SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
9
PHẨM NHÂN
97. KINH ĐẠI NHÂN
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ, Tôn giả
A-nan, một mình tĩnh tọa tại một nơi vắng vẻ, tâm nghĩ như vầy, ‘Kỳ diệu
thay, pháp duyên khởi này! Thật là vô cùng sâu sắc và ánh sáng cũng thật
là vô cùng sâu sắc,
nhưng ta quán sát thấy rất nông cạn, rất nông cạn!’
Rồi vào lúc xế, Tôn
giả A-nan rời chỗ tĩnh tọa, qua đến chỗ Phật, đảnh lễ chân Ngài, rồi đứng
sang một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm
nay con một mình tĩnh tọa tại một nơi thanh vắng, tâm nghĩ như vầy, ‘Kỳ
diệu thay, duyên khởi này! Thật là vô cùïng sâu sắc, nhưng ta quán sát
thấy rất nông cạn, rất nông cạn!”
Đức Thế Tôn bảo:
“A-nan, ngươi chớ
nghĩ rằng ‘Duyên khởi này rất nông cạn, rất nông cạn!’ Vì sao? Vì duyên
khởi này thật là vô cùng sâu sắc và ánh sáng cũng thật là vô cùng sâu sắc.
“Này A-nan, đối với
duyên khởi này, vì không biết như thật, thấy như thật, không giác ngộ,
không thấu triệt, nên khiến chúng sanh ấy dính móc nhau như khung cửi rối
ren, như đám uẩn-mạn
mọc chằêng chịt, tấp nập huyên náo, đi từ đời này đến đời kia, từ đời kia
đến đời này, qua rồi lại, lại rồi qua, không thể ra khỏi vòng sanh tử.
A-nan, cho nên phải biết duyên khởi này thật vô cùng sâu sắc và ánh sáng
cũng rất là sâu sắc.
“A-nan, nếu có người
hỏi: ‘Già và chết có duyên không?’ Nên đáp như vầy, ‘Già, chết có duyên’.
Nếu có người hỏi: ‘Già, chết có duyên gì?’ Nên đáp như vầy: ‘Duyên nơi
sanh vậy’.
“A-nan, nếu có người
hỏi: ‘Sanh có duyên không?’ Thì nên đáp rằng: ‘Sanh cũng có duyên’. Nếu có
người hỏi rằng: ‘Sanh có duyên gì?’ Thì nên đáp rằng: “Duyên nơi hữu vậy”.
“A-nan, nếu có người
hỏi: ‘Hữu có duyên không?’, thì nên đáp rằng ‘Hữu cũng có duyên’. Nếu có
người hỏi: ‘Hữu có duyên gì?’, thì nên đáp rằng: ‘Duyên nơi thủ
vậy’.
“A-nan, nếu có người
hỏi: ‘Thủ có duyên không?’ Thì nên đáp rằng ‘Thủ cũng có duyên’. Nếu có
người hỏi: ‘Thủ có duyên gì?’ Thì nên đáp rằng: ‘Duyên nơi ái vậy’.
“A-nan, đó là duyên
ái có thủ; duyên thủ có hữu; duyên hữu có sanh; duyên sanh có già và chết,
duyên già chết có buồn lo, khóc lóc, buồn khổ, áo não; đều duyên nơi già
chết mà có. Như thế là trọn đủ toàn khối khổ đau to lớn.
“A-nan, duyên sanh
có già chết. Đây nói duyên sanh có già chết; nên biết, điều được nói là
duyên sanh có già chết. A-nan, nếu không sự sanh, như cá và loài cá, chim
và loài chim, muỗi và loài muỗi, rồng và loài rồng, thần và loài thần, quỷ
và loài quỷ, trời và loài trời, người và loài người; A-nan, các loài chúng
sanh ấy, chúng sanh ấy, tùy theo những chỗ ấy, chỗ ấy; nếu không sự sanh,
mỗi loài và mỗi loài đều không sanh, thì giả sử tách rời sự sanh, có già
chết không?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng, nhân của già chết, tập của già chết, bản của già chết, duyên của già
chết,
gọi đó là sanh. Vì sao? Vì duyên nơi sanh nên có già chết.
“A-nan, duyên hữu có
sanh. Đây nói là duyên hữu có sanh; nên biết, điều được nói là duyên hữu
có sanh.
