SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 11
PHẨM ĐẠI (phần
đầu)
132. KINH LẠI-TRA-HÒA-LA
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Câu-lâu-sấu
cùng với chúng đại Tỳ-kheo, đi dến Thâu-lô-tra;
trú trong vườn Thi-nhiếp-hòa,
phía Bắc thôn Thâu-lô-tra.
Bấy giờ, các Phạm
chí, Cư sĩ thôn Thâu-lô-tra nghe đồn rằng: “Sa-môn Cù-đàm, con dòng họ
Thích, lìa bỏ tông tộc, xuất gia học đạo, đang du hóa Câu-lâu-sấu cùng với
chúng đại Tỳ-kheo, đi đến thôn Thâu-lô-tra này, trú trong rừng
Thi-nhiếp-hòa, phía Bắc thôn Thâu-lô-tra. Sa-môn Cù-đàm ấy có tiếng tăm
lớn, đồn khắp mười phương. Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu.
Vị ấy ở trong thế gian này, giữa Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ
người đến trời, mà tự tri, tự giác, tự chứng ngộ, thành tựu an trụ.
Vị ấy thuyết pháp vi diệu ở khởi đầu, vi diệu ở khoảng giữa và đoạn cuối
cũng vi diệu, có nghĩa, có văn; cụ túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh.
Nếu được gặp Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác để tôn trọng,
lễ bái, cúng dường, thừa sự, thật là thiện lợi thay! Chúng ta nên cùng
nhau đến gặp Sa-môn Cù-Đàm để lễ bái, cúng dường.”
Các Cư sĩ, Phạm chí thôn Thâu-lô-tra sau khi đã được nghe như vậy, mỗi
người cùng với quyến thuộc theo sau, từ thôn Thâu-lô-tra ra đi, hướng về
phía Bắc, đến vườn Thi-nhiếp-hòa. Họ mong gặp Đức Thế Tôn để lễ bái, cúng
dường. Sau khi đến nơi Phật, các Phạm chí, cư sĩ thôn Thâu-lô-tra kia, có
người cúi đầu lễ bái sát chân Phật rồi ngồi sang một bên; có người chào
hỏi Phật rồi ngồi sang một bên; có người chắp tay hướng Phật rồi ngồi sang
một bên; có người từ xa thấy Phật, lặng lẽ ngồi xuống.
Khi các Phạm chí, Cư sĩ thôn Thâu-lô-tra ai nấy đều ngồi yên, Đức
Phật nói pháp cho họ, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi
bằng vô lượng phương tiện nói pháp cho họ, khuyến phát khát ngưỡng, thành
tựu hoan hỷ rồi Đức Phật ngồi im lặng.
Bấy giờ, các Phạm chí, Cư sĩ thôn Thâu-lô-tra sau khi được Phật thuyết
pháp, khuyến phát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ rồi, ai nấy đều rời chỗ ngồi
đứng dậy, cúi đầu sát chân Phật, đi quanh Phật ba vòng rồi ra về.
Lúc bấy giờ con trai
cư sĩ là Lại-tra-hòa-la
vẫn ngồi không đứng dậy. Đến lúc các Phạm chí, cư sĩ thôn Thâu-lô-tra ra
về chẳng bao lâu, Lại-tra-hòa-la con trai cư sĩ liền rời chỗ ngồi đứng
dậy, trịch vai áo, chắp tay hướng về Phật mà bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, như
con biết, đối với giáo pháp mà Phật đã dạy, nếu con sống tại gia bị tù hãm
trong những sự phiền tỏa, không thể trọn đời thanh tịnh tu hành phạm hạnh
được. Bạch Thế Tôn, xin cho con được theo Thế Tôn xuất gia học đạo, thọ
giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo tịnh tu phạm hạnh.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này con trai Cư sĩ,
cha mẹ có cho phép ông ở trong Chánh pháp luật này, chí tín, lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình học đạo không?”
Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, cha
mẹ chưa cho con ở trong Chánh pháp luật này chí tín, lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình học đạo.”
Đức Thế Tôn dạy:
“Này con trai Cư sĩ,
nếu cha mẹ không cho phép ông sống trong Chánh pháp luật này, chí tín, lìa
bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo, thì Ta không thể độ ông xuất gia
học đạo, cũng không thể truyền trao giới cụ túc.
Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ bạch:
“Bạch Thế Tôn, con
sẽ phương tiện xin cha mẹ để con được phép ở trong Chánh pháp luật này chí
tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.”
Đức Thế Tôn dạy:
“Này con trai Cư sĩ,
tùy ước muốn của ông.”
Khi ấy
Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ nghe lời Phật dạy, cẩn thận ghi nhớ, cúi đầu
lễ sát chân Phật, đi quanh ba vòng rồi ra về. Về đến nhà, ông thưa với cha
mẹ:
“Thưa cha mẹ, như
con biết, đối với giáo pháp mà Phật đã dạy, nếu con sống tại gia đình, bị
tù hãm trong những sự phiền tỏa, không thể trọn đời thanh tịnh tu hành
phạm hạnh được. Cúi xin cha mẹ cho con trong Chánh pháp luật này mà chí
tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.”
Cha mẹ của
Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ bảo:
“Lại-tra-hòa-la, cha
mẹ chỉ có một mình con, hết sức yêu thương chiều chuộng, lòng những quyến
luyến không kể xiết. Giả sử con có chết đi, cha mẹ còn không muốn rời bỏ,
huống gì còn sống mà nỡ lìa xa, không nhìn thấy được mặt sao?”
Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ lại thưa đến lần thứ ba:
“Thưa cha mẹ, như
con biết, đối với giáo pháp mà Phật đã dạy, nếu con sống tại gia đình, bị
tù hãm trong những sự phiền tỏa, không thể trọn đời thanh tịnh tu hành
phạm hạnh được. Cúi xin cha mẹ cho con trong Chánh pháp luật này mà chí
tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.”
