SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 11
PHẨM ĐẠI (phần
đầu)
133. KINH ƯU-BA-LY
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du hóa tại Na-nan-đà,
trong vườn xoài Ba-bà-ly.
Lúc bấy giờ có người Ni-kiền là Trường Khổ Hạnh
sau giờ ăn trưa, ung dung đi đến chỗ Phật, và sau khi chào hỏi, ngồi xuống
một bên.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bèn hỏi:
“Nhà khổ hạnh
Ni-kiền Thân Tử
chủ trương có bao nhiêu hành vi để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác
nghiệp?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp:
“Thưa Cù-đàm, Tôn sư
của tôi, Ni-kiền Thân Tử, không giảng dạy cho chúng tôi về những hành vi
để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Nhưng người giảng dạy
chúng tôi về sự trừng phạt để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác
nghiệp.”
Thế Tôn lại hỏi:
“Nhà khổ hạnh
Ni-kiền Thân Tử chủ trương có bao nhiêu sự trừng phạt để không hành ác
nghiệp, không tạo tác ác nghiệp?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp rằng:
“Thưa Cù-đàm, Tôn sư
của tôi, Ni kiền Thân Tử giảng dạy cho chúng tôi về ba sự trừng phạt để
không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Những gì là ba? Đó là sự
trừng phạt bằng thân, sự trừng phạt bằng miệng và sự trừng phạt bằng ý.
Đức Thế Tôn lại hỏi:
“Này Khổ Hạnh, thế
nào, thân phạt, khẩu phạt, ý phạt có khác nhau không?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp rằng:
“Thưa Cù-Đàm, đối
với chúng tôi, thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác.”
Đức Thế Tôn lại hỏi:
“Này Khổ Hạnh, các
sự trừng phạt này tương tự như vậy. Ni-kiền Thân Tử chủ trương trừng phạt
nào nặng hơn hết để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp? Sự
trừng phạt của thân chăng? Của khẩu chăng? Của ý chăng?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp rằng:
“Thưa Cù-đàm, các sự
trừng phạt này tương tự như vậy. Tôn sư tôi, Ni-kiền Thân Tử chủ trương
thân phạt là nặng hơn hết để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác
nghiệp. Khẩu phạt thì không phải vậy, ý phạt thì nhẹ nhất, không bằng thân
phạt vốn “rất lớn lao, rất nặng nề.
Thế Tôn lại hỏi:
“Này Khổ Hạnh, ông
nói thân phạt nặng nhất chăng?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp:
“Thưa Cù-đàm, thân
phạt nặng nhất.”
Đức Thế Tôn hỏi lại
đến lần thứ ba:
“Này Khổ Hạnh, ông
nói thân phạt nặng nhất chăng?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh cũng ba lần đáp lại:
“Thưa Cù-đàm, thân
phạt nặng nhất.”
Đức Thế Tôn thẩm
định ba lần Ni-kiền Trường Khổ Hạnh việc như vậy xong, bèn ngồi im lặng.
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh hỏi:
“Sa-môn Cù-đàm chủ
trương có bao nhiêu sự trừng phạt để không hành ác nghiệp, không tạo tác
ác nghiệp?”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
đáp:
“Này Khổ Hạnh, ta
không giảng thuyết về những trừng phạt để không hành ác nghiệp, không tạo
tác ác nghiệp. Ta chỉ giảng thuyết về nghiệp để không hành ác nghiệp,
không tạo tác ác nghiệp.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh hỏi:
“Cù-đàm chủ trương
có bao nhiêu nghiệp để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp?”
Thế Tôn lại đáp:
“Này Khổ Hạnh, Ta
giảng thuyết về ba nghiệp để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác
nghiệp. Thế nào là ba? Là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh lại hỏi:
“Cù-đàm, thân nghiệp
khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác chăng?”
Thế Tôn lại đáp:
“Ta nói, thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác vậy”.
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh hỏi:
“Thưa Cù-đàm, ba
nghiệp này tương tự như vậy, Ngài chủ trương nghiệp nào nặng nhất để không
hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp? Là thân nghiệp chăng? Khẩu nghiệp
chăng? Ý nghiệp chăng?”
Thế Tôn lại đáp:
“Này Khổ Hạnh, ba
nghiệp này tương tự như vậy, Ta giảng thuyết ý nghiệp là nặng nhất để
không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Thân nghiệp và khẩu nghiệp
thì không phải vậy.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh hỏi:
“Cù-Đàm chủ trương ý
nghiệp nặng nhất chăng?”
Thế Tôn đáp:
“Này Khổ Hạnh, Ta
giảng thuyết ý nghiệp là nặng nhất.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh lại hỏi đến ba lần:
“Cù-Đàm chủ trương
thi thiết ý nghiệp là nặng nhất chăng?”
Thế Tôn cũng trả lời
đến ba lần:
“Này Khổ Hạnh, Ta
giảng thuyết ý nghiệp là nặng nhất vậy.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh ba lần thẩm định Thế Tôn sự việc đó như vậy xong, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, đi nhiễu ba vòng quanh Thế Tôn rồi lui về; đi đến chỗ Ni-kiền
Thân Tử. Ni-kiền Thân Tử từ xa thấy Trường Khổ Hạnh đi đến, liền hỏi:
“Này Khổ Hạnh, ngươi
từ đâu đến vậy?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp:
“Con từ Na-nan-đà,
trong vườn xoài Ba-bà-ly, tại chỗ của Sa-môn Cù-đàm đến đây.”