“A-nan, nếu không có
hữu, như cá và loài cá, chim và loài chim, muỗi và loài muỗi, rồng và loài
rồng, thần và loài thần, quỷ và loài quỷ, trời và loài trời, người và loài
người. A-nan, các loài chúng sanh ấy, chúng sanh ấy tùy theo những chỗ ấy,
chỗ ấy; nếu không có sự hữu, mỗi loài và mỗi loài đều không có hữu, thì
giả sử tách rời sự hữu, có sanh chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết rằng nhân của sanh, tập khởi của sanh, bản của sanh,
duyên của sanh, gọi đó là hữu. Vì sao? Vì duyên hữu nên có sanh.
“A-nan, duyên thủ có
hữu. Đây nói là duyên thủ có hữu; nên biết, điều được nói là duyên thủ có
hữu. A-nan, nếu không có thủ, mỗi loài và mỗi loài đều không có thủ, thì
giả sử tách rời thủ, sẽ có hữu chăng? Thi thiết có hữu chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết rằng nhân của hữu, tập khởi của hữu, bản của hữu,
duyên của hữu, gọi đó là thủ. Vì sao? Vì duyên thủ nên có hữu.
“A-nan, duyên ái có
thủ. Đây nói là duyên ái có thủ; nên biết, điều được nói là duyên ái có
thủ. A-nan, nếu không có ái, mỗi loài và mỗi loài đều không có ái, thì giả
sử tách rời ái, sẽ có thủ chăng? Thiết lập có thủ chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của thủ, tập khởi của thủ, bản của thủ, duyên của thủ, gọi đó là
ái. Vì sao? Vì duyên ái nên có thủ.
“A-nan, đó là duyên
ái có cầu,
duyên cầu có lợi, duyên lợi có phân, duyên phân có nhiễm dục, duyên nhiễm
dục có trước, duyên trước có keo kiệt, duyên keo kiệt có bủn xỉn, duyên
bủn xỉn có bảo thủ.
“A-nan, vì duyên bảo
thủ nên có dao gậy, đấu tranh, dua siểm, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi,
khởi lên vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy là trọn đủ toàn khối khổ đau
to lớn.
“A-nan, nếu không có
bảo thủ, tất cả đều không có bảo thủ, thì giả sử tách rời bảo thủ sẽ có
dao gậy, đấu tranh, dua siểm, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi, khởi lên vô
lượng pháp ác bất thiện chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng dao gậy, đấu tranh, dua siểm, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi, khởi
lên vô lượng pháp ác bất thiện thì nhân của chúng, tập khởi của chúng, bản
của chúng và duyên của chúng chính là bảo thủ vậy. Vì sao? Vì duyên bảo
thủ nên có dao gậy, đấu tranh, dua nịnh, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi,
khởi lên vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy là trọn đủ toàn khối khổ đau
to lớn.
“A-nan, duyên bủn
xỉn có bảo thủ. Đây nói là duyên bủn xỉn có bảo thủ; nên biết, điều được
nói là duyên bủn xỉn có bảo thủ. A-nan, nếu không có bủn xỉn, tất cả đều
không có bủn xỉn thì giả sử tách rời bủn xỉn, có bảo thủ chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của bảo thủ, tập khởi của bảo thủ, bản của bảo thủ, duyên của
bảo thủ, gọi đó là keo kiệt vậy. Vì sao? Vì duyên keo kiệt nên có bảo thủ.
“A-nan, duyên bỏn
sẻn có keo kiệt. Đây nói là duyên bỏn sẻn có keo kiệt; nên biết, điều được
nói là duyên bỏn sẻn có keo kiệt. A-nan, nếu không có bỏn sẻn, tất cả đều
không có bỏn sẻn thì giả sử tách rời bỏn sẻn, có keo kiệt chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của keo kiệt, tập khởi của keo kiệt, bản nguyên của keo kiệt,
duyên của keo kiệt, gọi đó là bỏn sẻn. Vì sao? Vì duyên bỏn sẻn nên có keo
kiệt.
“A-nan, duyên đắm
trước có bỏn sẻn. Đây nói là duyên đắm trước có bỏn sẻn; nên biết, điều
được nói là duyên đắm trước có bỏn sẻn. A-nan, nếu không có đắm trước, tất
cả đều không có đắm trước, thì giả sử tách rời đắm trước, có bỏn sẻn
chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của bỏn sẻn, tập khởi của bỏn sẻn, bản nguyên của bỏn sẻn, duyên
của bỏn sẻn, gọi đó là đắm trước. Vì sao? Vì duyên đắm trước nên có bỏn
sẻn.
“A-nan, duyên dục có
đắm trước. Đây nói là duyên dục có đắm trước; nên biết, điều được nói là
duyên dục có đắùm trước. A-nan, nếu không có dục, tất cả đều không có dục
thì giả sử tách rời dục, có đắm trước chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của đắm trước, tập khởi của đắm trước, bản của đắm trước, duyên
của đắm trước, gọi đó là dục. Vì sao? Vì duyên dục nên có đắm trước.
