SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 11
PHẨM ĐẠI (phần
đầu)
131. KINH HÀNG MA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Bạt-kì-sấu, trong núi Ngạc, rừng Bố, vườn Lộc dã.
Lúc bấy giờ Đại
Mục-kiền-liên đang coi việc dựng thiền thất cho Phật.
Trong lúc Tôn giả đang kinh hành trên khoảng đất trống, bấy giờ Ma vương
hóa hình nhỏ xíu, chui vào trong bụng của Tôn giả Đại Mục-kiền-liên. Lúc
đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghĩ như vầy, “Bụng ta cảm thấy nặng, giống
như đang ăn phải hạt đậu. Ta hãy nhập Như kỳ tượng định, bằng Như kỳ tượng
định ta nhìn vào bụng xem.”
Rồi Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đi đến cuối đường kinh hành, trải
ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già, nhập như kỳ tượng định, bằng như kỳ tượng
định mà nhìn vào bụng mình, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thấy Ma vương đang ở
trong đó. Tôn giả bèn ra khỏi định, nói với Ma vương:
“Này Ba-tuần, ngươi
hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng
chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích
mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ.”
Khi ấy, Ma vương
liền nghĩ: “Sa-môn này không thấy, không biết, thế mà lại nói: ‘Này
Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ có xúc nhiễu
Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô
nghĩa, vô ích mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ’. Tôn sư của ông ta
có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, cũng
không thể thấy mau lẹ, biết mau lẹ như vậy, huống nữa là đệ tử mà thấy
biết được sao!”
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên lại nói với Ma vương rằng:
“Ta lại biết trong ý
của ngươi, ngươi nghĩ như vầy, ‘Sa-môn này không thấy, không biết, thế mà
lại nói: ‘Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ
có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi
trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ’. Tôn
sư của ông ta có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại
oai thần, cũng không thể thấy mau lẹ, biết mau lẹ như vậy, huống nữa là đệ
tử mà thấy biết được sao!’”
Ma Ba-tuần kia nghĩ
rằng: “Sa-môn này đã thấy và biết ta nên mới nói như vậy.” Rồi ma Ba-tuần
hóa hình nhỏ xíu, từ trong miệng vọt ra, đứng ngay trước mặt Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên.
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên bảo rằng:
“Này ma Ba-tuần,
thuở xưa, có Như Lai tên là Giác-lịch-câu-tuân-đại,
Đấng Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Lúc đó ta làm ma có tên là Ác.
Ta có người em gái
tên là Hắc.
Ngươi chính là con trai của nó. Này ma Ba-tuần, vì lẽ đó cho nên ngươi là
cháu gọi ta bằng cậu.
“Này ma Ba-tuần, Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác có hai đệ tử,
một tên là Âm,
hai tên là Tưởng.
Này Ba-tuần, do ý nghĩa nào được gọi là Âm? Ba-tuần, Tôn giả đó lúc sống
trên cõi trời Phạm thiên, tiếng nói bình thường của ngài vang cả ngàn thế
giới, lại không có một đệ tử nào có âm thanh ngang bằng, hoặc tương tợ,
hoặc trội hơn được. Này Ba-tuần, vì lẽ ấy cho nên Tôn giả đó được gọi là
Âm vậy. Ba-tuần, lại do ý nghĩa nào mà Tôn giả Tưởng có tên là Tưởng? Này
Ba-tuần, Tôn giả Tưởng nương nơi thôn ấp mà du hành. Khi đêm đã qua, lúc
trời hừng sáng, Tôn giả ấy đắp y, mang bình bát, đi vào thôn ấp khất thực,
cẩn thận thủ hộ thân, thu nhiếp các căn, giữ vững chánh niệm. Ngài sau khi
khất thực xong và sau khi ăn vào lúc giữa trưa, thâu vén y bát, rửa tay
chân, vắt Ni-sư-đàn trên vai, đi vào rừng vắng vẻ, hoặc đến dưới gốc cây
trong rừng sâu, hoặc đến chỗ không tĩnh, trải ni-sư-đàn ngồi kết già, liền
nhập Tưởng tri diệt định một cách mau chóng. Lúc ấy có những người đang
lùa trâu, dê, người đi mót cỏ, hoặc người đi đường, họ vào trong núi, thấy
ngài nhập Tưởng tri diệt định, bèn nghĩ rằng: ‘Nay Sa-môn này ngồi mà chết
trong khu rừng vắng này. Chúng ta hãy nhặt cỏ khô chất đống phủ lên trên,
ràng rịt cẩn thận, lượm củi chất chồng lên trên thân để hỏa thiêu’. Họ bèn
nhặt cỏ chất đống phủ lên thân ngài, nổi lửa đốt rồi bỏ mà đi. Tôn giả
kia, sau khi đêm đã qua, trời vừa hừng sáng, ra khỏi định, đập phủi y
phục, du hành trở về thôn ấp, đắp y, mang bình bát vào thôn ấp khất thực
như thường lệ, khéo giữ gìn thân căn, giữ vững chánh niệm. Những người lùa
trâu, dê, những người mót cỏ khô, hoặc người đi đường vào trong núi đã gặp
Tôn giả trước kia, họ bèn nghĩ: ‘Đây là Sa-môn ngồi mà chết trong khu rừng
vắng vẻ này. Chúng ta đã nhặt cỏ khô chất đống phủ trên thân, nổi lửa đốt
rồi bỏ đó mà đi. Song Hiền giả này vẫn còn biết tưởng.’
