạy:
“Này Câu-dực,
Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận, khi thân mạng tồn tại trong
một khoảnh khắc, lại cũng phải đoạn ba pháp và tu hành ba pháp. Ba pháp ấy
là gì? Một là hỷ, hai là ưu và ba là xả.
“Này Câu-dực, hỷ ấy
Ta nói có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu hỷ mà không nên hành
thì Ta liền đoạn trừ. Nếu hỷ nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành, có
niệm, có trí để thành tựu hỷ vậy. Ưu cũng như thế.
“Này Câu-dực, xả ấy
Ta nói cũng có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu xả mà không nên
hành thì Ta liền đoạn trừ. nếu xả nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành,
có niệm, có trí để thành tựu xả vậy.”
Thiên Vương Thích
nghe xong, thưa:
“Đúng như vậy, bạch
Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân!
Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận, khi thân mạng tồn tại trong
một khoảnh khắc phải đoạn trừ ba pháp và thực hành ba pháp. Ba pháp ấy là
gì? Một là hỷ, hai là ưu, ba là xả. Đại Tiên Nhân đã nói hỷ có hai loại,
nên hành và không nên hành. Nếu hỷ làm tăng trưởng pháp ác bất thiện và
giảm tổn thiện pháp thì liền đoạn trừ. Nếu hỷ làm giảm tổn pháp ác bất
thiện và tăng trưởng thiện pháp thì biết lúc nào nên hành, có niệm, có trí
để thành tựu hỷ vậy. Ưu cũng như thế. Đại Tiên Nhân đã nói xả cũng có hai
loại, nên hành và không nên hành. Nếu xả làm tăng trưởng pháp ác bất thiện
và giảm tổn thiện pháp thì liền đoạn trừ. Nếu xả làm tổn giảm pháp ác bất
thiện và trăng trưởng thiện pháp thì biết lúc nào nên hành, có niệm, có
trí để thành tựu xả vậy. Đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch
Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp Phật đã nói,
con đã biết. Con đã đoạn nghi trừ hoặc, không còn do dự, do nghe những
điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
tất cả Sa-môn, Phạm chí đều đồng một thuyết, đồng một mong cầu, đồng một
sở thích, đồng một an lạc, đồng một ý hướng chăng?”
Đức Phật dạy:
“Này Câu-dực, tất cả
Sa-môn, Phạm chí không đồng một thuyết, không đồng một mong cầu, không
đồng một sở thích, không đồng một an lạc, không đồng một ý hướng.”
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
tất cả Sa-môn, Phạm chí vì lý do gì mà không đồng một thuyết, không đồng
một mong cầu, không đồng một sở thích, không đồng một an lạc, không đồng
một ý hướng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Câu-dực, thế
giới này có nhiều chủng loại giới, có vô lượng giới.
Vị ấy tùy theo một giới được biết đến, rồi nhân giới đó tùy khả năng của
mình mà nói một chiều rằng ‘Đây là chân thật, ngoài ra đều hư dối’. Này
Câu-dực, cho nên tất cả Sa-môn, Phạm chí không đồng một thuyết, không đồng
một mong cầu, không đồng một sở thích, không đồng một an lạc, không đồng
một ý hướng vậy.”
Thiên Vương Thích
nghe xong, thưa:
“Đúng như vậy, bạch
Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân!
Thế giới này có nhiều chủng loại giới, có vô lượng giới. Vị ấy tùy theo
một giới được biết đến, rồi ở nơi giới đó tùy khả năng của mình mà nói một
chiều rằng ‘Đây là chân thật, ngoài ra đều hư vọng’. Bạch Đại Tiên Nhân,
vì thế mà tất cả Sa-môn, Phạm chí không đồng một thuyết, không đồng một
mong cầu, không đồng một sở thích, không đồng một an lạc, không đồng một ý
hướng vậy. Đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng
như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp Phật đã nói, con đã biết. Con
đã đoạn trừ nghi hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy”.
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại hỏi:
“Bạch Đại Tiên Nhân, tất cả Sa-môn, Phạm chí đều đạt đến cứu cánh, cứu
cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh, thành tựu cứu cánh phạm hạnh chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Câu-dực, không
hẳn tất cả Sa-môn, Phạm chí đều đạt đến cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu
cánh phạm hạnh, thành tựu cứu cánh phạm hạnh.”
Thiên Vương Thích,
thưa:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
vì lý do gì mà không hẳn tất cả Sa-môn, Phạm chí đều đạt đến cứu cánh, cứu
cánh phạm bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh, thành tựu cứu cánh phạm hạnh?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Câu-dực, nếu có
Sa-môn, Phạm chí đối với vô thượng ái tận, không toàn vẹn chân chánh tâm
giải thoát,
kẻ ấy không đạt đến cứu cánh, không cứu cánh bạch tịnh, không cứu cánh
phạm hạnh, không thành tựu cứu cánh phạm hạnh.