“A-nan, duyên phân
biệt có nhiễm dục. Đây nói là duyên phân biệt có nhiễm dục; nên biết, điều
được nói là duyên phân biệt có nhiễm dục. A-nan, nếu không có phân biệt,
tất cả đều không có phân biệt thì giả sử tách rời phân biệt, có nhiễm dục
chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của nhiễm dục, tập khởi của nhiễm dục, bản nguyên của nhiễm dục,
gọi đó là phân. Vì sao? Vì duyên
phần nên có nhiễm dục vậy.
“A-nan, duyên lợi có
phân biệt. Đây nói là duyên lợi có phân biệt; nên biết, điều được nói là
duyên lợi có phân biệt. A-nan, nếu không có lợi, tất cả đều không có lợi
thì giả sử tách rời lợi, có phân biệt chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của phân biệt, tập khởi của phân biệt, bản của phân biệt, duyên
của phân biệt gọi đó là lợi. Vì sao? Vì duyên lợi nên có phân biệt.
“A-nan, duyên cầu có
lợi. Đây nói là duyên cầu có lợi; nên biết, điều được nói là duyên cầu có
lợi. A-nan, nếu không có cầu, tất cả đều không có cầu, thì giả sử tách rời
cầu, có lợi chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, nhân của
lợi, tập khởi của lợi, bản của lợi, duyên của lợi, gọi đó là cầu. Vì sao?
Vì duyên cầu cho nên có lợi.
“A-nan, duyên ái có
cầu. Đây nói là duyên ái có cầu; nên biết, điều được nói là duyên ái có
cầu.
“A-nan, nếu không có
ái, tất cả đều không có ái, thì giả sử tách rời ái, có cầu chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của cầu, tập khởi của cầu, bản của cầu, duyên của cầu, gọi đó là
ái. Vì sao? Vì duyên ái nên có cầu.
“A-nan, dục ái và hữu ái, hai pháp này nhân thọ,
duyên thọ đưa đến.
“A-nan, nếu có người
hỏi ‘Thọ có duyên không?’ thì nên đáp rằng ‘Thọ cũng có duyên’. Nếu có
người hỏi ‘Thọ có duyên gì?’ thì nên đáp rằng ‘Thọ duyên với xúc’
nên biết rằng: duyên xúc có thọ.
“A-nan, nếu không có
nhãn xúc, tất cả đều không có nhãn xúc thì giả sử tách rời nhãn xúc sẽ có
duyên nhãn xúc mà sanh ra lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, nếu không có
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, tất cả đều không có ý xúc, thì giả sử tách
rời ý xúc sẽ có duyên ý xúc mà sanh ra lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc
thọ chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của thọ, tập khởi của thọ, bản của thọ, duyên của thọ, gọi đó là
xúc. Vì sao? Vì duyên xúc nên có thọ vậy.
“A-nan, nếu có người
hỏi ‘Xúc có duyên không?’ thì nên đáp rằng ‘Xúc có duyên’. Nếu có người
hỏi ‘Xúc có duyên gì?’ thì nên đáp rằng ‘Duyên danh sắc’. Nên biết rằng
duyên danh sắc có xúc.
“A-nan, sở hành, sở
duyên
có danh thân.
Rời hành này, ly duyên này thì có hữu đối xúc
chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, sở hành, sở
duyên có sắc thân. Rời hành này, ly duyên này thì có tăng ngữ xúc chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“Giả sử rời danh
thân và sắc thân thì sẽ có xúc, thi thiết xúc chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của xúc, tập khởi của xúc, bản của xúc, duyên của xúc, gọi đó là
danh sắc. Vì sao? Vì duyên danh sắc nên có xúc.
“A-nan, nếu có người
hỏi ‘Danh sắc có duyên chăng?’ thì nên đáp rằng ‘Danh sắc có duyên’. Nếu
có người hỏi ‘Danh sắc có duyên gì?’ thì nên đáp rằng ‘Duyên thức’. Nên
biết rằng duyên thức có danh sắc.
“A-nan, nếu thức
không vào thai mẹ mà chỉ có danh sắc, thì có thành thân này chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, nếu thức mới
vào thai, liền ra tức khắc thì danh sắc hợp với tinh chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, nếu thức của
trẻ nhỏ, con trai hay con gái, bị đoạn hoại không còn, thì danh sắc tăng
trưởng dần được chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của danh sắc, tập khởi của danh sắc, bản của danh sắc, duyên của
danh sắc, gọi đó là thức. Vì sao? Vì duyên thức nên có danh sắc.