Này Ba-tuần, vì lẽ đó cho nên Tôn giả Tưởng được gọi là Tưởng vậy.
“Này Ba-tuần, lúc ấy
ác ma nghĩ rằng: ‘Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt,
bị tuyệt chủng, không con cái, học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn
luôn ngong ngóng dò xét.
Giống như con lừa trọn ngày mang nặng, bị cột lại trong tàu, không được ăn
lúa mạch, nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét;
Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt, tuyệt chủng, không con cái, chúng
nó học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.
“‘Giống như con mèo
ngồi rình bên hang chuột, vì muốn bắt chuột nên nó dò xét, ngong ngóng dò
xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen
trói chặt, tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong
ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.
“ ‘Cũng giống như
con cú mèo
ở giữa đống củi khô, vì muốn bắt chuột nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét,
luôn luôn ngong ngóng dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói
chặt, tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong ngóng
dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.
“ ‘Giống như con
chim hạc
ở bên bờ nước, vì muốn bắt cá nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn
ngong ngóng dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt, bị
tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét,
luôn luôn ngong ngóng dò xét.
“‘Chúng dò xét cái
gì? Dò xét với mục đích gì? Dò xét để mong cái gì? Chúng nó loạn trí, phát
cuồng, bại hoại. Ta chẳng biết chúng nó ở đâu đến, cũng chẳng biết chúng
nó đi về đâu, chẳng biết chúng nó sống ở đâu, chẳng biết chúng nó chết như
thế nào, sanh như thế nào? Ta hãy dạy bảo các Phạm chí, Cư sĩ rằng: ‘Ngươi
hãy đi đến mà chửi, mà đập, mà phá, mà rủa xả Sa-môn tinh tấn kia’. Vì sao
vậy? Khi bị chửi, bị đập, bị phá, bị rủa xả, biết đâu chúng nó chẳng nổi
ác tâm để ta dễ lợi dụng’.
“Bấy giờ ác ma bèn xúi dục các Cư sĩ, Phạm chí. Các Cư sĩ, Phạm chí ấy
chửi, đập phá, rủa xả Sa-môn tinh tấn. Các Cư sĩ, Phạm chí ấy hoặc dùng
cây đánh, hoặc lấy đá ném, hoặc vác gậy đập, có khi gây thương tích Sa-môn
tinh tấn, có khi làm rách toạc áo, có khi làm bể bình bát. Bấy giờ trong
số Cư sĩ Phạm chí ấy do nhân duyên này thân hoại mạng chung phải đến ác
xứ, sanh trong địa ngục. Chúng sanh vào đó rồi, suy nghĩ như vầy, ‘Ta phải
thọ khổ này, lại phải thọ cực khổ hơn nữa. Vì cớ sao? Vì chúng ta đã đối
xử tàn ác với Sa-môn tinh tấn vậy’.