Cha mẹ
Lại-tra-hòa-la cũng lại bảo đến lần thứ ba:
“Lại-tra-hòa-la, cha
mẹ chỉ có một mình con, hết sức yêu thương chiều chuộng, lòng những quyến
luyến không kể xiết. Giả sử con có chết đi, cha mẹ còn không muốn rời bỏ,
huống gì còn sống mà nỡ lìa xa, không nhìn thấy được mặt sao?”
Khi ấy
Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ liền vật mình xuống đất, nói:
“Từ nay con không
đứng dậy, không uống, không ăn, cho đến khi nào cha mẹ cho con ở trong
Chánh pháp luật này chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.”
Rồi Lại-tra-hòa-la
con trai Cư sĩ trải qua một ngày không ăn, cho đến hai ngày, ba ngày, bốn
ngày, nhiều ngày không ăn. Bấy giờ cha mẹ Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ
đến bên con bảo rằng:
“Lại-tra-hòa-la,
người con mềm mại, thân hình đẹp đẽ, thường nằm ngồi trên giường tốt, nay
con không biết khổ sao? Lại-tra-hòa-la, con hãy mau đứng dậy, sống đời dục
lạc mà bố thí, sung sướng mà tu phước nghiệp. Vì sao? Lại-tra-hòa-la, cảnh
giới của Đức Thế Tôn rất khó, rất khó! Xuất gia học đạo lại càng rất khó.”
Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ vẫn nằm im lặng không đáp.
Rồi cha mẹ
Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ đi đến thân bằng quyến thuộc và các quan
viên nói rằng:
“Mong quý vị hãy
cùng đến chỗ Lại-tra-hòa-la khuyên nó dậy.”
Thân bằng quyến
thuộc của Lại-tra-hòa-la và các quan viên bèn cùng nhau đi đến chỗ
Lại-tra-hòa-la bảo rằng:
“Này cậu
Lại-tra-hòa-la, người cậu mềm mại, thân hình đẹp đẽ, thường nằm ngồi trên
giường tốt, nay không biết khổ sao? Lại-tra-hòa-la, cậu hãy mau đứng dậy,
sống đời dục lạc mà bố thí, sung sướng tu phước nghiệp. Vì sao?
Lại-tra-hòa-la, cảnh giới của Đức Thế Tôn rất khó, rất khó! Xuất gia học
đạo lại càng rất khó.”
Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ vẫn nằm im lặng không đáp.:
Rồi cha mẹ
Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ đi đến các thiện tri thức đồng bạn đồng lứa
với Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ, nói rằng:
“Mong các cậu đến
chỗ Lại-tra-hòa-khuyên nó đứng dậy.”
Các thiện tri thức
đồng bạn đồng lứa với Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ, liền cùng nhau đi đến
bên Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ, nói rằng:
“Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ, người bạn mềm mại, thân hình đẹp đẽ, thường nằm ngồi trên
giường tốt, nay bạn không biết khổ sao? Lại-tra-hòa-la, bạn hãy mau đứng
dậy sống đời dục lạc mà bố thí, sung sướng tu phước nghiệp. Vì sao?
Lại-tra-hòa-la, cảnh giới của Đức Thế Tôn rất khó, rất khó! Xuất gia học
đạo lại càng rất khó.”
Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ vẫn im lặng không đáp.
Khi ấy các thiện tri
thức đồng bạn, đồng lứa với Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ đi đến chỗ cha
mẹ Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ nói rằng:
“Hai bác nên cho
Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ ở trong Chánh pháp luật này chí tín lìa bỏ
gia đình, sống không gia đình học đạo. Nếu anh ấy thích sống như vậy, thì
ngay trong đời này còn có thể gặp nhau. Nếu anh ấy chán sống cảnh ấy thì
tự nhiên sẽ trở về với cha mẹ. Nay nếu không cho anh ấy đi, nhất định anh
ấy sẽ chết, không nghi ngờ gì nữa. Như thế có ích gì?”
Khi ấy, cha mẹ
Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ nghe xong, liền nói với các thiện tri thức
đồng bạn đồng lứa với Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ rằng:
“Chúng tôi nay cho
Lại-tra-hòa-la ở trong Chánh pháp luật mà chí tín lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình học đạo. Nếu học đạo mà vẫn trở về cho chúng tôi gặp.”
Rồi các thiện tri
thức đồng bạn đồng lứa với Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ liền cùng nhau
đến chỗ Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ nói rằng:
“Này bạn, cha mẹ đã
cho bạn ở trong Chánh pháp luật mà chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình, học đạo. Khi học đạo rồi, phải trở về thăm cha mẹ.”
Lại-tra-hòa-la con
trai Cư sĩ nghe như vậy, vui mừng khôn tả, hân hoan, sinh ái, sinh lạc,
bèn đứng dậy, dần dần bồi dưỡng thân thể. Khi thân thể đã bình phục, liền
rời khỏi thôn Thâu-lô -tra, đi đến chỗ Phật, cúi đầu sát chân Phật, bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, cha
mẹ đã cho con ở trong Chánh pháp luật này chí tín lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình học đạo. Ngưỡng mong Thế Tôn cho con được theo Thế Tôn xuất
gia học đạo, thọ giới Cụ túc, được làm Tỳ-kheo.”