“A-nan, nếu có người
hỏi ‘Thức có duyên chăng?’ thì nên đáp rằng ‘Thức có duyên’. Nếu có người
hỏi ‘Thức có duyên gì?’ thì nên đáp rằng ‘Duyên danh sắc’. Nên biết rằng
duyên danh sắc có thức.
“A-nan, nếu thức
không có danh sắc, nếu thức không an lập, không dựa vào danh sắc thì thức
có sanh, có già, có bệnh, có chết chăng? Có khổ chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên biết
rằng nhân của thức, tập khởi của thức, bản của thức, duyên của thức, gọi
đó là danh sắc. Vì sao? Vì duyên danh sắc nên có thức.
“A-nan, đó là duyên
danh sắc có thức; duyên thức cũng có danh sắc; do đó có tăng ngữ, do tăng
ngữ có truyền thuyết, do truyền thuyết mà có thể thi thiết là có, nghĩa là
thức và danh sắc cùng đi đôi vậy.
“A-nan, thế nào là
có một loại kiến chấp có thần ngã?”
Tôn giả A-nan bạch
Đức Thế Tôn:
“Thế Tôn là Pháp
bản, Thế Tôn là Pháp chủ, Pháp do Thế Tôn, cúi xin Thế Tôn nói điều đó.
Con nay nghe xong, được biết ý nghĩa một cách rộng rãi”.
Phật nói:
“A-nan, hãy lắng
nghe kỹ. Hãy khéo tư niệm kỹ. Ta sẽ phân biệt cho thầy nghe ý nghĩa một
cách rộng rãi”.
Tôn giả A-nan vâng
lời dạy, lắng nghe.
Phật nói:
“A-nan, Hoặc có kiến
chấp thọ là ngã.
Hoặc lại có kiến chấp không cho rằng thọ là ngã, nhưng thần ngã có cảm
thọ, mà tính cách của ngã là khả năng cảm thọ. Hoặc lại có kiến chấp không
cho rằng thọ là ngã và cũng không cho rằng ngã có cảm thọ, vì tính cách
của ngã là khả năng cảm thọ, mà chỉ cho rằng ngã không cảm thọ gì cả.
“A-nan, Nếu có người
cho rằng ‘thọ là thần ngã’, thì nên hỏi người ấy rằng ‘Ông có ba cảm thọ,
lạc thọ, khổ thọ và không khổ không lạc thọ; trong ba cảm thọ này, ông cho
thọ nào là ngã?’ A-nan, nên nói tiếp với người ấy ‘Nếu lúc có cảm thọ về
lạc thọ, thì ngay lúc ấy hai cảm thọ kia, khổ thọ và không khổ không lạc
thọ, diệt mất. Lúc ấy chỉ có cảm thọ về lạc thọ, nhưng lạc thọ là pháp vô
thường, khổ, hoại diệt’. Nếu khi lạc thọ diệt rồi thì người ấy há không
nghĩ rằng ‘Chẳng phải là ngã diệt chăng?’ A-nan, nếu chỉ có cảm thọ về khổ
thọ, thì lúc ấy hai cảm thọ kia, lạc thọ và không khổ không lạc thọ, diệt
mất. Người ấy lúc đó chỉ có cảm thọï về khổ thọ, nhưng khổ thọ là pháp vô
thường, khổ, hoại diệt. Nếu khổ thọ đã diệt thì người ấy há không nghĩ
rằng ‘Chẳng phải là ngã diệt chăng?’ A-nan, nếu chỉ có cảm thọ về bất khổ
bất lạc thọ thì lúc ấy cả hai cảm thọ kia, lạc thọ và khổ thọ, diệt mất.
Người ấy lúc đó chỉ có cảm giác về không khổ không lạc thọ, nhưng không
khổ không lạc thọ là pháp vô thường, khổ, hoại diệt. Nếu không khổ không
lạc thọ đã diệt thì người ấy há không nghĩ rằng ‘Chẳng phải là ngã diệt
chăng?’ A-nan, thọ là pháp vô thường như vậy, chỉ xen lẫn khổ, lạc thì lại
còn chấp rằng thọ là ngã chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, thọ vô
thường như vậy, chỉ xen lẫn khổ, lạc thì không nên chấp rằng thọ là ngã.