Ni-kiền Thân Tử hỏi:
“Này Khổ Hạnh, ông
có cùng Sa-môn Cù-đàm bàn luận không?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp:
“Có bàn luận với
nhau.”
Ni-kiền Thân Tử nói
rằng:
“Này Khổ Hạnh, nếu đã cùng với Sa-môn Cù-đàm bàn luận, thì hãy nói lại hết
cho ta nghe, để hoặc giả ta biết được luận thuyết của vị ấy”.
Rồi Ni-kiền Trường
Khổ Hạnh mới đem sự việc thảo luận với Thế Tôn nói lại cho ông nghe.
Ni-kiền Thân Tử nghe xong, khen rằng:
“Hay thay Khổ Hạnh!
Ngươi đối với Tôn sư đã làm đúng pháp của đệ tử. Ông là người mà việc phải
làm được thành biện bằng trí tuệ. Với quyết định thông minh, với sự trầm
tĩnh không sợ hãi, hoàn toàn tự tin tưởng, đã đạt đến tài hùng biện, đã
bắt được ngọn cờ cam lộ, ở trong cảnh giới cam lộ tự thân chứng ngộ, thành
tựu an trụ.
Vì sao vậy? Ngươi vừa rồi đối với Sa-môn Cù-đàm mà giảng thuyết thân phạt
là nặng nhất để không hành ác nghiệp, không gây ác nghiệp. Khẩu phạt không
như vậy. Ýù phạt càng kém hơn; không bằng thân phạt rất lớn lao, rất trầm
trọng.”
Khi ấy, Cư sĩ
Ưu-ba-ly
cùng năm trăm Cư sĩ tập họp trong chúng chắp tay hướng Ni-kiền Thân tử.
Rồi Cư sĩ Ưu-ba-ly nói với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh:
“Ngài đã ba lần thẩm
định Sa-môn Cù-đàm việc như vậy?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp:
“Cư sĩ, tôi đã ba
lần thẩm định Sa-môn Cù-đàm việc như vậy.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly nói
với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh:
“Tôi cũng có thể đến
thẩm định ba lần Sa-môn Cù-đàm việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý.
Cũng như người lực sĩ nắm con dê có cái bờm dài
rồi lôi kéo đi đâu tùy ý; tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định ba lần
Sa-môn Cù-đàm việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Cũng như người lực
sĩ cầm áo lông giũ bụi, tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định lại ba lần
với Sa-môn Cù-đàm việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Tôi cũng như
vậy, có thể đến thẩm định lại ba lần với Sa-môn Cù-đàm việc như vậy rồi
lôi kéo đi dâu tùy ý. Cũng như người nấu rượu,
hay đệ tử của người nấu rượu, lấy cái túi lọc rượu đem để vào trong nước,
rồi tùy theo ý muốn, lôi đi đâu tùy ý; tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm
định ba lần Sa-môn Cù-đàm việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Cũng như
con voi chúa đã sáu mươi tuổi, là một đại long tượng kiêu ngạo,
đủ ngà, đủ vóc, gân sức mạnh mẽ, một lực sĩ dẫn đi, lấy nước rửa bắp vế,
rửa xương sống, rửa sườn, rửa bụng, rửa răng, rửa đầu và giỡn chơi trong
nước; tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định ba lần với Sa-môn Cù-đàm việc
như vậy, rồi tùy theo chỗ mà tẩy. Tôi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm cùng ông bàn
luận, hàng phục xong rồi trở về.”
Ni-kiền Thân Tử nới
với Cư sĩ Ưu-ba-ly rằng:
“Ta cũng có thể hàng
phục Sa-môn Cù-đàm. Ông cũng có thể. Ni-kiền Trường Khổ Hạnh cũng có thể
vậy.”
Khi ấy, Ni-kiền
Trường Khổ Hạnh thưa với Ni-kiền Thân Tử:
“Con không muốn để
cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn
Cù-đàm biết chú huyễn hóa, có thể dùng chú thuật biến hóa làm đệ tử,
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Con sợ Cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn
Cù-đàm biến hóa, hóa làm đệ tử.”
Ni-kiền Thân Tử nói:
“Khổ Hạnh, Cư sĩ
Ưu-ba-ly mà bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa, hóa làm đệ tử, việc đó hoàn toàn
không có. Sa-môn Cù-đàm bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa làm đệ tử, chắc chắn có
việc ấy.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly thưa
lại lần thứ ba với Ni-kiền Thân Tử rằng:
“Hôm nay con đi đến
chỗ Sa-môn Cù-đàm cùng ông ấy đàm luận. Hàng phục xong, con trở về.”
Ni-kiền Thân Tử cũng
đáp lại lần thứ ba rằng:
“Ông nên đi nhanh
đi. Ta cũng có thể hàng phục Sa-môn Cù-đàm. Ông cũng có thể. Ni-kiền
Trường Khổ Hạnh cũng có thể vậy.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh bạch lại lần thứ ba rằng:
“Con không muốn để
cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn. Vì sao vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm biết
chú huyễn hóa, có thể dùng chú thuật biến hóa làm đệ tử, Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Con sợ Cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đàm
biến hóa làm đệ tử.”
Ni-kiền Thân Tử nói:
“Khổ Hạnh, Cư sĩ
Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa làm đệ tử, việc đó hoàn toàn không có.