“Này Ba-tuần, đệ tử
của Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác
mang đầu thương tích, mang y rách toạc, mang bình bát bể, đi đến chỗ
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác. Lúc bấy
giờ Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác
đang thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn quyến thuộc vây quanh. Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác trông
thấy từ xa một đệ tử mang đầu bị thương tích, y rách toạc, bình bát bể đi
đến. Ngài thấy vậy, bảo các Tỳ-kheo rằng: ‘Các ngươi có thấy chăng, ác ma
đã xúi dục các Cư sĩ, Phạm chí rằng ‘Các ngươi hãy đến mà chửi, mà đập, mà
rủa xả Sa-môn tinh tấn. Vì cớ sao? Khi bị chửi, bị đập, bị rủa xả, biết
đâu chúng nó chẳng nổi ác tâm để ta dễ dàng lợi dụng’.’ Này các Tỳ-kheo,
hãy với tâm tương ưng với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cũng
vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy thượng hạ bao trùm tất cả, tâm tương ưng
với từ, Bồ tát kết, không oán, không nhuế, không não hại, rộng lớn bao la,
vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Bi
và hỷ cũng vậy. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế,
không tranh, rộng lớn bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế
gian, thành tựu và an trụ. Với tâm ấy khiến ác ma không thể lợi dụng’.
“Này ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng
Chánh Giác bằng giáo pháp như vậy mà dạy đệ tử. Họ bèn thọ lãnh giáo pháp
ấy, tâm tương ưng với từ, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn bao
la, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Với tâm
ấy, ác ma kia không thể lợi dụng được.
“Này ma Ba-tuần, lúc đó ác ma lại nghĩ: ‘Bằng sự việc ấy ta muốn lợi dụng
Sa-môn tinh tấn mà không thể được. Bây giờ ta hãy xúi dục các Cư sĩ, Phạm
chí rằng: ‘Các người hãy đến phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh
tấn’. Biết đâu do sự phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn, chúng
nó chẳng nổi ác tâm để ta dễ dàng lợi dụng’.
“Này Ma Ba-tuần, các
Cư sĩ, Phạm chí kia sau khi bị ác ma xúi dục, họ đến phụng kính, cúng
dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn. Họ lấy áo trải lên mặt đất mà nói rằng
‘Sa-môn tinh tấn, xin đạp lên mà đi. Sa-môn tinh tấn thường làm những việc
khó làm, khiến cho chúng tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn khoái lạc’.
Hoặc có Phạm chí trải tóc lên mặt đất, nói rằng ‘Sa-môn tinh tấn, xin đạp
lên tóc mà đi. Sa-môn tinh tấn thường làm những việc khó làm, khiến cho
chúng tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn khoái lạc’. Hoặc có Cư sĩ, Phạm
chí hai tay bưng đủ các loại ẩm thực, đứng bên dưới đợi và nói rằng
‘Sa-môn tinh tấn, xin nhận vật thực này, xin cứ mang đi tùy ý mà thọ dụng,
để cho tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn khoái lạc’. Các Cư sĩ, Phạm
chí thành tín thấy Sa-môn tinh tấn, cung kính bồng bế vào nhà, đem đủ thứ
tài vật ra cho Sa-môn tinh tấn và nói rằng: ‘Xin thọ nhận cái này, xin thọ
dụng cái này, xin mang cái này đi, tùy ý mà thọ dụng’. Lúc bấy giờ trong
số các Cư sĩ, Phạm chí đó có người chết, do nhân duyên này thân hoại mạng
chung được đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời. Sau khi sanh vào đó, họ bèn
nghĩ ‘Ta đáng thọ hưởng sự an lạc này, lại sẽ thọ hưởng cực lạc hơn nữa.
Vì sao thế? Vì chúng ta đã làm các việc lành với Sa-môn tinh tấn vậy’.
“Này ma Ba-tuần, đệ tử của Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở
Trước Đẳng Chánh Giác, sau khi được phụng kính, cúng dường, lễ sự, họ đi
đến Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác.
Lúc đó Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh
Giác đang thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn đệ tử vây quanh. Khi Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác trông thấy từ
xa các đệ tử được phụng kính, cúng dường, lễ sự đang đi đến, thấy vậy,
ngài bảo các Tỳ-kheo rằng: ‘Các ngươi có thấy chăng? Ác ma xúi dục các Cư
sĩ, Phạm chí rằng ‘Các ngươi hãy đến phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn
tinh tấn’. Biết đâu do phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn,
chúng sẽ nổi ác tâm để ta dễ dàng lợi dụng. Này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy
quán các hành vô thường, quán các pháp hưng suy, quán vô dục, quán xả ly,
quán diệt, quán đoạn để cho bọn ác ma không thể lợi dụng’.