“A-nan, nếu lại có
một loại kiến chấp không cho rằng thọ là ngã, nhưng ngã có cảm thọ vì tính
cách của ngã là khả năng cảm thọ, thì nên nói với người ấy ‘Nếu ông không
có thọ, thì thọ không thể có, không thể nói rằng cái này là sở hữu của
tôi’. A-nan, người kia còn chấp như vầy ‘Thọ không phải là ngã, nhưng ngã
có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ’ nữa chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên
người kia không nên chấp như vầy ‘Thọ không phải là ngã, nhưng ngã có cảm
thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ’.
“A-nan, nếu lại có
một loại kiến chấp không cho rằng thọ là ngã, cũng không cho rằng ngã có
cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ, mà chỉ chấp rằng ngã
không cảm thọ gì cả, thì nên nói với người ấy ‘Nếu ông không có cảm thọ,
hoàn toàn không có cảm thọ, nhưng nếu ngã ở ngoài cảm thọ thì không thể
nói ngã thanh tịnh’. A-nan, người kia còn chấp ‘Thọ không phải là ngã,
cũng không chấp ngã có cảm thọ, tính cách của ngã là khả năng cảm thọ, mà
chỉ chấp ngã hoàn toàn không có cảm thọ’ nữa chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, cho nên
người kia không nên chấp như vầy ‘Thọ không phải là ngã, cũng không chấp
ngã có cảm thọ, tính cách của ngã là khả năng cảm thọ, mà chỉ chấp ngã
hoàn toàn không có cảm thọ’. Đó gọi là một loại kiến chấp có ngã.
“A-nan, Thế nào là
có loại kiến chấp không cho rằng có ngã?”
Tôn giả A-nan bạch
Đức Thế Tôn:
“Thế Tôn là Pháp bản, Thế Tôn là Pháp chủ, Pháp do Thế Tôn. Cúi xin Thế
Tôn nói điều đó. Con nay nghe rồi được biết ý nghĩa rộng rãi”.
Phật bảo:
“A-nan, Hãy lắng
nghe kỹ. Hãy khéo tư niệm kỹ. Ta sẽ phân biệt cho thầy nghe ý nghĩa một
cách rộng rãi”.
Tôn giả A-nan vâng
lời dạy, lắng nghe.
Phật nói:
“A-nan, nếu có người
không cho rằng ‘Thọ là ngã, cũng không cho rằng ngã có cảm thọ, vì tính
cách của ngã là khả năng cảm thọ và cũng không cho rằng ngã hoàn toàn
không có cảm thọ’. Người ấy do không chấp như vậy nên không còn thọ sanh ở
thế gian này. Người ấy do không còn thọ sanh nên không còn phiền lụy. Do
không phiền lụy mà Bát-niết-bàn, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã
hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“A-nan, đó gọi là tăng ngữ, do tăng ngữ có truyền thuyết, do truyền
thuyết mà thi thiết là có. Biết như vậy thì không còn gì để chấp thủ.
“A-nan, nếu Tỳ-kheo
chánh giải thoát như vậy thì không có kiến chấp rằng Như Lai còn hay Như
Lai không còn sau khi chết;
chấp Như Lai vừa còn, vừa không còn; Như Lai không phải còn hay không còn.
Đó gọi là có một loại không thấy có ngã.
“A-nan, Thế nào là có một quan niệm có thần ngã được chủ trương?
Tôn giả A-nan bạch
Phật rằng:
“Thế Tôn là Pháp
bản, Thế Tôn là Pháp chủ, pháp do Thế Tôn. Cúi xin Thế Tôn nói điều đó.
Con nay nghe rồi biết ý nghĩa rộng rãi”.
Phật bảo:
“A-nan, hãy lắng
nghe kỹ. Hãy khéo tư niệm kỹ. Ta sẽ phân biệt cho thầy nghe ý nghĩa một
cách rộng rãi”.
Tôn giả A-nan vâng
lời, lắng nghe.
Phật nói:
“Hoặc trong một giới
hạn sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ trương; hoặc trong một giới hạn
không phải sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ trương, nhưng trong một
giới hạn sắc vô lượng mà quan niệm ngã được chủ trương; hoặc trong một
giới hạn không phải sắc nhỏ hẹp, cũng không phải sắc vô lượng mà quan niệm
ngã được chủ trương, nhưng với giới hạn vô sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã
được chủ trương; hoặc không phải trong giới hạn sắc nhỏ hẹp mà quan niệm
ngã được chủ trương, cũng không phải sắc vô lượng mà quan niệm ngã được
chủ trương, cũng không phải vô sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ
trương, nhưng trong giới hạn vô sắc vô lượng mà quan niệm ngã được chủ
trương.