Sa-môn Cù-đàm bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa làm đệ tử, chắc chắn có việc ấy.
Cư sĩ Ưu-ba-ly, người đi tùy ý.”
Lúc ấy, Cư sĩ
Ưu-ba-ly cúi đầu sát chân Ni-kiền Thân Tử ba lần rồi đi đến chỗ Phật, chào
hỏi Phật rồi ngồi sang một bên, hỏi rằng:
“Thưa Cù-đàm, ngày
hôm nay Ni-kiền Trường Khổ Hạnh có đến đây không?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Cư sĩ, có đến.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly hỏi:
“Cù-đàm, có cùng với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đàm luận chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Có cùng đàm luận.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:
“Cù-đàm, nếu đã cùng
với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đàm luận, xin Ngài thuật lại hết cho tôi nghe.
Hoặc giả, sau khi nghe xong, tôi biết được việc đó.”
Rồi Thế Tôn thuật
hết lại những điều mà Ngài cùng với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đàm luận cho
Ưu-ba-ly nghe. Lúc đó Cư sĩ Ưu-ba-ly nghe rồi, khen rằng:
“Hay thay Khổ Hạnh!
Như vậy mới gọi là đối với Tôn sư làm đúng việc thực hành pháp của một đệ
tử. Điều phải làm được thành biện bằng trí tuệ, với quyết định thông minh,
với sự trầm tĩnh không sợ hãi, với sự hoàn toàn tự tin tưởng, đạt đến đại
biện tài, bắt được ngọn cờ cam lộ, ở trong cảnh giới cam lộ mà tự tác
chứng, thành tựu an trụ. Vì sao như vậy? Vì đã đối với Sa-môn Cù-đàm mà
trình bày thân phạt là tối thượng để không hành ác nghiệp, không gây ác
nghiệp. Khẩu phạt không như vậy, ý càng kém hơn, không bằng thân phạt, vốn
rất lớn lao, rất nặng nề”.
Khi đó Đức Thế Tôn
bảo rằng:
“Cư sĩ, ta muốn cùng
ông bàn luận về việc này. Nếu như ông an trụ trong sự thật, thì bằng sự
thật mà đáp.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Cù-đàm, tôi an trụ
trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đàm, hãy nên cùng tôi bàn
luận việc này.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Cư sĩ, ông nghĩ
sao? Ở đây nếu Ni-kiền ưa bố thí, thích hành việc bố thí, không hý luận,
ưa sự không hý luận, rất thanh tịnh, chuyên hành chú.
Nếu khi người ấy đi đến đây, đạp chết nhiều côn trùng lớn nhỏ, thì thế
nào, Cư sĩ, Ni-kiền Thân Tử đối với việc sát sanh này chủ trương có quả
báo ra sao?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Thưa Cù-đàm, nếu
người ấy cố ý thì có tội lớn, nếu không cố ý
thì không có tội lớn.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Cư sĩ, ông nói cố ý
là thế nào?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Thưa Cù-đàm, đó là
ý nghiệp
vậy.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, ông nên suy nghĩ rồi trả lời. Những điều nói trước trái với điều
sau, sau trái với điều trước, không phù hợp nhau. Cư sĩ, ông ở trong chúng
này tự nói: ‘Cù-đàm, tôi an trụ trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn
Cù-đàm, hãy nên cùng tôi bàn luận việc này’. Cư sĩ, ông nghĩ sao? Nếu có
Ni-kiền chỉ uống nước nóng, dứt hẳn nước lạnh.
Nhưng khi không có nước nóng bèn muốn uống nước lạnh. Không có nước lạnh
người ấy liền chết. Này Cư sĩ, Ni-kiền Thân Tử có thể nói thế nào về chỗ
thác sanh của Ni-kiền ấy?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Thưa Cù-đàm, có
loại trời gọi là Ý trước.
Vị Ni-kiền đó mạng chung, do ý có chấp trước tất sanh vào chỗ ấy.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, ông nên suy nghĩ rồi sẽ trả lời. Những điều ông nói trước trái với
sau, sau trái với trước, không phù hợp nhau. Cư sĩ, ông ở trong chúng này
tự nói: ‘Cù-đàm, tôi an trụ trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn
Cù-đàm, hãy nên cùng tôi bàn luận việc này’. Cư sĩ, ông nghĩ sao, giả sử
có người cầm dao bén tới đây, người ấy nói rằng: ‘Trong một ngày tôi chém
đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh ở trong xứ Na-nan-đà này chất thành
đống thịt, làm thành khối thịt’. Cư sĩ, ông nghĩ sao, người ấy có thể
trong một ngày mà chém đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh ở xứ
Na-nan-đà này chất thành đống thịt, làm thành một khối thịt không?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Không thể. Vì sao
như vậy? Xứ Na-nan-đà này quá giàu có an vui, nhân dân đông đúc, cho nên
người ấy chắc chắn không thể trong một ngày mà chém đầu, lột da, xẻ thịt
tất cả chúng sanh chất thành đống thịt, làm thành khối thịt được. Thưa
Cù-đàm, người ấy chỉ gây phiền nhọc vô ích.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, ông nghĩ
sao, nếu có Sa-môn, Phạm chí đến, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại
phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, người ấy nói như vầy: ‘Ta chỉ
khởi một niệm sân, làm cho cả xứ Na-nan-đà này thiêu rụi thành tro’. Này
Cư sĩ, ông nghĩ sao? Sa-môn, Phạm chí ấy có thể làm cho cả Na-nan-đà này
thiêu rụi thành tro không?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Thưa Cù-đàm, đâu phải chỉ một Na-nan-đà, đâu phải chỉ hai hoặc ba, hoặc
bốn; mà thưa Cù-đàm, Sa-môn Phạm chí kia có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, nếu khởi lên niệm sân
thì có thể làm cho hết thảy các nước, hết thảy nhân dân thiêu rụi thành
tro, sá gì một Na-nan-đà?”