Khi ấy Đức Thế Tôn độ Lại-tra-hòa-la con trai Cư sĩ xuất gia học đạo,
truyền trao giới Cụ túc. Sau khi truyền trao giới Cụ túc, Đức Thế Tôn ở
lại thôn Thâu-lô-tra một thời gian, sau đó Ngài thâu y mang bát lần lượt
du hành đến nước Xá-vệ, trú trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Tôn giả Lại-tra-hòa-la sau khi xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, sống cô
độc ở nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn. Do sống cô độc ở
nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, ngài đạt đến mục đích
mà một thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình học đạo, là chỉ cầu hoàn thành vô thượng phạm hạnh, ở
ngay đời này tự tri, tự giác, tự chứng ngộ, thành tựu an trụ, biết như
thật rằng: “Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong,
không còn tái sanh nữa". Tôn giả Lại-tra-hòa-la biết như pháp rồi, cho
đến, chứng đắc quả A-la-hán.
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la, sau khi đắc quả A-la-hán, khoảng chín mười năm trôi qua,
bèn nghĩ rằng: “Ngày xưa ta đã hứa xuất gia học đạo rồi sẽ trở về thăm cha
mẹ. Ta nay nên trở về để trọn lời hứa đó.”
Rồi Tôn giả
Lại-tra-hòa-la đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật, ngồi sang một
bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
trước có lời hứa, là sau khi học đạo rồi, sẽ về thăm cha mẹ. Hôm nay con
xin từ giã để về thăm cha mẹ cho trọn lời hứa trước.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
nghĩ: “Thiện nam tử Lại-tra-hòa-la
này, nếu giả sử xả giới, bỏ đạo, sống đời dục lạc như cũ, chắc chắn không
có trường hợp đó.” Đức Thế Tôn biết vậy, liền bảo:
“Ngươi hãy đi. Những
ai chưa được độ, hãy độ; chưa giải thoát, hãy khiến cho giải thoát; tịch
diệt, khiến được tịch diệt. Lại-tra-hòa-la, nay tùy ý ngươi.
Khi đó, Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nghe Phật nói xong, cẩn thận ghi nhớ, liền rời chỗ ngồi
đứng dậy, cúi lạy sát chân Phật, đi quanh ba vòng, rồi đi về phòng riêng,
thu xếp ngọa cụ, mang y ôm bát, lần lượt du hành đến thôn Thâu-lô-tra, trú
trong vườn Thi-nhiếp-hòa, phía Bắc thôn Thâu-lô-tra.
Khi đêm đã qua, trời
vừa hừng sáng, Tôn giả Lại-tra-hòa-la mang y ôm bát vào thôn Thâu-lô-tra
khất thực. Tôn giả Lại-tra-hòa-la nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn khen ngợi
việc thứ lớp khất thực. Ta nay ở trong thôn Thâu-lô-tra này nên theo thứ
lớp khất thực.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la ở trong thôn Thâu-lô-tra theo thứ lớp khất thực, lần lượt
về đến nhà mình. Lúc đó cha của Tôn giả Lại-tra-hòa-la đứng trong cửa,
đang chải tóc cạo râu. Ông ta thấy Lại-tra-hòa-la đi vào, liền nói rằng:
“Sa-môn trọc đầu này
bị quỷ đen trói chặt,
tuyệt chủng không con cái, phá hoại gia đình ta. Ta có một đứa con, hết
sức thương yêu chiều chuộng, lòng những quyến luyến không kể xiết, thế mà
nó dẫn đi mất. Đừng cho nó ăn!
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la ở nhà cha đã không được bố thí, mà lại bị rủa xả rằng:
“Sa-môn trọc đầu này bị màu đen trói chặt, tuyệt chủng không con cái, phá
hoại gia đình ta. Ta có một đứa con, hết sức thương yêu chiều chuộng, lòng
những quyến luyến không kể xiết, thế mà nó dẫn đi mất. Đừng cho nó ăn!”
Tôn giả Lại-tra-hòa-la nghe vậy liền vội vàng bỏ đi.
Lúc đó người nô tỳ
của cha Tôn giả Lại-tra-hòa-la xách một giỏ đồ ăn thiu thối, định vất vào
đống rác. Tôn giả thấy người nô tỳ của cha Tôn giả Lại-tra-hòa-la xách một
giỏ đồ ăn thiu thối, định vất vào đống rác, liền nói:
“Này cô em, nếu đồ
ăn thiu thối này đáng bỏ đi thì nên bỏ vào bát của tôi. Tôi sẽ ăn.”
Khi ấy, đứa nô tỳ
của cha người nô tỳ của cha Tôn giả Lại-tra-hòa-la đem đồ ăn thiu thối
trong giỏ đổ vào bát. Đang khi đổ vào bát, do hai dấu hiệu mà cô nhận ra
Tôn giả; đó là: tiếng nói và tay chân của Tôn giả. Nhận ra được hai dấu
hiệu này, nó liền chạy đến chỗ cha của Tôn giả
Lại-tra-hòa-la, thưa:
“Thưa ông, nên biết,
cậu Lại-tra-hòa-la đã trở về đế thôn Thâu-lô-tra này rồi. Ông nên đến
gặp.”
Cha Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nghe xong, rất đổi vui mừng phấn khởi, tay trái vén áo, tay
mặt vuốt sửa râu tóc, rồi đi nhanh đến chỗ Tôn giả Lại-tra-hòa-la. Khi đó
Tôn giả Lại-tra-hòa-la đang quay mặt vào vách, ăn đồ ăn thiu thối ấy.
Cha Tôn giả
Lại-tra-hòa-la thấy Tôn giả Lại-tra-hòa-la đang quay mặt vào vách ăn đồ ăn
thiu thối, nói rằng:
“Lại-tra-hòa-la con,
người con rất mềm mại, thân hình đẹp đẽ, thường ăn thức ăn ngon.
Lại-tra-hòa-la, tại sao con lại ăn đồ ăn thiu thối như thế?