“A-nan, nếu có
trường hợp căn cứ vào giới hạn sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ
trương thì người ấy trong hiện tại với sắc nhỏ hẹp này mà quan niệm ngã
được chủ trương, và đối với khi thân hoại mạng chung cũng nói nó như vậy,
cũng thấy nó như vậy. Nếu khi ngã tách ngoài sắc nhỏ hẹp này, người ấy
cũng suy niệm như vậy, tư duy nó như vậy, như vậy. A-nan, như thế là có
trường hợp căn cứ vào sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ trương. Như
vậy, có trường hợp căn cứ vào sắc nhỏ hẹp mà kiến chấp về ngã bị chấp
trước.
“A-nan, nếu có
trường hợp không căn cứ vào sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ trương,
nhưng căn cứ vào vô lượng sắc mà quan niệm ngã được chủ trương, thì người
ấy trong hiện tại với vô lượng sắc này mà quan niệm ngã được chủ trương,
và đối với khi thân hoại mạng chung cũng nói nó như vậy, cũng thấy nó như
vậy. Nếu khi ngã tách khỏi vô lượng sắc, người ấy cũng suy niệm như vậy,
tư duy nó như vậy, như vậy. A-nan, như thế, có trường hợp căn cứ vào vô
lượng sắc mà quan niệm ngã được chủ trương. Như vậy, với vô lượng sắc mà
kiến chấp về ngã bị chấp trước.
“A-nan, nếu có
trường hợp không căn cứ vào sắc nhỏ hẹp, cũng không căn cứ vào sắc vô
lượng, nhưng căn cứ vào vô sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ trương,
thì người ấy, trong hiện tại, căn cứ vào vô sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã
được chủ trương, khi thân hoại mạng chung cũng nói nó như vậy, cũng thấy
nó như vậy. Nếu khi ngã rời khỏi vô sắc nhỏ hẹp, người ấy suy niệm như
vậy, tư duy nó như vậy, như vậy. A-nan, như thế có trường hợp căn cứ vào
vô sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ trương. Như vậy với vô sắc nhỏ
hẹp mà kiến chấp ngã bị chấp trước.
“A-nan, nếu có trường hợp không căn cứ vào sắc nhỏ hẹp, cũng không căn cứ
sắc vô lượng, cũng không căn cứ vô sắc nhỏ hẹp, nhưng căn cứ vào vô sắc vô
lượng mà quan niệm ngã được chủ trương, thì người ấy trong hiện tại, với
vô lượng vô sắc mà quan niệm ngã được chủ trương, khi thân hoại mạng chung
cũng nói nó như vậy, cũng thấy nó như vậy. Nếu khi ngã rời khỏi vô lượng
vô sắc, người ấy suy niệm như vậy, tư duy nó như vậy, như vậy. A-nan, như
thế có trường hợp căn cứ vào vô lượng vô sắc mà quan niệm ngã được chủ
trương. Như vậy, với vô lượng vô sắc mà kiến chấp ngã bị chấp trước.
“A-nan, như vậy là
có một loại quan niệm ngã được chủ trương.
“A-nan, thế nào là có một loại quan niệm vô ngã được chủ trương?
Tôn giả A-nan bạch
Đức Thế Tôn:
“Thế Tôn là Pháp
bản, Thế Tôn là Pháp chủ, Pháp do Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn nói điều đó.
Con nay nghe rồi được biết ý nghĩa rộng rãi”.
Phật bảo:
“A-nan, hãy lắng
nghe kỹ. Hãy khéo tư niệm kỹ. Ta sẽ phân biệt cho thầy nghe ý nghĩa một
cách rộng rãi”.
Tôn giả A-nan vâng
lời dạy, lắng nghe.
Phật nói:
“A-nan, hoặc có
trường hợp không căn cứ vào sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ trương,
cũng không căn cứ vào sắc vô lượng, cũng không căn cứ vào vô sắc nhỏ hẹp
và cũng không căn cứ vào vô sắc vô lượng mà quan niệm ngã được chủ trương.
“A-nan, nếu có trường hợp không căn cứ vào sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã
được chủ trương, thì người ấy trong hiện tại không căn cứ vào sắc nhỏ hẹp
mà quan niệm ngã được chủ trương, khi thân hoại mạng chung cũng không nói
nó như vậy, cũng không thấy nó như vậy. Nếu khi ngã rời khỏi sắc nhỏ hẹp,
người ấy không suy niệm như vậy, cũng không tư duy nó như vậy, như vậy.
A-nan, như thế, có trường hợp không căn cứ vào sắc nhỏ hẹp mà quan niệm
ngã được chủ trương. Như vậy, với không sắc nhỏ hẹp mà không kiến chấp ngã
bị chấp trước.