“Này Câu-dực, nếu có
Sa-môn, Phạm chí đối với vô thượng ái tận toàn vẹn chân chánh tâm giải
thoát, kẻ ấy đạt đến cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh,
thành tựu cứu cánh phạm hạnh.”
Thiên Vương Thích,
thưa:
“Đúng như vậy, bạch
Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân,
nếu có Sa-môn, Phạm chí đối với vô thượng ái tận không hoàn toàn chân
chánh tâm giải thoát, kẻ ấy không đạt đến cứu cánh, không cứu cánh bạch
tịnh, không cứu cánh phạm hạnh, không thành tựu cứu cánh phạm hạnh.
‘Bạch Đại Tiên Nhân,
nếu có Sa-môn, Phạm chí đối với vô thượng ái tận toàn vẹn chân chánh tâm
giải thoát, kẻ ấy đạt đến cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm
hạnh, thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như
vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp Phật
đã nói, con đã biết, con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự, do nghe
những điều Phật dạy.”
Thiên Vương Thích
sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành.
Thiên Vương Thích
lại nói:
“Bạch Đại Tiên Nhân,
con lâu nay bị gai nhọn nghi hoặc, ngày nay được Thế Tôn nhổ ra. Vì sao?
Vì Như Lai là Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác vậy.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Câu-dực, ngươi
nhớ lại ngày xưa ngươi đã từng hỏi các Sa-môn, Phạm chí việc như thế
chăng?”
Thiên Vương Thích
đáp:
“Bạch Thế Tôn, mong Đại Tiên Nhân tự biết cho. Bạch Đại Tiên Nhân, chư
Thiên Tam thập tam tập họp tại Pháp đường, đều ôm lòng sầu não, thường
than thở rằng ‘Chúng ta nếu gặp được Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, quyết sẽ đến yết kiến’. Bạch Đại Tiên Nhân, nhưng chúng con
không gặp được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, bèn thụ hưởng
đầy đủ công đức của ngũ dục.
“Bạch Đại Tiên Nhân, chúng con phóng dật. Sau khi sống phóng dật, vị thiên
tử có đại oai đức, ngay nơi chỗ cực diệu mà mạng chung. Bạch Đại Tiên
Nhân, khi con thấy vị thiên tử đại oai đức ngay nơi chỗ cực diệu mà mạng
chung bèn chán nản hết sức, lông tóc đều dựng ngược ‘Mong ta không ở nơi
này mà mạng chung nhanh chóng’.
“Bạch Đại Tiên Nhân, con do sự chán này, sự ưu não này, nên thấy Sa-môn,
Phạm chí nào sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, thích ở
trên sườn núi cao, vắng bặt không có tiếng động, xa lánh, không có sự dữ,
không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa; sau khi thấy vị ấy ưa thích nơi
xa vắng, tĩnh tọa, sống an ổn khoái lạc, con cho rằng đây là Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, liền đến yết kiến.
“Vị ấy không biết
con, nên hỏi rằng: ‘Ông là ai?’
“Lúc đó con đáp rằng
‘Bạch Đại Tiên Nhân, con là Thiên Vương Thích. Bạch Đại Tiên Nhân, con là
Thiên Vương Thích’.
“Vị ấy lại hỏi ‘Ta
từng thấy Thích và cũng thấy chủng tánh Thích. Vì lý do gì gọi là Thích?
Vì lý do gì gọi là chủng tánh Thích?’
“Con liền đáp rằng
‘Bạch Đại Tiên Nhân, nếu có ai đến hỏi con việc như vậy, con liền tùy khả
năng, tùy sức
mà trả lời, cho nên được gọi là Thích’.
“Vị ấy lại hỏi
‘Chúng ta nếu tùy theo việc mà hỏi Thích, Thích cũng tùy việc mà đáp lại
ta’.
“Vị ấy hỏi việc con,
nhưng con không hỏi việc vị ấy. Vị ấy quy mạng con, nhưng con không quy
mạng vị ấy.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
từ nơi Sa-môn Phạm chí kia, hoàn toàn không được oai nghi giáo pháp, huống
nữa lại được hỏi như vậy sao?”
Lúc ấy, Thiên Vương
Thích nói bài tụng:
Thích[61]
đi qua, đi qua;
Thích hay nói như
thế.
Ý tưởng niệm lìa xa;
Trừ nghi, các do dự;
Từ lâu đi trong đời,
Tìm cầu Đức Như Lai.
Thấy Sa-môn, Phạm
chí
Tĩnh tọa nơi xa xôi
Cho là Chánh Đẳng
Giác;
Đến phụng cúng, lạy
thờ:
‘Làm sao được thăng
tấn’.
Như vậy con hỏi Ngài
Đã hỏi, không được
đáp,
Thánh đạo và đạo
tích.