Lại-tra-hòa-la, vì lẽ gì con đã về đến thôn Thâu-lô-tra này mà không về
nhà cha mẹ?”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la thưa rằng:
“Thưa Cư sĩ, con đã
vào nhà cha, nhưng không được bố thí mà lại bị rủa xả, mắng rằng: ‘Sa-môn
trọc đầu này bị quỷ đen trói chặt, tuyệt chủng không con cái, phá hoại gia
đình ta. Ta có một đứa con, hết sức thương yêu chiều chuộng, lòng những
quyến luyến không kể xiết, thế mà nó dẫn đi mất. Đừng cho nó ăn!’ Con nghe
như vậy bèn vội vàng bỏ đi.
Cha Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói lời xin lỗi rằng:
“Lại-tra-hòa-la, con
hãy tha lỗi! Lại-tra-hòa-la, con hãy tha lỗi! Cha thật không biết
Lại-tra-hòa-la trở về nhà cha.”
Rồi cha Tôn giả
Lại-tra-hòa-la với lòng cung kính, dìu đỡ Tôn giả Lại-tra-hòa-la đưa vào
trong nhà, trải chỗ ngồi và mời ngồi. Tôn giả Lại-tra-hòa-la bèn ngồi
xuống. Lúc đó, người cha thấy Tôn giả Lại-tra-hòa-la ngồi xong, liền đến
chỗ vợ, nói rằng:
“Này bà, nên biết,
Thiện nam tử Lại-tra-hòa-la đã về lại nhà rồi, mau sửa soạn cơm nước.”
Mẹ Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nghe xong, rất đổi vui mừng, phấn khởi, liền vội vàng sửa
soạn cơm nước. Soạn cơm nước xong, bà liền mang tiền bạc ra để giữa nhà
một đống lớn. Đống tiền lớn đến nỗi một người đứng bên này, một người ngồi
bên kia, không trông thấy nhau. Dồn một đống tiền lớn xong, bà đi đến chỗ
Tôn giả Lại-tra-hòa-la nói:
“Lại-tra-hòa-la, đây
là phần tiền tài của mẹ. Còn tiền tài của cha con thì nhiều vô lượng trăm
ngàn, không thể tính được. Nay giao hết cho con. Lại-tra-hòa-la con, con
nên xả giới, bỏ đạo, sống đời dục lạc mà bố thí, sung sướng tu phước
nghiệp. Vì sao như vậy? Vì cảnh giới của Thế Tôn rất khó, rất khó! Xuất
gia học đạo lại càng rất khó.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la thưa với mẹ rằng:
“Con nay có một điều
muốn nói mẹ có chịu nghe không?”
Mẹ Lại-tra-hòa-la
nói:
“Này con nhà Cư sĩ,
có điều gì con cứ nói, mẹ sẵn sàng nghe.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la thưa với mẹ rằng:
“Nên may bao vải
mới, đựng đầy tiền, dùng xe chở đến sông Hằng, đổ xuống chỗ sâu. Vì sao
vậy? Vì do tiền này làm cho con người lo khổ, sầu thương, khóc lóc, không
được an vui.”
Khi ấy, mẹ Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nghĩ rằng: “Bằng phương tiện này không thể làm cho con ta
Lại-tra-hòa-la xả giới bỏ đạo. Ta nên đến mấy con vợ cũ của nó, nói như
thế này: ‘Các con dâu ơi, các con nên dùng ngọc anh lạc khi trước trang
điểm thân thể, thứ ngọc mà thiện nam tử Lại-tra-hòa-la lúc còn ở nhà ưa
thích nhất. Dùng thứ anh lạc này trang điểm rồi, các con cùng nhau đến bên
Lại-tra-hòa-la, mỗi đứa ôm một chân mà nói rằng: Không biết hiền lang có
thiên nữ nào đẹp hơn tôi mà khiến cho hiền lang bỏ tôi để tu phạm hạnh vì
nàng?’”
Nghĩ xong, bà ta
liền đến chỗ các vợ cũ của Tôn giả Lại-tra-hòa-la nói như thế này:
“Các con dâu ơi, các
con nên dùng ngọc anh lạc khi trước trang điểm thân thể, thứ ngọc mà thiện
nam tử Lại-tra-hòa-la lúc còn ở nhà ưa thích nhất. Dùng thứ anh lạc này
trang điểm rồi, các con cùng nhau đến bên Lại-tra-hòa-la, mỗi đứa ôm một
chân mà nói rằng: ‘Không biết hiền lang có thiên nữ nào đẹp hơn tôi mà
khiến cho hiền lang bỏ tôi để tu phạm hạnh vì nàng?’”
Khi ấy, các cô vợ cũ
của Tôn giả Lại-tra-hòa-la liền dùng ngọc anh lạc khi trước trang điểm
thân thể, thứ anh lạc mà Tôn giả Lại-tra-hòa-la lúc còn tại gia ưa thích
nhất. Dùng loại ngọc đó trang điểm rồi, liền kéo đến bên Tôn giả
Lại-tra-hòa-la, mỗi người ôm một chân mà nói như thế này:
“Không biết hiền
lang có thiên nữ nào đẹp hơn tôi mà khiến cho hiền lang bỏ tôi để tu phạm
hạnh vì nàng?”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói với các cô vợ cũ rằng:
“Này các cô em, các
cô nên biết, tôi không phải vì thiên nữ mà tu phạm hạnh. Sở dĩ tôi tu phạm
hạnh, nay đã được mục đích ấy. Những điều Phật dạy, nay tôi đã làm xong.”
Những bà vợ của Tôn
giả Lại-tra-hòa-la đứng sang một bên khóc lóc rơi lệ mà nói rằng:
“Tôi không phải em
gái của hiền lang, nhưng hiền lang lại gọi tôi bằng cô em.”
Lúc đó Tôn giả
Lại-tra-hòa-la quay nhìn về phía cha mẹ, nói:
“Thưa Cư sĩ, nếu có
thí cơm, đúng giờ thì thí, tại sao làm phiền nhau?”