“Này ma Ba-tuần, Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác bằng giáo
pháp như vậy mà dạy các đệ tử, họ bèn thọ lãnh giáo pháp ấy, quán các hành
vô thường, quán pháp hưng suy, quán vô dục, quán xả ly, quán diệt, quán
đoạn, khiến cho ác ma không thể lợi dụng.
“Này ma Ba-tuần, lúc
đó ác ma bèn nghĩ: ‘Bằng việc ấy ta muốn lợi dụng Sa-môn tinh tấn mà không
được. Ta hóa hình làm một đứa nhỏ
tay cầm cây gậy lớn, đứng bên đường, đánh vỡ đầu Tôn giả Âm, khiến máu
chảy ướt cả mặt’.
“Này ma Ba-tuần, Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác sau đó
đang du hành trong thôn ấp. Khi đêm đã qua, lúc trời hừng sáng, mang y bát
vào trong thôn xóm khất thực, Tôn giả Âm đi hầu theo phía sau. Ma Ba-tuần,
lúc ấy ác ma hóa hình làm một đứa bé, tay cầm một cây gậy lớn đứng bên
đường, đánh vỡ đầu Tôn giả Âm, khiến máu chảy ướt cả mặt. Ma Ba-tuần, Tôn
giả Âm sau khi bị vỡ đầu chảy máu, vẫn đi theo sau Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác như bóng
không rời hình. Này ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Bậc Vô
Sở Trước Đẳng Chánh Giác sau khi đến thôn ấp, bằng sức mạnh cực kỳ của bản
thân, Ngài xoay nhìn theo phía hữu, như cái nhìn của một voi chúa, không
sợ không hãi, không kinh không khiếp, quán sát khắp mọi phía. Này ma
Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh
Giác nhìn thấy Tôn giả Âm đầu bị chảy máu ướt cả mặt, đang đi theo sau
Phật như bóng không rời hình, bèn nói rằng: ‘Ác ma thật là hung bạo này có
đại oai lực, ác ma này không biết vừa đủ’.
“Này ma Ba-tuần, Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác nói chưa
xong thì ngay tại chỗ đó ác ma liền bị đọa vào đại địa ngục Vô khuyết.
Ma Ba-tuần, đại địa ngục này có bốn tên gọi,
một là Vô khuyết, hai là Bách đinh, ba là Nghịch thích, bốn là Lục cánh.
Trong đại địa ngục đó có ngục tốt đi đến chỗ ác ma ở mà nói rằng: ‘Ngươi
nay nên biết, nếu đinh hiệp với các đinh, phải biết mãn một trăm năm’.”
Ma Ba-tuần nghe nói
như vậy xong, trong lòng hết sức rúng động, kinh sợ, khủng khiếp vô cùng,
tóc lông dựng ngược, bèn hướng đến tôn giả Đại Mục-kiền-liên mà nói bài
kệ:
Địa ngục kia thế
nào,
Xưa ác ma ở đó?
Nhiễu hại bậc Phạm
hạnh
Xúc phạm cả Tỳ-kheo.
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên đáp lại ma Ba-tuần bài kệ rằng:
Địa ngục tên Vô
khuyết,
Ác ma từng ở trong.
Nhiễu hại bậc Phạm
hạnh,
Xúc phạm Tỳ-kheo
Tăng.
Đinh sắt cả trăm
cái,
Thảy đều đâm ngược
lên.
Địa ngục tên Vô
khuyết,
Ác ma từng ở trong.
Nếu như ai không
biết,
Đệ tử Phật, Tỳ-kheo,
Tất nhiên khổ như
vậy,
Mà thọ báo nghiệp
đen.
Trong nhiều loại
viên quán,
Loài người trên đất
này,
Ăn loại lúa tự mọc,
Đời Bắc châu, tự
nhiên.
Đại Tu di triền núi
Xông ướp bởi nhân
lành.
Tu tập nơi giải
thoát,
Thọ trì tối hậu
thân,
Đứng sững trên suối
lớn,
Cung điện kiếp lâu
bền.
Sắc vàng thật ái
lạc,
Như lửa rực huy
hoàng.
Nhạc trời trỗi các
thứ;
Đến Đế Thích thiên
cung.
Kiếp xưa với nhà
cửa,
Thiện Giác đã cúng
dường.