Thế Tôn nay vì con,
Nếu ý có sở nghi,
Sở niệm và sở tư,
Và sở hành của ý;
Biết tâm ẩn và hiện,
Thánh Nhãn nói cho
hay.
Tôn Phật là Đạo Sư,
Tôn Vô trước Mâu-ni,
Tôn Bậc Đoạn kết sử,
Độ mình và độ người.
Đệ nhất trong hàng
giác ngộ;
Tối thượng ngự trong
hàng Điều ngự;
Tối diệu tịch trong
hàng Tịch tĩnh;
Đấng Đại Tiên, độ
mình, độ người.
Nên con lễ Đại Hùng;
Cúi lạy Tối Thượng
Nhân;
Đoạn tuyệt gai ái
dục;
Kính lạy Đấng Nhật
Thân.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
lại hỏi rằng:
“Này Câu-dực, ông có
nhớ ngày xưa, được xả ly như vậy, được hoan hỷ
như vậy, nghĩa là do nơi Ta mà đạy được pháp hỷ chăng?”Thiên Vương Thích
thưa:
“Bạch Thế Tôn, mong
Đại Tiên Nhân tự biết cho.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
một thời xưa, chư Thiên và A-tu-la chiến đấu với nhau. Bạch Đại Tiên Nhân,
khi chư Thiên và A-tu-la chiến đấu với nhau, con nghĩ rằng ‘Mong chư Thiên
thắng, phá vỡ A-tu-la. Thực phẩm của chư Thiên và thực phẩm của A-tu-la
hãy để tất cả cho Tam thập tam thiên thọ thực’.
“Bạch Đại Tiên Nhân, khi chư Thiên đánh nhau với A-tu-la, chư Thiên đắc
thắng, phá vỡ chúng A-tu-la. Thực phẩm của chư Thiên và thực phẩm của
A-tu-la, tất cả đều được chư Thiên Tam thập tam thọ thực.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
bây giờ có ly, có hỷ, nhưng xen lẫn dao gậy, kết oán, đấu tranh, thù
nghịch, không được thần thông, không được giác đạo, không được Niết-bàn.
“Bạch Đại Tiên Nhân,
ngày nay được ly, được hỷ, không xen lẫn dao gậy, kết oán, đấu tranh, thù
nghịch, được thần thông, được giác đạo và được Niết-bàn.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Câu-dực, do đâu
ngươi được ly được hỷ? Do nơi Ta mà được pháp hỷ chăng?
“Thiên Vương Thích
đáp rằng:
“Bạch Đại Tiên Nhân, con nghĩ rằng ‘Ta mạng chung ở đây, sanh nơi nhân
gian. Ở đó nếu có dòng họ rất giàu sang, tiền của vô số, sản nghiệp, súc
mục không thể tính được. Phong hô thực ấp các thứ đầy đủ, hoặc là chủng
tộc Sát-lợi trưởng giả, chủng tộc Phạm chí trưởng giả và các chủng tộc
khác, rất là giàu sang, của cải vô số, sản nghiệp, súc mục không thể tính
được. Phong hô thực ấp các thứ đầy đủ. Sau khi sanh vào chủng tộc như thế,
thành tựu các căn, có tín tâm đối với pháp luật mà Đức Như Lai giảng
thuyết. Sau khi có tín tâm, liền cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa
bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo và học trí. Sau khi học trí,
nếu thành đạt trí, liền chứng đắc cứu cánh trí, đạt đến biên tế cứu cánh.
Nếu sau khi học trí mà không được cứu cánh học trí và sau khi học trí thì
có chư Thiên nào đó có đại phước hựu, có sắc tượng uy nguy, chói sáng rực
rỡ, rất có oai lực, an ổn khoái lạc, sống mãi trong cung, sanh nơi tối
thượng. Ta sanh trong đó”.
Bấy giờ Thiên Vương
Thích nói bài tụng:
Xả ly thân Thiên
thần,
Sanh xuống nơi nhân
gian;
Thác thai không ngu
muội,
Tùy sở thích hân
hoan.
Thành thân đã hoàn
mãn,
Chất trực, tu Thánh
đạo,
Hành phạm hạnh trọn
đủ
Sống vui đời xin ăn.
“Và sau khi học trí,
nếu được trí, liền chứng đắc cứu cánh trí, đạt đến biên tế cứu cánh. Nếu
học trí và sau khi học trí rồi mà được trí nhưng không chứng đắc cứu cánh
trí, đã thành vị trời tối thượng diệu, chư Thiên đều nghe danh, đó là Sắc
cứu cánh thiên, sẽ sanh vào đó. Bạch Đại Tiên Nhân, con mong sẽ chứng đắc
A-na-hàm. Bạch Đại Tiên Nhân, con nay đã chứng đắc Tu-đà-hoàn.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Câu-dực, ngươi