Bấy giờ, cha mẹ Tôn
giả Lại-tra-hòa-la liền đứng dậy, thân hành lấy nước rửa, dâng ngài các
món hào soạn dồi dào, đủ các loại nhai nuốt, tự thân châm chước cho ngài
ăn no. Ăn xong thâu dọn chén bát, dùng nước rửa xong, lấy một cái giường
nhỏ ngồi riêng nghe pháp.
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la thuyết pháp cho cha mẹ nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thành
tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho họ, khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ rồi, ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, nói
tụng rằng:
Hãy nhìn hình bóng
trang sức này,
Trân bảo ngọc ngà và
các thứ;
Tóc uốn lượn buông
xuôi phía hữu;
Nốt ruồi xanh, mắt
kẻ, mi dài.
Trò dối trá gạt
người si dại,
Nhưng lừa sao được
kẻ sang bờ!
Với bao nhiêu gấm
vóc lụa là,
Mong làm đẹp thân
hình xú uế.
Trò dối trá gạt
người si dại;
Nhưng lừa sao được
kẻ sang bờ!
Và bao nhiêu hương
liệu bôi xoa,
Châm chấm điểm phấn
vàng son đỏ.
Trò dối trá gạt
người si dại;
Nhưng lừa sao được
kẻ sang bờ!
Áo tịnh diệu trang
hoàng thân thể;
Nhưng nguyên hình
huyễn hoặc còn trơ.
Trò dối trá gạt
người si dại;
Nhưng lừa sao được
kẻ sang bờ!
Khi nai đã đạp tan
lưới bẫy,
Và phá tung cổng
nhốt một đời;
Ta bỏ lại miếng mồi,
đi mất;
Ai yêu gì trói buộc
thân nai?
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói tụng rồi, dùng như ý túc nương hư không mà đi. Đến rừng
Thâu-lô-tra, đi vào rừng ấy, trải ni-sư-đàn ngồi kiết già dưới cây
Bệ-hê-lặc.
Bấy giờ, vua
Câu-lao-bà
với quần thần trước sau vây quanh, ngồi ở chánh điện, bàn tán khen ngợi
Tôn giả Lại-tra-hòa-la rằng:
“Nếu ta nghe tin
Thiện nam tử Lại-tra-hòa-la
đến Thâu-lô-tra này thì ta quyết đến thăm.”
Khi ấy vua
Câu-lao-bà bảo thợ săn rằng:
“Ngươi hãy đi dò xét
rừng Thâu-lô-tra. Ta muốn đến đó săn.”
Thợ săn vâng lời,
liền đến dò xét rừng Thâu-lô-tra. Khi người thợ săn dò xét rừng, thấy Tôn
giả Lại-tra-hòa-la trải tọa cụ ngồi kiết già dưới cây Bệ-hê-lặc, liền
nghĩ: “Người mà vua Câu-lao-bà cùng quần thần ngồi tại chánh điện bàn tán
khen ngợi, bây giờ ở đây.”
Khi người thợ săn dò
xét rừng Thâu-lô-tra xong rồi, trở về tâu với vua Câu-lao-bà rằng:
“Tâu Đại vương, nên
biết, tôi đã xem rừng Thâu-lô-tra rồi. Xin theo ý Đại vương. Tâu Đại
vương, Tôn giả Lại-tra-hòa-la, người mà Đại vương cùng quần thần ngồi ở
chánh điện bàn tán khen ngợi rằng: ‘Nếu ta nghe tin Thiện nam tử
Lại-tra-hòa-la đến Thâu-lô-tra này, ta quyết đến thăm’. Nay Tôn giả Thiện
nam tử Lại-tra-hòa-la hiện đang ở trong rừng Thâu-lô-tra, trải tọa cụ ngồi
kiết già dưới cây bệ-hê-lặc, Đại vương muốn gặp có thể đến đó.”
Vua Câu-lao-bà nghe
xong, bảo người đánh xe:
“Ngươi mau mau sửa soạn xa giá. Ta muốn đến gặp Lại-tra-hòa-la.
Người đánh xe vâng
lệnh, sửa soạn xa giá xong trở lại tâu vua:
“Tâu Đại vương, nên
biết, xa giá đã sửa soạn xong. Xin theo ý Đại vương.”
Khi ấy vua
Câu-lao-bà liền ngồi xe ra đi đến rừng Thâu-lô-tra. Từ xa trông thấy Tôn
giả Lại-tra-hòa-la, nhà vua liền xuống xe, đi bộ đến chỗ Tôn giả
Lại-tra-hòa-la. Tôn giả Lại-tra-hòa-la thấy vua Câu-lao-bà đến, nói rằng:
“Đại vương, nay đến
đây, muốn ngồi đâu tự tiện ngồi, được chăng?”
Vua Câu-lao-bà đáp:
“Hôm nay tuy tôi đến
bờ cõi của mình, nhưng ý tôi muốn Thiện nam tử Lại-tra-hòa-la mời tôi
ngồi.
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la liền mời vua Câu-lao-bà rằng:
“Đây có chỗ ngồi
riêng, xin mời Đại vương ngồi.”
Khi ấy, vua
Câu-lao-bà với Tôn giả Lại-tra-hòa-la cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một
bên. Vua nói với Tôn giả Lại-tra-hòa-la:
“Có phải ngài vì gia đình suy sụp mà xuất gia học đạo chăng? Nếu vì không
có tài vật nên sống đời học đạo, thì này Lại-tra-hòa-la, trong nhà của
Câu-lao-bà vương gia này có nhiều tài vật, tôi sẽ xuất tài vật cho
Lại-tra-hòa-la, khuyên Lại-tra-hòa-la xả giới bỏ đạo, sống đời dục lạc mà
bố thí, tùy ý tu phước nghiệp. Vì sao như vậy? Lại-tra-hòa-la, giáo pháp
của Tôn sư rất khó, xuất gia học đạo lại càng khó hơn”.