Nếu Đế Thích đi
trước,
Lên điện Tỳ-xà-diên,
Hân hoan chào đón
Thích,
Thiên nữ vũ chúc
mừng.
Nếu thấy Tỳ-kheo đến,
Nhìn lui, vẻ thẹn
thùng.
Nếu Tỳ-lan-diên
hiện,
Luận nghĩa cùng
Sa-môn,
Ái tận, đắc giải
thoát;
Đại tiên có biết
chăng?
Tỳ-kheo liền đáp
lại,
Người hỏi đúng như
nghĩa.
Câu-dực, ta biết
đây,
Ái tận, đắc giải
thoát.
Nghe lời giải đáp
này,
Đế Thích hoan hỷ
lạc.
Tỳ-kheo ban lợi ích,
Nói năng đúng nghĩa
chân.
Trên Tỳ-xà-diên
điện,
Hỡi Đế Thích thiên
vương,
Cung điện tên gì
vậy,
Mà người nhiếp trì
thành?
Thích đáp: Đại Tiên
Nhân!
Tên Tỳ-xà-diên-đá.
Gọi là thế giới
ngàn,
Ở trong ngàn thế
giới;
Không cung điện nào
hơn
Như Tỳ-la-diên-đá.
Thiên vương Thiên Đế
Thích,
Tự tại mà du hành.
Ái-lạc na-du-đá,
Hóa một thành trăm
hàng.
Trong Tỳ-lan-diên
điện,
Đế Thích tự tại
chơi.
Tỳ-lan-diên đại
điện,
Ngón chân đủ lung
lay.
Thiên vương mắt xem
thấy,
Đế Thích tự tại
chơi.
Giảng đường Lộc tử
mẫu,
Nền sâu, đắp kiên
cố,
Khó động, khó lung
lay,
Lay bởi định như ý.
Kia có đất lưu ly,
Thánh nhân bước lên
đi
Trơn nhuần, cảm thọ
lạc,
Trải gấm êm diệu kỳ.
Ái ngữ thường hòa
hiệp,
Thiên vương thường
hân hoan.
Nhạc trời hay khéo
trỗi,
Âm tiết họa nhịp
nhàng.
Thiên chúng đều hội
tụ,
Nhưng thuyết
Tu-đà-hoàn.
Biết mấy vô lượng
ngàn,
Và hằng trăm na
thuật.
Đến Tam thập tam
thiên,
Bậc Tuệ Nhãn thuyết
pháp.
Nghe Ngài thuyết
pháp xong,
Hoan hỷ và phụng
hành.
Ta cũng có pháp ấy,
Như lời của tiên
nhân;
Tức lên cõi Đại
phạm,
Hỏi Phạm thiên sự
tình.
Phạm vẫn có thấy ấy;
Tức thấy có từ xưa,
Ta vĩnh tồn, thường
tại,
Hằng hữu, không biến
đổi.
Đại Phạm trả lời
kia,
Đại tiên tôi không
thấy,
Tức thấy có từ xưa,
Ta thường hằng không
đổi.
Tôi thấy cảnh giới
này,
Các Phạm thiên quá
khứ;
Ta nay do đâu nói,
Thường hằng không
biến đổi.
Ta thấy thế gian
này,
Bậc Chánh Giác đã
dạy.
Tùy nhân duyên sanh
ra,
Luân chuyển rồi trở
lại.
Lửa không nghĩ thế
này:
“Ta đốt kẻ ngu dại”
Lửa đốt, ngu sờ tay,
Tất nhiên phải bị
cháy.
Cũng vậy, ma
Ba-tuần,
Đến Như Lai pháp
khuất,
Mãi làm điều bất
thiện,
Tất thọ báo miên
viễn.
Ngươi đừng trách
Phật-đà,
Chớ hại Tỳ-kheo
tịnh.
Một Tỳ-kheo hàng ma,
Tại Bố Lâm rừng già.
Con quỷ sầu áo não,
Bị Kiền-liên quở la.
Hãi hùng mất trí
tuệ,
Biến mất bèn đi xa.
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên thuyết như vậy. Ma Ba-tuần sau khi nghe Tôn giả thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 11
117
|
118
|
119
|
120
|
121
|
122
|
123
|
124
125
|
126
|
127
|
128
|
129
|
130
|
131
|
132
133
|
134
|
135
|
136
|
137
|
138
|
139
|
140
|
141
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003