“A-nan, nếu có
trường hợp không căn cứ vào sắc vô lượng mà quan niệm ngã được chủ trương,
thì người ấy, trong hiện tại không căn cứ vào sắc vô lượng mà quan niệm
ngã được chủ trương, khi thân hoại mạng chung cũng không nói nó như vậy,
cũng không thấy nó như vậy. Nếu khi ngã rời sắc vô lượng, người ấy không
suy niệm như vậy, cũng không tư duy nó như vậy, như vậy. A-nan, như thế có
trường hợp không căn cứ vào sắc vô lượng mà quan niệm ngã được chủ trương.
Như vậy, với không sắc vô lượng mà không kiến chấp ngã bị chấp trước.
“A-nan, nếu có
trường hợp không căn cứ vào vô sắc nhỏ hẹp mà quan niệm ngã được chủ
trương, thì người ấy, trong hiện tại không căn cứ vào vô sắc nhỏ hẹp mà
quan niệm ngã được chủ trương, khi thân hoại mạng chung cũng không nói nó
như vậy, cũng không thấy nó như vậy. Nếu khi ngã rời khỏi vô sắc nhỏ hẹp,
người ấy không suy niệm như vậy, cũng không tư duy nó như vậy, như vậy.
A-nan, như thế có trường hợp không căn cứ vào vô sắc nhỏ hẹp mà quan niệm
ngã được chủ trương. Như vậy, với không vô sắc nhỏ hẹp mà không kiến chấp
ngã bị chấp trước.
“A-nan, nếu có
trường hợp không căn cứ vào vô sắc vô lượng mà quan niệm ngã được chủ
trương, thì người ấy, trong hiện tại, không căn cứ vào vô sắc vô lượng mà
quan niệm ngã được chủ trương. Khi thân hoại mạng chung cũng không nói nó
như vậy, cũng không thấy nó như vậy. Nếu khi ngã rời khỏi vô sắc vô lượng,
người ấy không suy niệm như vậy, cũng không tư duy nó như vậy, như vậy.
A-nan, như thế có trường hợp không căn cứ vào vô sắc vô lượng mà quan niệm
ngã được chủ trương. Như vậy, với vô sắc vô lượng mà không kiến chấp ngã
bị chấp trước.
“A-nan, đó gọi là có
một loại quan niệm vô ngã được chủ trương.
“Lại nữa, này A-nan,
có bảy trú xứ của thức
và hai xứ.
Thế nào là bảy trú xứ của thức? Chúng sanh hữu sắc
với các chủng loại thân khác nhau, các chủng loại tướng khác nhau, ấy là
loài người và loài trời cõi Dục. Đó là trú xứ thứ nhất của thức.
“Lại nữa, này A-nan,
chúng sanh hữu sắc với các chủng loại thân khác nhau, nhưng chỉ có một
loại tưởng, ấy là Phạm thiên sơ sanh không yểu thọ.
Gọi đó là trụ xứ thứ hai của thức.
“Lại nữa, này A-nan,
chúng sanh hữu sắc với một loại thân nhưng nhiều chủng loại tưởng, ấy là
Hoảng dục thiên.
Gọi đó là trụ xứ thứ ba của thức.
“Lại nữa, này A-nan,
chúng sanh hữu sắc với một thân, với một loại tưởng, ấy là Biến tịnh
thiên. Gọi đó là trụ xứ thứ tư của thức.
“Lại nữa, này A-nan,
chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng,
không tư duy các loại tưởng, vào vô lượng không xứ, thành tựu an trụ vô
lượng không xứ, ấy là Vô lượng không xứ thiên. Gọi đó là trụ xứ thứ năm
của thức.
“Lại nữa, này A-nan,
chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả vô lượng không xứ, vào vô lượng thức
xứ, thành tựu an trụ vô lượng thức xứ, ấy là Vô lượng thức xứ thiên. Gọi
đó là trụ xứ thứ sáu của thức.
“Lại nữa, này A-nan,
chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả vô lượng thức tưởng, vào Vô sở hữu xứ,
thành tựu an trụ Vô sở hữu xứ, ấy là Vô sở hữu xứ thiên. Gọi đó là trụ xứ
thứ bảy của thức.
“Thế nào là có hai
xứ? Chúng sanh hữu sắc không có tưởng, không có thọ, ấy là Vô tưởng thiên.
Gọi đó là xứ thứ nhất.
“Lại nữa, này A-nan,
chúng sanh vô sắc vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, vào Phi hữu tưởng phi vô
tưởng xứ, thành tựu an trụ Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, ấy là Phi hữu
tưởng phi vô tưởng thiên. Gọi đó là xứ thứ hai.
