SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
9
PHẨM NHÂN
105. KINH NGUYỆN[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ có một
Tỳ-kheo sống cô độc tại một nơi xa vắng, ẩn dật ở chỗ yêân tĩnh, thiền tọa
tư duy, trong tâm khởi lên ý nghĩ: “Đức Thế Tôn thăm hỏi ta, nói chuyện
với ta, thuyết pháp cho ta nghe để được giới cụ túc
mà không phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh,
ở nơi không tịnh.”
Bấy giờ vào lúc xế,
sau khi suy nghĩ như vậy rồi, vị Tỳ-kheo ấy liền từ chỗ thiền tọa đứng
dậy, đi đến Đức Phật. Đức Thế Tôn nhìn thấy vị Tỳ-kheo ấy từ xa đi đến,
nhân nơi Tỳ-kheo ấy, Ngài bảo các vị Tỳ-kheo:
“Các ngươi hãy ước
nguyện rằng: ‘Đức Thế Tôn thăm hỏi ta, nói chuyện với ta, thuyết pháp cho
ta nghe’. Vậy hãy thành tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành
tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Ta có thân tộc. Mong sao kia nhờ ta mà khi thân hoại
mạng chung chắc chắn họ được lên chỗ lành, sanh vào cõi trời’. Vậy hãy
thành tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán
hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Các thí chủ cung cấp cho ta y phục, đồ ăn uống, giường
chõng, thuốc thang, đủ mọi thứ để nuôi thân. Mong cho kia nhờ sự bố thí
này mà có nhiều công đức, có đại quang minh, được nhiều phước báo’. Vậy
hãy thành tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán
hạnh, ở nơi không tịnh. “Này Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta có thể
nhẫn chịu được sự đói, khát, nóng, lạnh, muỗi mòng châm chích, sự áp bức
của gió, của mặt trời; bị tiếng xấu, bị đánh đập cũng có thể nhẫn chịu;
bản thân bị tật bệnh rất là đau khổ, cho đến mạng sống sắp tuyệt, các sự
không được vui, ta cũng đều có thể kham nhẫn’. Vậy hãy thành tựu được giới
cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Mong ta kham nhẫn được điều không hoan lạc. Nếu sanh tâm
không hoan lạc, không bao giờ để đắm trước’. Vậy hãy thành tựu được giới
cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Nếu ta sanh khởi ba niệm ác bất thiện, niệm dục, niệm
nhuế, niệm hại; mong ta không bao giờ để đắm trước với ba niệm ác bất
thiện đó’. Vậy hãy thành tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định,
thành tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Mong ta ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc
đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ’. Vậy hãy thành tựu giới cụ túc và không
phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Mong ta dứt hẳn ba kiết, chứng đắc quả Tu-đà-hoàn, không
bị rơi xuống pháp ác, quyết định thú hướng đến quả vị Chánh giác, tối đa
còn bảy lần ở cõi trời. Sau bảy lần qua lại rồi liền chứng đắc khổ biên’.
Vậy hãy thành tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán
hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta đã dứt hết ba kết, làm mỏng
dâm, nộ, si; chỉ còn một lần qua lại ở cõi trời, cõi người. Sau một lần
qua lại rồi liền chứng đắc khổ biên’. Vậy hãy thành tựu giới cụ túc và
không phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Mong ta dứt hết năm phần kiết, sanh vào thế gian kia mà
chứng đắc Niết-bàn, được pháp bất thối, không trở lại thế gian này’. Vậy
hãy thành tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh
ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Mong ta được tịch tịnh giải thoát, ly sắc, chứng đắc vô
sắc với định như vậy, tự thân chứng ngộ, thành tựu và an trụ, do tuệ quán
mà đoạn trừ lậu và biến tri lậu’. Vậy hãy thành tựu giới cụ túc và không
phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh ở nơi không tịnh.
“Này Tỳ-kheo, hãy
ước nguyện rằng: ‘Mong ta được như ý túc, thiên nhãn trí, tha tâm trí, túc
mạng trí, sanh tử trí, các lậu đã dứt sạch, chứng đắc vô lậu, tâm giải
thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này tự tri tự giác, tự thân chứng
ngộ, thành tựu và an trụ, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.’ Vậy
hãy thành tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh
ở nơi không tịnh”.
Lúc bấy giờ, Tỳ-kheo
ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, khéo thọ lãnh, khéo ghi nhớ, từ chỗ
ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu quanh ba vòng rồi
lui ra. Tỳ-kheo ấy lãnh thọ lời Phật dạy, ẩn dật nơi yên tĩnh, thiền tọa
tư duy, tu hành tinh cần, tâm không phóng dật. Do ẩn dật những nơi yên
tĩnh, thiền tọa tư duy, tu hành tinh cần, tâm không phóng dật để đạt đến
mục đích mà thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ
gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, là đây chỉ mong thành tựu
phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời này mà tự tri tự giác, tự thân chứng
ngộ, thành tựu và an trụ, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Tôn
giả ấy đã biết pháp rồi, liền chứng quả A-la-hán.
Phật thuyết như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 9
97 |
98 |
99 |
100 |
101 |
102 |
103 |
104 |
105 |
106
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003