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nghe xong, nói rằng:
“Đại vương nay bằng
sự bất tịnh mời tôi, không phải bằng sự thanh tịnh mà mời.”
Vua Câu-lao-bà nghe
xong, hỏi:
“Tôi phải làm sao để
thỉnh mời Lại-tra-hòa-la bằng sự thanh tịnh, không phải bằng sự bất tịnh?”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la đáp:
“Đại vương, nên nói
như thế nầy: ‘Lại-tra-hòa-la, nhân dân trong nước tôi an ổn, sung sướng,
không có việc kinh sợ, không có đấu tranh, không có hà khắc, không có khổ
nô dịch; lúa gạo đầy đủ, khất thực dễ được. Lại-tra-hòa-la sống trong nước
tôi, tôi sẽ ủng hộ như pháp’. Đại vương, nói như vậy gọi là bằng sự thanh
tịnh mời tôi, không phải bằng sự bất tịnh mà mời.”
Vua Câu-lao-bà nghe
xong, nói:
“Nay tôi bằng sự
thanh tịnh mà mời Lại-tra-hòa-la; không phải bằng sự bất tịnh. Nhân dân
trong nước tôi an ổn, sung sướng, không có việc kinh sợ, không có đấu
tranh, không có hà khắc, không có khổ nô dịch; lúa gạo đầy đủ, khất thực
dễ được. Lại-tra-hòa-la sống trong nước tôi, tôi sẽ ủng hộ như pháp.”
“Lại nữa, Lại-tra-hòa-la, có bốn trường hợp suy vi, do suy vi nên cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học
đạo. Những gì là bốn? Bệnh suy, lão suy, tài sản suy, thân tộc suy.
“Lại-tra-hòa-la, thế
nào là bệnh suy? Hoặc có người trường kỳ bị bệnh; bệnh tật rất nặng, quá
đau đớn, người ấy nghĩ rằng: ‘Ta trường kỳ bị bệnh; bệnh tật rất nặng, quá
đau đớn. Ta thật có dục vọng nhưng không sống đời dục lạc được. Ta nay nên
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình
học đạo’. Sau đó, người ấy vì bệnh suy nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa,
chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo. Đó gọi là bệnh suy.
“Lại-tra-hòa-la, thế
nào gọi là lão suy? Hoặc có người tuổi già, các căn suy yếu, tuổi thọ gần
hết, người ấy nghĩ rằng: ‘Ta tuổi đã già, các căn suy yếu, tuổi thọ gần
hết, ta thật có dục vọng nhưng không thể sống đời dục lạc, ta nay nên cạo
bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học
đạo’. Sau đó, người ấy vì lão suy nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí
tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo. Đó gọi là lão suy.
“Lại-tra-hòa-la, thế
nào là tài sản suy? Hoặc có người bần cùng cô thế, người ấy nghĩ rằng: ‘Ta
bần cùng cô thế, ta nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình học đạo’. Sau đó, người ấy vì tài sản suy nên
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình
học đạo. Đó gọi là tài suy.
“Lại-tra-hòa-la, thế
nào gọi là thân tộc suy? Hoặc có người bà con tuyệt tự, chết tuyệt, không
còn một ai, người ấy nghĩ rằng: Ta nay bà con tuyệt tự, chết tuyệt, không
còn một ai. Ta nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình học đạo’. Sau đó người ấy vì thân suy nên cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.
Đó gọi là thân suy.
“Lại-tra-hòa-la khi
xưa không bệnh hoạn, an ổn trọn vẹn, đường tiêu hóa điều hòa, không lạnh
không nóng, bình chánh an lạc, thuận hòa không tranh chấp; do đó, các thứ
đồ ăn mềm hay cứng được dễ dàng tiêu hóa, an ổn. Như vậy, Lại-tra-hòa-la
chẳng phải vì bệnh suy mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình học đạo.
“Lại-tra-hòa-la khi
xưa vào tuổi niên thiếu, tóc đen óng mướt, thân thể khỏe mạnh, rồi xướng
ca tấu nhạc, mặc tình thỏa thích. Lại chưng diện thân thể, thường thích
dạo chơi. Lúc ấy bà con không ai muốn để ngài học đạo; cha mẹ khóc lóc, lo
sầu áo não, cũng không cho ngài xuất gia học đạo. Nhưng ngài cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.
Như vậy Lại-tra-hòa-la không vì lão suy mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa,
chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.
“Lại-tra-hòa-la ở
trong thôn Thâu-lô-tra này, về phần tài vật, gia đình ngài là đệ nhất, là
tối đại, là tối thắng, là tối thượng. Như vậy Lại-tra-hòa-la không vì tài
sản suy mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình học đạo.
“Lại-tra-hòa-la ở
trong rừng Thâu-lô-tra này, các bà con giàu có đều còn sống. Như vậy,
Lại-tra-hòa-la không phải vì thân tộc suy mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa,
chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.
“Lại-tra-hòa-la, đối
với bốn trường hợp suy vi ấy, hoặc do một suy vi nào đó nên cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo,
nhưng tôi thấy Lại-tra-hòa-la không có một suy vi nào khả dĩ khiến
Lại-tra-hòa-la cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình học đạo. Lại-tra-hòa-la hiểu biết thế nào và được nghe
những gì mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình học đạo?”
“Tôn giả
Lại-tra-hòa-la đáp:
“Đại vương, Thế Tôn
là đấng đã biết, đã thấy, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đã
giảng thuyết bốn sự. Tôi hoan hỷ chấp nhận điều ấy; tôi thấy, nghe, hiểu
biết điều ấy, nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình học đạo.
“Những gì là bốn?
Đại vương, thế gian này không được bảo vệ, không đáng nương tựa.