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, ông nên suy
nghĩ rồi sẽ trả lời. Những điều nói trước trái với sau, sau trái với
trước, không phù hợp nhau. Ông ở tại chúng này tự nói: ‘Sa-môn Cù-đàm, tôi
an trú trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đàm, hãy nên cùng tôi
bàn luận việc này’.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Cư sĩ, ông có từng nghe rừng Đại-trạch, rừng Kỳ-lân, rừng Mê-lộc, rừng
Tĩnh tịch, rừng Không dã; tại sao những khu rừng ấy là những khu rừng?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Thưa Cù-đàm, tôi có
nghe.”
“Cư sĩ, ông nghĩ
sao? Vì ai mà rừng Đại-trạch, rừng Kỳ-lân, rừng Mê-lộc, rừng Tĩnh tịch,
rừng Không dã, tại sao những khu rừng này là những khu rừng?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly im
lặng không đáp.
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, hãy trả lời
nhanh đi! Hãy trả lời nhanh đi! Bây giờ không phải là lúc im lặng. Cư sĩ!
Ở tại chúng này, ông tự nói: ‘Thưa Cù-đàm, tôi an trú trong sự thật, bằng
sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đàm, hãy nên cùng tôi bàn luận việc này’.”
Lúc ấy, Cư sĩ
Ưu-ba-ly chỉ im lặng trong chốc lát rồi nói:
“Thưa Cù-đàm, tôi
không im lặng. Tôi chỉ suy nghĩ về ý nghĩa này vậy. Thưa Cù-đàm, bọn
Ni-kiền ngu si kia không hiểu rõ ràng, không thể giải biết, không biết
khoảnh ruộng tốt mà không tự xét, cứ mãi lừa dối tôi, tôi mê lầm vì họ,
nghĩa là vì nhắm đến Sa-môn Cù-đàm mà họ chủ trương thân phạt là nặng nhất
để không làm ác nghiệp, không gây ác nghiệp, khẩu phạt và ý phạt không
bằng. Nếu như theo những điều mà Sa-môn Cù-đàm đã nói, tôi hiểu ý nghĩa
rằng, bởi vì Tiên nhân khởi một niệm sân mà có thể làm cho rừng Đại-trạch,
rừng Kỳ-lân, rừng Mê-lộc, rừng Tĩnh tịch, rừng Không dã, những khu rừng
này trở thành những khu rừng.
“Bạch Thế Tôn, con đã biết. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Hôm nay con xin
quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo. Cúi xin Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc.
Từ nay về sau, trọn đời con quy y cho đến khi chết”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, ông hãy im
lặng mà làm, không nên lớn tiếng tuyên bố.
Sự im lặng của người thù thắng
như vậy là tốt đẹp.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly bạch:
“Bạch Thế Tôn, với
sự kiện này, đối với Thế Tôn con lại bội phần hoan hỷ. Vì sao như vậy? Vì
Thế Tôn đã nói như thế này: “Cư sĩ, ông hãy im lặng mà làm, không nên lớn
tiếng tuyên bố. Sự im lặng của người thù thắng như vậy là tốt đẹp’.
“Bạch Thế Tôn, nếu
như con mà làm đệ tử của các Sa-môn, Phạm chí khác thì họ đã cầm tràng
phan, dù lọng đi tuyên bố khắp nơi Na-nan-đà, nói như thế này: ‘Cư sĩ
Ưu-ba-ly đã làm đệ tử ta! Cư sĩ Ưu-ba-ly đã làm đệ tử ta!’ Nhưng Thế Tôn
lại nói như thế này: ‘Cư sĩ, ông hãy im lặng mà làm, không nên lớn tiếng
tuyên bố. Sự im lặng của người thù thắng như vậy là tốt đẹp’.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly lại
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, từ
nay về sau con không cho các Ni-kiền đi vào nhà con. Chỉ có bốn chúng đệ
tử Thế Tôn, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vào mà thôi.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, các Ni-kiền
kia cùng với gia đình ông trong một thời gian dài đã tôn kính nhau. Nếu họ
có đến thì ông nên tùy theo khả năng của mình mà cúng dường họ.”
Ưu-ba-ly bạch:
“Bạch Thế Tôn, với sự kiện này, đối với Thế Tôn con lại bội phần hoan hỷ.