“A-nan, đối với trụ
xứ thứ nhất của thức, chúng sanh hữu sắc với các chủng loại thân, với các
chủng loại tưởng, là loài người và loài trời cõi Dục; nếu có Tỳ-kheo biết
như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự tập khởi của trụ xứ của thức, biết sự
diệt tận, vị ngọt, tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có
thể vui thích nơi trụ xứ của thức ấy, kế trước và trụ nơi trụ xứ ấy của
thức chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ
xứ thứ hai của thức, chúng sanh hữu sắc với các chủng loại thân nhưng một
chủng loại tưởng, là Phạm thiên sơ sanh không yểu thọ; nếu có Tỳ-kheo biết
như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự tập khởi của trụ xứ ấy của thức, biết
sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan,
Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi
trụ xứ kia của thức chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ xứ thứ ba của thức, chúng sanh hữu sắc với một loại
thân nhưng nhiều chủng loại tưởng, ấy là Hoảng dục thiên. Nếu có Tỳ-kheo
biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai
hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ
kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ
xứ thứ tư của thức, chúng sanh hữu sắc với một loại thân, với một loại
tưởng, ấy là Biến tịnh thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của
thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì
này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và
trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ
xứ thứ năm của thức, chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt
trừ hữu đối tưởng, không tư duy các loại tưởng, vào vô lượng không xứ,
thành tựu an trụ vô lượng không xứ, ấy là Vô lượng không xứ thiên. Nếu có
Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt,
biết tai hoạn, biết xuất yếu, này A-nan, vị Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi
trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ
xứ thứ sáu của thức, chúng sanh vô sắc vượt tất cả vô lượng không xứ, vào
vô lượng thức xứ, thành tựu an trụ vô lượng thức xứ, ấy là Vô lượng thức
xứ thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt
tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy
có thể an lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của
thức chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ
xứ thứ bảy của thức, chúng sanh vô sắc vượt qua tất cả vô lượng thức
tưởng, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ Vô sở hữu xứ, ấy là Vô sở hữu xứ
thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ của thức, biết sự diệt tận,
biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, vị Tỳ-kheo ấy
có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia
của thức chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ
xứ thứ nhất, chúng sanh hữu sắc không có tưởng, không có thọ, ấy là Vô
tưởng thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt
tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy
có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia
của thức chăng?”
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, đối với trụ xứ thứ hai của thức, chúng sanh vô sắc, vượt qua tất
cả Vô sở hữu xứ, vào Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ Phi
hữu tưởng phi vô tưởng xứ, ấy là Phi hữu tưởng phi vô tưởng thiên. Nếu có
Tỳ-kheo biết như thật xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết
tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi xứ
kia của thức, kế trước và trụ nơi xứ kia của thức chăng?
“Bạch Thế Tôn,
không”.
“A-nan, nếu có
Tỳ-kheo biết như thật bảy trụ xứ của thức và hai xứ kia, tâm không nhiễm
trước, được giải thoát thì gọi là Tỳ-kheo A-la-hán danh tuệ giải thoát.
“Lại nữa, này A-nan,
có tám giải thoát.
“Những gì là tám?”
“Sắc quán sắc, đó là
giải thoát thứ nhất.
“Lại nữa, bên trong
không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, đó là giải thoát thứ hai.
“Lại nữa, với tịnh
giải thoát, tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ, đó là giải thoát thứ ba.
“Lại nữa, vượt qua
tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư duy các loại tưởng, vào
vô lượng không xứ, thành tựu an trụ vô lượng không xứ, đó là giải thoát
thứ tư.
“Lại nữa, vượt qua
tất cả vô lượng không xứ, vào vô lượng thức xứ, thành tựu an trụ vô lượng
thức xứ, đó là giải thoát thứ năm.
“Lại nữa, vượt qua
tất cả vô lượng thức xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ Vô sở hữu xứ,
đó là giải thoát thứ sáu.
“Lại nữa, vượt qua
tất cả Vô sở hữu xứ, vào Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ
Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.
“Lại nữa, vượt qua
tất cả Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, tưởng thọ diệt giải thoát, tự thân
chứng ngộ, thành tựu an trụ, đó là giải thoát thứ tám.
“A-nan, nếu có
Tỳ-kheo biết như thật về bảy trụ xứ của thức và hai xứ kia, tâm không
nhiễm trước, được giải thoát, thành tựu an trụ và với tám giải thoát này,
thuận và nghịch mà tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ và cũng do tuệ quán
mà diệt tận các lậu, thì đó là Tỳ-kheo A-la-hán, được gọi Câu giải thoát.”
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 9
97 |
98 |
99 |
100 |
101 |
102 |
103 |
104 |
105 |
106
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003