Thế gian này nhất thiết phải đi đến sự già nua.
Thế gian này không thường, cần phải bỏ đi.
Thế gian này không có sự thỏa mãn, không có sự biết đủ, là tôi tớ của ái.”
Vua Câu-lao-bà hỏi:
“Lại-tra-hòa-la, như ngài vừa nói, ‘Đại vương, thế gian này không được bảo
vệ, không đáng nương tựa’. Nhưng, Lại-tra-hòa-la, tôi có con, cháu, anh,
em, bè đảng, tượng quân, xa quân, mã quân, bộ quân, thảy đều giỏi bắn,
giỏi chống cự, nghiêm nghị, dõng mãnh như vương tử, lực sĩ,
Bát-la-khiên-đề, Ma ha năng già;
lại có người xem tướng, có kẻ trù mưu, có người tính toán, có kẻ thông
hiểu điển sách, có người giỏi đàm luận, có quân thần, có quyến thuộc,
người trì chú, kẻ biết chú, bất cứ phương nào có sự khủng bố thì có kẻ chế
phục, ngăn cản. Nếu như lời Lại-tra-hòa-la nói, ‘Đại vương, thế gian này
không được bảo vệ, không đáng nương tựa,’ thì này Lại-tra-hòa-la, nói như
thế có nghĩa gì?”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la đáp:
“Đại vương, bây giờ
tôi hỏi nhà vua, xin tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Đại vương, thân này
có bệnh chăng?”
Vua Câu-lao-bà đáp:
“Lại-tra-hòa-la, nay
thân này của tôi thường có phong bệnh.
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la hỏi:
“Đại vương, khi
phong bệnh bộc phát rất trầm trọng, rất đau đớn, thì này Đại vương, lúc ấy
có thể bảo bọn con cháu, anh em, họ hàng thân thích, tượng quân, xa quân,
mã quân, bộ quân, thảy đều giỏi bắn, giỏi chống cự, nghiêm nghị, dõng mãnh
như vương tử, lực sĩ, Bát-la-khiên-đề, Ma-ha-năng-già, kẻ xem tướng, kẻ
trù mưu, người tính toán, kẻ thông hiểu điển sách, người giỏi đàm luận,
quân thần quyến thuộc, kẻ trì chú, người biết chú, rằng ‘Các ngươi hãy
đến, tạm thời thay thế ta chịu sự khổ sở đau đớn để ta khỏi bệnh, an lạc’
được chăng?”
Vua Câu-lao-bà đáp:
“Không được. Vì sao
vậy? Tôi tự gây nghiệp; nhân bởi nghiệp, duyên bởi nghiệp, riêng mình chịu
khổ sở đau đớn.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la bảo:
“Đại vương, thế cho
nên Đức Thế Tôn dạy rằng ‘Thế gian này không được bảo vệ, không đáng nương
tựa. Tôi muốn nhẫn lạc điều đó, tôi thấy, nghe, hiểu biết điều đó nên cạo
bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học
đạo.”
Vua Câu-lao-bà nói
rằng:
“Như Lại-tra-hòa-la
đã nói, ‘Đại vương, thế gian này không được bảo vệ, không đáng nương tựa’.
Này Lại-tra-hòa-la, tôi cũng muốn nhẫn lạc điều đó. Vì sao như vậy? Thế
gian này quả thật không được bảo vệ, không đáng nương tựa.”
Vua Câu-lao-bà lại
hỏi:
“Như Lại-tra-hòa-la
đã nói, ‘Đại vương, thế gian này tất cả đều đi đến chỗ già nua’.
Lại-tra-hòa-la, nói như vậy có nghĩa gì?”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la đáp:
“Đại vương, bây giờ
tôi hỏi nhà vua, xin tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Lúc Đại vương còn
hai mươi bốn tuổi hay hai mươi lăm tuổi thì như thế nào? Khi ấy sự nhanh
nhẹn như thế nào đối với ngày nay? Khi ấy, gân sức, hình thể, nhan sắc như
thế nào đối với ngày nay?”
Vua Câu-lao-bà đáp:
“Khi tôi còn hai
mươi bốn hay hai mươi lăm tuổi, tự nhớ lại thời ấy, sự nhanh nhẹn, gân
sức, hình thể, nhan sắc không ai hơn tôi. Lại-tra-hòa-la, tôi nay đã già
nua, các căn lụn bại, mạng sống sắp chấm dứt, tuổi đầy tám mươi, đâu có
mạnh khỏe như xưa.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói:
“Đại vương, thế cho
nên Đức Thế Tôn dạy rằng: ‘Thế gian này, tất cả đều đi đến chỗ già nua’.
Tôi muốn tiếp nhận điều đó, tôi thấy, nghe, hiểu biết điều đó nên cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín từ bỏ gia đình, sống không gia đình học
đạo.”
Vua Câu-lao-bà nói:
“Như Lại-tra-hòa-la
nói, ‘Đại vương, thế gian này tất cả đều đi đến chỗ già nua’. Tôi cũng
muốn tiếp nhận điều đó. Vì sao như vậy? Thế gian này quả thật tất cả đều
đi đến chỗ già nua.”
Vua Câu-lao-bà lại
hỏi:
“Như Lại-tra-hòa-la
đã nói, ‘Đại vương, thế gian này vô thường, cần phải bỏ đi’.
Lại-tra-hòa-la, nói như vậy lại có nghĩa gì?”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la đáp:
“Đại vương, bây giờ
tôi hỏi nhà vua, xin tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Đại vương, có nước
Câu-lâu-sấu dồi dào, hậu cung dồi dào, kho tàng dồi dào không?”