Vì sao như vậy? Vì Thế Tôn đã nói như thế này: ‘Cư sĩ, các Ni-kiền kia đối
với gia đình ông trong một thời gian dài đã tôn kính nhau. Nếu họ có đến
thì ông nên tùy theo khả năng của mình mà cúng dường họ’. Bạch Thế Tôn,
ngày trước con nghe nói Thế Tôn dạy như thế này: ‘Nên cho Ta, đừng cho
người khác. Nếu cho Ta sẽ được phước lớn, nếu cho người khác thì không
được phước lớn. Cho đệ tử Ta thì sẽ được phước lớn, cho đệ tử người khác
thì không được phước lớn’.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Cư sĩ, Ta không nói
như thế. Ta không nói rằng: ‘Nên cho Ta chứ đừng cho người khác. Cho đệ tử
Ta chứ đừng cho đệ tử người khác. Nếu cho Ta thì phước lớn, nếu cho người
khác thì không được phước lớn. Cho đệ tử Ta sẽ được phước lớn, nếu cho đệ
tử người khác thì không được phước lớn’. Cư sĩ, Ta nói như thế này: ‘Hãy
cho tất cả tùy theo tâm hoan hỷ. Nhưng cho người không tinh tấn không được
phước lớn. Cho người tinh tấn sẽ được phước lớn’.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly bạch:
“Bạch Thế Tôn, xin
nguyện không làm vậy.
Con tự biết nên cho Ni-kiền hay không nên cho Ni-kiền. Bạch Thế Tôn, hôm
nay một lần nữa con xin tự quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo. Cúi xin Thế
Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc. Từ nay về sau, trọn đời quy y cho đến khi
chết.”
Khi ấy Đức Thế Tôn
thuyết pháp cho Cư sĩ Ưu-ba-ly, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan
hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến phát khát
ngưỡng, thành tựu hoan hỷ rồi, như pháp của chư Phật, Đức Phật trước hết
nói pháp đoan chánh
khiến người nghe hoan hỷ, ấy là nói pháp bố thí, trì giới, sanh thiên, chê
bai dục là tai hoạn, sanh tử là nhớp nhơ; khen vô dục là đạo phẩm vi diệu,
là bạch tịnh.
Thế Tôn nói pháp như
vậy cho ông nghe xong, Ngài biết ông có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu
nhuyến, tâm kham nại, tâm tăng thượng, tâm hướng đến, tâm không nghi ngờ,
tâm không triền cái, có năng lực nhận lãnh chánh pháp. Rồi như pháp chánh
yếu mà chư Phật đã nói, Đức Thế Tôn liền nói Khổ, Tập, Diệt, Đạo cho ông
nghe. Cư sĩ Ưu-ba-ly ngay tại chỗ ngồi đã thấy bốn Thánh đế Khổ, Tập,
Diệt, Đạo. Cũng như vải trắng dễ nhuộm sắc màu; cũng vậy, Cư sĩ Ưu-ba-ly
ngay tại chỗ ngồi thấy bốn Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ngay khi đó, Cư
sĩ Ưu-ba-ly thấy pháp, đắc pháp, biết pháp bạch tịnh, đoạn nghi độ hoặc,
không còn tôn thờ ai khác, không theo ai khác, không còn do dự, đã trụ quả
chứng. Đối với pháp của Thế Tôn được vô sở úy, liền rời chỗ ngồi đứng dậy
làm lễ Đức Phật:
“Bạch Thế Tôn, hôm
nay con ba lần tự quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo. Cúi xin Thế Tôn nhận
con làm Ưu-bà-tắc. Từ nay về sau, trọn đời con quy y cho đến khi chết.”
Rồi Cư sĩ Ưu-ba-ly
sau khi nghe pháp được Phật giảng dạy, khéo thọ, khéo trì, cúi đầu lễ chân
Phật, đi quanh ba vòng, trở về nhà bảo người đứng giữ cửa rằng:
“Các ngươi nên biết,
nay ta là đệ tử của Đức Thế Tôn. Từ nay về sau, các Ni-kiền tử đến chớ cho
vào cửa, chỉ cho bốn chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vào mà thôi. Nếu có Ni-kiền đến thì nói với họ rằng:
‘Tôn giả, Cư sĩ Ưu-ba-ly nay được Phật cải hóa, đã hóa làm đệ tử Phật, nên
không cho các Ni-kiền vào cửa, chỉ cho bốn chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vào mà thôi. Nếu người cần thức
ăn, hãy đứng đó. sẽ đem thức ăn ra cho.”
Khi đó, Ni-kiền
Trường Khổ Hạnh nghe Cư sĩ Ưu-ba-ly đã được Sa-môn Cù-đàm cải hóa, hóa làm
đệ tử và không cho Ni-kiền vào cửa, chỉ cho đệ tử của Sa-môn Cù-đàm là
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vào. Ni-kiền Trường Khổ Hạnh nghe
xong như vậy rồi đi đến chỗ Ni-kiền Thân Tử bạch rằng:
“Thưa tôn sư, đây
điều con đã nói trước.”
Ni-kiền Thân Tử hỏi:
“Khổ Hạnh, điều gì
gọi là điều ngươi đã nói trước?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh đáp:
“Thưa tôn sư, con đã
nói trước rằng: ‘Không muốn cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm.
Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm biết chú huyễn hóa, có thể dùng chú thuật
hóa làm đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Con sợ rằng Cư sĩ
Ưu-ba-ly sẽ bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa, hóa làm đệ tử’. Thưa tôn sư, Cư sĩ
Ưu-ba-ly nay đã bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa, hóa làm đệ tử rồi, không cho
các Ni-kiền vào cửa, chỉ cho đệ tử Sa-môn Cù-đàm là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vào.”
Ni-kiền Thân Tử nói:
“Khổ Hạnh, Cư sĩ
Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa làm đệ tử, việc ấy hoàn toàn không có.
Sa-môn Cù-đàm bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa làm đệ tử, việc ấy chắc chắn có.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh bạch lại:
“Thưa tôn sư, nếu
không tin lời con nói, thì tôn sư có thể thân hành đến, hoặc sai người
đến.”
Khi ấy, Ni-kiền thân
tử bảo:
“Khổ Hạnh, ông nên
thân hành đến đó xem sao. Có phải Cư sĩ Ưu-ba-ly đã bị Sa-môn Cù-đàm biến
hóa làm đệ tử rồi chăng? Hay là Sa-môn Cù-đàm bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa
làm đệ tử rồi?”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh vâng lệnh Ni-kiền Thân Tử, đi đến nhà Cư sĩ Ưu-ba-ly. Người giữ cửa
vườn trông thấy Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đến, liền nói như thế này:
“Tôn giả, Cư sĩ
Ưu-ba-ly nay đã được Phật cải hóa, hóa thành đệ tử Phật rồi, nên không cho
các Ni-kiền vào cửa, chỉ cho bốn chúng đệ tử của Thế Tôn là Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vào thôi. Nếu ngài muốn nhận thức ăn thì
nên đứng đó, con sẽ đem thức ra cho.
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh nói:
“Người giữ cửa, ta
không cần thức ăn.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh biết việc này như vậy rồi, lắc đầu bỏ đi, về tới chỗ Ni-kiền Thân Tử
thưa:
“Thưa tôn sư, đây là
điều con đã nói trước.”
Ni-kiền thân tử hỏi:
“Khổ Hạnh, cái gì
gọi là điều ông đã nói trước?”
Trường khổ hạnh
Ni-kiền đáp:
“Thưa tôn sư, tôi đã
nói rằng: ‘Không muốn cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm. Vì sao
như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm biết chú huyễn hóa, có thể dùng chú thuật hóa
làm đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Con sợ rằng Cư sĩ
Ưu-ba-ly sẽ bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa, hóa làm đệ tử’. Thưa tôn sư, Cư sĩ
Ưu-ba-ly nay đã bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa, hóa làm đệ tử rồi, không cho
các Ni-kiền vào cửa, chỉ cho đệ tử Sa-môn Cù-đàm là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di vào.”
Ni-kiền Thân Tử nói:
“Khổ Hạnh, Cư sĩ
Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa làm đệ tử, việc ấy hoàn toàn không có.
Sa-môn Cù-đàm bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa làm đệ tử, việc ấy chắc chắn có.”
Ni-kiền Trường Khổ
Hạnh bạch lại:
“Thưa tôn sư, nếu
không tin lời con nói, thì tôn sư có thể thân hành đến.
Lúc đó Ni-kiền thân
tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm người cùng đi đến nhà Cư sĩ Ưu-ba-ly.
Người giữ cửa vừa trông thấy Ni-kiền Thân Tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm
người kéo đến, nói như thế này: “Thưa Tôn giả, Cư sĩ Ưu-ba-ly nay đã được
Phật cải hóa, hóa thành đệ tử Ngài rồi, nên không cho các Ni-kiền vào cửa,
chỉ cho bốn chúng đệ tử của Thế Tôn là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di vào cửa mà thôi. Nếu ngài muốn nhận thức ăn thì nên đứng đó, con
sẽ đem thức ăn ra cho.”
Ni-kiền Thân Tử nói:
“Người giữ cửa, ta
không cần thức ăn, Ta chỉ muốn gặp Cư sĩ Ưu-ba-ly.”
Người giữ cửa nói:
“Xin ngài đứng đó,
để con thưa với Cư sĩ Ưu-ba-ly.”
Người giữ cửa kia
liền vào thưa rằng:
“Thưa Cư sĩ, Ni-kiền
Thân Tử cùng đại chúng Ni-kiền năm trăm người đứng ở ngoài cửa, nói như
thế này: ‘Ta muốn được gặp Cư sĩ Ưu-ba-ly.’”
Cư sĩ Ưu-ba-ly bảo
người giữ cửa:
“Ngươi đến cửa giữa
trải bày tòa ngồi. Bày xong trở lại cho ta biết.”
Người giữ cửa vâng
lệnh, đi đến cửa giữa trải bày giường ngồi xong rồi trở lại thưa:
“Thưa Cư sĩ, đã trải
giường xong, kính mong Cư sĩ tự biết thời.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly dẫn người giữ cửa đi đến nhà giữa. Ở đó có một cái giường
thật cao rộng, to lớn, rất sạch sẽ, được trải khéo léo, đó là chỗ Cư sĩ
Ưu-ba-ly trước kia đã bế
Ni-kiền Thân Tử để ngồi lên đó, thì bây giờ Cư sĩ Ưu-ba-ly tự leo lên ngồi
kiết già, bảo với người giữ cửa:
“Ngươi ra chỗ
Ni-kiền Thân Tử nói như thế này: ‘Tôn nhân, Cư sĩ Ưu-ba-ly nói tôn nhân
muốn vào thì tùy ý’.”
Người giữ cửa vâng
lệnh đi ra, đến chỗ Ni-kiền nói như thế này:
“Tôn nhân, Cư sĩ
Ưu-ba-ly nói: Tôn nhân muốn vào thì tùy ý.”
Lúc đó, Ni-kiền Thân
Tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm người cùng đến nhà giữa. Cư sĩ Ưu-ba-ly
vừa trông thấy Ni-kiền Thân Tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm người cùng
vào, nói như thế này:
“Tôn nhân, ở đây có
chỗ ngồi, muốn ngồi xin tùy ý.”