Vua Câu-lao-bà đáp:
“Đúng vậy!”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la lại hỏi:
“Đại vương, có nước
Câu-lâu-sấu dồi dào, hậu cung dồi dào, kho tàng dồi dào, nếu thời gian đã
đến, không thể nương tựa, chịu đựng sự tan vỡ, tất cả đời này đều đi đến
chỗ diệt vong; lúc đó nước Câu-lâu-sấu dồi dào, hậu cung dồi dào, kho tàng
dồi dào, có thể từ đời này mang qua đời sau không?”
Vua Câu-lao-bà đáp:
“Không được. Vì sao
như vậy? Tôi phải đơn độc, cô thân, cũng không bạn bè, từ đời này mà đi
đến đời sau.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói:
“Thế cho nên Đức Thế
Tôn dạy rằng: ‘Thế gian này vô thường, cần phải bỏ đi’. Tôi muốn nhẫn lạc
điều đó, tôi thấy, nghe, hiểu biết điều đó nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chí tín xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.”
Vua Câu-lao-bà nói:
“Như Lại-tra-hòa-la
đã nói, ‘Đại vương, thế gian này vô thường, cần phải bỏ đi’. Tôi cũng muốn
nhẫn lạc điều đó. Vì sao? Thế gian này quả thật vô thường, cần phải bỏ
đi.”
Vua Câu-lao-bà lại
hỏi:
“Như Lại-tra-hòa-la
đã nói, ‘Đại vương, thế gian này không có sự thỏa mãn, không có sự biết
đủ, là tôi tớ của ái’. Lại-tra-hòa-la, nói điều này, như vậy có nghĩa gì?”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la đáp:
“Đại vương, bây giờ
tôi hỏi nhà vua, xin tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Có nước Câu-lâu-sấu
dồi dào, hậu cung dồi dào, kho tàng dồi dào không?”
Vua Câu-lao-bà đáp:
“Đúng vậy.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la lại hỏi:
“Có nước Câu-lâu-sấu
dồi dào và hậu cung dồi dào, kho tàng dồi dào; nếu có một người từ phương
Đông đến, đáng tín nhiệm, không lừa dối, nói với nhà vua rằng: Tôi từ
phương Đông đến, thấy nước ấy vô cùng giàu có an vui, nhân dân đông đúc.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la lại nói:
“Phương Nam, phương
Tây, phương Bắc cũng như vậy. Từ bờ biển lớn, nếu có một người đến, đáng
tín nhiệm, không lừa dối, nói với nhà vua rằng: Tôi từ bờ biển lớn đến,
thấy nước ấy vô cùng giàu có an lạc, nhân dân đông đúc.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói:
“Đại vương, thế cho
nên Đức Thế Tôn dạy rằng: ‘Thế gian này không có sự thỏa mãn, không có
biết đủ, là tôi tớ của ái’. Tôi muốn nhẫn lạc điều đó; tôi thấy, nghe,
hiểu biết điều đó nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình học đạo.”
Vua Câu-lao-bà nói:
“Như Lại-tra-hòa-la
đã nói, ‘Đại vương, thế gian này không có sự thỏa mãn, không có sự biết
đủ, là tôi tớ của ái’. Tôi cũng muốn nhẫn lạc điều đó. Vì sao? Vì thế gian
này quả không có sự thỏa mãn, không có sự biết đủ, là tôi tớ của ái.”
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói:
“Đức Thế Tôn, là
đang đã biết, đã thấy, là Như Lai, Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, nói cho
tôi nghe bốn việc này. Tôi muốn nhẫn lạc điều đó nên cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo.”
Lúc đó, Tôn giả
Lại-tra-hòa-la nói tụng rằng:
Ta thấy người thế
gian,
Có của, ngu không
thí;
Được của rồi cầu
thêm,
Xan tham chứa chất
của.
Nhà vua được thiên
hạ,
Chỉnh ngự tùy sức
mình.
Trong nước không
biết đủ,
Lại tìm ở nước
ngoài.
Nhà vua và nhân dân
Chưa lìa dục, mạng
vong.
Xỏa tóc, vợ con
khóc;
Ôi thôi, khổ khó
ngăn.
Bó chăn đệm chôn
cất;
Hoặc chất củi hỏa
thiêu.
Duyên đi đến đời
sau;
Thiêu rồi vẫn ngu
dại.
Chết rồi của không
theo;
Vợ con và nô tỳ,
Của nhiều cùng chung
hưởng;
Ngu, trí, cũng vậy
thôi.
Người trí chẳng âu
lo;
Kẻ ngu ôm sầu thảm.
Thế nên trí tuệ hơn;
Bước về nẻo chánh
giác.
Chấp chặt theo có
Hữu,
Kẻ ngu gây hạnh ác.
Với pháp, làm phi
pháp;
Dùng sức cưỡng đoạt
người.
Kém trí bắt chước
theo;
Ngu làm nhiều hạnh
ác.
Nhập thai đến đời
sau,
Luôn luôn chịu sanh
tử.
Đã thọ sanh ra đời,
Chỉ làm các việc ác.
Như giặc bị bắt
trói;
Tự làm ác hại mình.
Chúng sanh này như
thế,
Cho mãi đến đời sau.
Do nghiệp mình đã
tạo
Tự làm ác hại mình.
Như trái chín tự
rụng;
Già trẻ cũng như
vậy.
Muốn trang điểm, yêu
thích;
Tâm hưởng sắc tốt
xấu;
Bị dục trói buộc
hại;
Do dục sanh kinh
hãi.
Vua, tôi thấy giác
này,
Biết Sa-môn vi diệu.
Tôn giả
Lại-tra-hòa-la thuyết như vậy vua Câu-lao-bà sau khi nghe lời Tôn giả
Lại-tra-hòa-la thuyết xong, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 11
117
|
118
|
119
|
120
|
121
|
122
|
123
|
124
125
|
126
|
127
|
128
|
129
|
130
|
131
|
132
<