Ni-kiền thân tử nói:
“Cư sĩ, ông làm như
vậy phải lẽ chăng? Tự mình lên tòa cao ngồi kiết già cùng nói chuyện với
người như người xuất gia học đạo không khác?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:
“Tôn nhân, tôi có đồ
vật của mình, muốn cho thì cho, không cho thì không cho. Chỗ ngồi này là
của tôi, cho nên tôi nói có chỗ ngồi, muốn ngồi xin tùy ý.”
Ni-kiền Thân Tử trải
chỗ ngồi mà ngồi, rồi nói rằng:
“Cư sĩ, vì sao như
vậy? Muốn hàng phục Sa-môn Cù-đàm nhưng khi trở về đã bị hàng phục. Cũng
như có người vào rừng nên đi tìm con mắt, nhưng khi trở về bị mất con mắt.
Cũng vậy, Cư sĩ, muốn đến hàng phục Sa-môn Cù-đàm nhưng khi trở về đã bị
hàng phục. Cũng như người vì khát mà xuống ao; nhưng trở lên vẫn cứ khát.
Cư sĩ cũng như vậy, muốn đi chinh phục Sa-môn Cù-đàm, thì bị chinh phục
ngược trở lại. Cư sĩ, vì sao như vậy?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:
“Tôn nhân, xin nghe
tôi nói dụ. Người trí tuệ nghe dụ thì hiểu được ý nghĩa. Tôn nhân, ví như
có một người Phạm chí có người vợ trẻ. Người vợ kia đang có thai, nói với
chồng rằng: ‘Tôi nay mang thai, anh hãy đến chợ mua đồ chơi đẹp về cho
con’. Lúc đó, Phạm chí kia nói với vợ rằng: “Chỉ mong em được bình yên
sinh sản, rồi lo gì mà không có. Nếu sanh con trai thì mua đồ chơi con
trai cho nó. Nếu sanh con gái thì mua đồ chơi con gái cho nó’. Người vợ
lại ba lần nói với chồng: ‘Tôi nay đang mang thai, anh hãy đến chợ mua đồ
chơi về cho con’. Phạm chí đã ba lần nói lại với vợ rằng: Chỉ mong em được
bình yên sanh sản, rồi lo gì mà không có. Nếu sanh con trai thì phải mua
đồ chơi con trai. Còn nếu sanh con gái thì mua đồ chơi con gái’. Phạm chí
kia thương vợ quá sức, liền nói rằng: ‘Em muốn mua đồ chơi gì cho con?’
Người vợ đáp: ‘Anh mua đồ chơi đẹp là con khỉ con’. Phạm chí nghe rồi, đi
vào chợ mua đồ chơi đẹp bằng con khỉ con, đem về nói với vợ: ‘Tôi đã mua
đồ chơi đẹp bằng khỉ con về đây’. Người vợ thấy rồi chê rằng màu sắc không
đẹp, liền nói với chồng: ‘Anh nên đem thứ đồ chơi khỉ con này thợ nhuộm
màu vàng để được rất dễ thương hơn và nhồi cho nó phát ra ánh sáng’. Phạm
chí nghe xong, liền cầm đồ chơi con khỉ con đến thợ nhuộm, nói rằng: ‘Hãy
nhuộm đồ chơi khỉ con này thành sắc vàng, làm cho nó rất dễ thương và nhồi
cho nó phát ra ánh sáng cho tôi’. Khi ấy người thợ nhuộm nói với Phạm chí:
‘Đồ chơi khỉ con nhuộm thành màu vàng làm cho dễ thương, việc này làm
được, nhưng không thể nhồi cho nó phát ra ánh sáng được’.
“Khi ấy người thợ
nhuộm nói tụng này:
‘Khỉ nhỏ tiếp nhận
sắc,
Không hay chịu đảo
nhồi.
Nếu nhồi, nó sẽ
chết;
Chịu sao được với
chày?
Đây là đãy xú uế,
Khỉ con đầy bất
tịnh’.
“Thưa Tôn nhân, nên
biết, những điều được Ni-kiền thuyết cũng giống như vậy, không thể chịu
đựng được những nạn vấn của người khác, cũng không thể suy nghĩ quán sát
được. Chỉ có nhuộm sự ngu si, không nhuộm trí tuệ. Tôn nhân, xin hãy nghe
đấy. Cũng như chiếc áo Ba-la-nại thanh tịnh, người chủ cầm đến thợ nhuộm,
nói rằng: ‘Nhuộm giùm chiếc áo này thành cực đẹp, làm cho dễ yêu, cũng đập
nhồi kỹ cho nó phát ánh sáng’. Lúc đó, thợ nhuộm bảo với chủ áo rằng: ‘Áo
này có thể nhuộm thành màu sắc cực đẹp, làm cho dễ ưa; cũng có thể đập
nhồi cho phát ánh sáng’.
“Khi ấy thợ nhuộm
nói tụng này:
‘Như vải Ba-la-nại,
Trắng sạch, chịu sắc
màu;
Đập xong thời mềm
mại,
Sáng chói, càng thêm
đẹp’.
“Thưa Tôn nhân,
những điều các Đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã dạy cũng như
vậy; rất đủ khả năng chịu đựng những nạn vấn của kẻ khác, cũng có thể suy
nghĩ quán sát một cách thỏa đáng được; chỉ có nhuộm trí tuệ, không nhuộm
ngu si.”
Ni-kiền Thân Tử nói:
“Cư sĩ, ông đã bị
Sa-môn Cù-đàm biến hóa bằng chú huyễn thuật.”
Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:
“Tôn nhân, thật tốt
đẹp loại chú huyễn hóa ấy, rất tốt đẹp loại chú huyễn hóa. Thưa Tôn nhân,
loại chú huyễn hóa đó làm cho cha mẹ tôi được lợi ích an ổn, khoái lạc lâu
dài; vợ con, nô tỳ, người giúp việc, quốc vương Na-nan-đà và tất cả thế
gian, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ người đến trời, làm cho họ
được lợi ích an ổn khoái lạc lâu dài.”
Ni-kiền thân tử nói:
“Cư sĩ, toàn cõi
Na-nan-đà đều biết Cư sĩ Ưu-ba-ly là đệ tử Ni-kiền, nay đây cuối cùng là
đệ tử của ai?”
Khi ấy, Cư sĩ
Ưu-ba-ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, gối phải quỳ xuống đất, nhắm phương có
Phật, chắp tay hướng về, nói:
“Tôn nhân, hãy nghe
điều tôi nói đây:
Đại Hùng, trừ si
ngốc;
Diệt uế, bắt hàng
phục.
Vô địch, vi diệu tư,
Học giới, thiền, trí
tuệ;
An ổn không bợn nhơ;
Ba-ly đệ tử Phật.
Bậc Đại Thánh tu
nhiều;
Thành đức tự tại
thuyết.
Khéo niệm, quán sát
mầu;
Không thấp, cũng
không cao;
Bất động, thường tự
tại;
Ba-ly đệ tử Phật.
Không cong, thường
biết đủ;
Thỏa mãn, trừ xan
tham;
Hiện Sa-môn chứng
ngộ,
Tôn đại sĩ, hậu
thân;
Vô tỷ, không nhiễm
trần;
Ba-ly đệ tử Phật.
Bao dung, không ganh
ghét;
Đấng Tịch Mặc nhiệm
mầu,
Dũng mãnh, hằng an
ổn;
Trụ pháp, vi diệu
tư,
Chế ngự, không hý
bỡn;
Ba-ly đệ tử Phật.
Đại long sống vượt
tục,
Giải trừ mọi sử
kiết,
Ưng thanh tịnh biện
tài,
Tuệ phát, dứt vui
buồn;
Đức Thích-ca, cõi
ngoài;
Ba-ly đệ tử Phật.
Thiền tư duy Chánh
pháp,
Thanh tịnh, nhiễu
loạn trừ;
Thường cười, không
hờn giận;
Đệ nhất đời viễn ly.
Thường chuyên tinh,
vô úy
Ba Ly đệ tử Phật
Bậc Thất Tiên[26]
vô đẳng,
Chứng tịnh hạnh, tam minh[27].
Tắm sạch, như đèn
sáng
Yên nghỉ, dứt oán
kết;
Dũng mãnh, cực thanh
tịnh’
Ba-ly đệ tử Phật.
Tịch tĩnh, tuệ như
đất;
Trí trừ tham thế
gian;
Đáng thờ, con mắt
siêu;
Thượng sỹ không ai
sánh;
Tự điều ngự, triệt
sân;
Ba-ly đệ tử Phật.
Đoạn dục[28],
vô thượng thiện;
Khéo điều ngự vô
song;
Vô thượng thường
hoan hỷ;
Trừ nghi, rực sắc
quang;
Đoạn mạn, vô thượng
giác;
Ba-ly đệ tử Phật.
Đoạn ái, giác tối
thượng;
Khói tan, lửa đã
tắt;
Đấng Như Khứ[29],
Thiện Thệ;
Đấng Vô Đẳng, Tối
Tôn;
Đấng Đại Danh, Chân
Chánh;
Ba-ly đệ tử Phật.
Trăm lời tán Phật
này,
Tự phát, không cần
suy.
Những sự Ba-ly nói,
Chư Thiên đến hội
tề.
Khéo gia sức hùng
biện;
Đúng pháp, đúng nhân
tài.
Ni-kiền thân tử hỏi:
‘Đệ tử của Như
Lai’.”
Ni-kiền Thân Tử hỏi:
“Cư sĩ, ông ca ngợi
Sa-môn Cù-đàm với ý gì?”
Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:
“Hãy nghe tôi nói
dụ, người trí nghe dụ thì hiểu rõ ý nghĩa. Như thầy trò người làm tràng
hoa, chọn các loại hoa, dùng dây dài kết làm các loại tràng hoa. Cũng vậy,
này Tôn nhân, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có vô lượng xưng
tán, là đấng tối tôn thờ, nên tôi ca ngợi.”
Khi nói pháp này, Cư
sĩ Ưu-ba-ly xa lìa trần cấu, phát sanh con mắt pháp thấy các pháp. Ni-kiền
Thân Tử liền mửa máu nóng, rồi đến nước Bà-hòa
vì bệnh này mà mạng chung.
Phật nói như vậy, Cư
sĩ Ưu-ba-ly nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 11
117
|
118
|
119
|
120
|
121
|
122
|
123
|
124
125
|
126
|
127
|
128
|
129
|
130
|
131
|
132
133
|
134
|
135
|
136
|
137
|
138
|
139
|
140
|
141
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003