SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
9
PHẨM NHÂN
104. KINH ƯU-ĐÀM-BÀ-LA[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du
hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ có một Cư sĩ
tên là Thật Ý,
vào buổi sáng sớm, ông rời thành Vương xá, muốn đến chỗ Đức Phật để cúng
dường lễ sự. Lúc bấy giờ Cư sĩ Thật Ý nghĩ rằng: “Hãy gác qua chuyện đi
đến chỗ Phật. Thế Tôn và các Tỳ-kheo có thể vẫn còn đang thiền định. Ta
hãy vào rừng Ưu-đàm-bà-la, đến Dị học viên”.
Bấy giờ Cư sĩ Thật Ý
liền đi vào rừng Ưu-đàm-bà-la, đến Dị học viên. Tại đây có một Dị học tên
là Vô Nhuế,
được tôn làm tông chủ của dị học, được mọi người kính trọng, quy phục,
được năm trăm Dị học tôn sùng. Giữa một đám đông ồn ào, ông đang cao giọng
luận bàn đủ mọi vấn đề chào xáo,
như bàn chuyện vua chúa, bàn chuyện trộm cướp, bàn chuyện đấu tranh, bàn
chuyện ăn uống, bàn chuyện y phục, bàn chuyện phụ nữ, bàn chuyện đồng nữ,
bàn chuyện dâm nữ, bàn chuyện thế tục, bàn chuyện phi đạo, bàn chuyện sông
biển, bàn chuyện quốc gia, tất cả những vấn đề cũng lại chào xáo như thế
đều tập họp tại chỗ ngồi của ông.
Lúc bấy giờ, Dị học
Vô Nhuế thấy Cư sĩ Thật Ý từ xa tiến đến, liền ra lệnh bảo hội chúng của
mình hãy im lặng:
“Này chư Hiền, các
ông chớ nói nữa, hãy vui vẻ im lặng! Mỗi người hãy tự mình thu liễm! Vì
sao vậy? Vì có Cư sĩ Thật Ý sắp đến đây. Ông ấy là đệ tử của Sa-môn
Cù-đàm. Trong số Cư sĩ tại gia ở trong thành Vương xá này, nếu có đệ tử
của Sa-môn Cù-đàm mà danh đức vang dội, được mọi người kính trọng thì ông
ấy là người thứ nhất. Ông ấy không ưa sự huyên náo, thích im lặng, tự mình
thu liễm. Nếu ông ấy biết hội chúng đây im lặng có thể sẽ hay đến”.
Bấy giờ Dị học Vô
Nhuế bảo hội chúng im lặng, rồi tự mình cũng im lặng. Lúc bấy giờ Cư sĩ
Thật Ý đi đến chỗ Dị học Vô Nhuế, cùng nhau chào hỏi, rồi ngồi xuống một
bên.
Cư sĩ Thật Ý nói:
“Này Vô Nhuế, Đức
Phật Thế Tôn của tôi, hoặc ở tại rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay sống
trên sườn núi cao, những nơi vắng vẻ không có tiếng động, xa vắng, không
có sự dữ, không có người đời và tùy thuận mà thiền tọa. Đó là so sánh chỗ
Đức Thế Tôn với ở đây; Ngài sống ở tại rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây,
hay sống trên sườn núi cao, những nơi vắng lặng không có tiếng động, xa
vắng, không có sự dữ, không có người đời, tùy thuận mà thiền tọa. Ngài ở
nơi xa vắng, thường thích thiền tọa, an ổn, khoái lạc. Đức Phật Thế Tôn
chưa hề một ngày một đêm tụ tập, hội họp cùng mọi người như ông và quyến
thuộc của ông hôm nay”.
Bấy giờ Dị học Vô
Nhuế liền nói:
“Thôi, thôi! Cư cĩ, ông do đâu mà biết được? Cái tuệ giải thoát trống rỗng
của Sa-môn Cù-đàm, cái đó không đủ để nói, hoặc tương ưng hay không tương
ưng, hoặc tùy thuận hay không tùy
thuận. Sa-môn Cù-đàm đi từ biên này đến biên kia,
ưa thích từ biên này đến biên kia, sốngï từ biên này đến biên kia. Như con
trâu đui ăn cỏ nơi biên địa, nó đi từ biên này đến biên kia, ưa thích từ
biên này đến biên kia, sốngï từ biên này đến biên kia. Sa-môn Cù-đàm cũng
giống như vậy.
“Này Cư sĩ, nếu
Sa-môn Cù-đàm đến nơi hội chúng này, chỉ bằng một vấn đề, tôi cũng đủ hủy
diệt ông ấy như lăn cái bình không, và cũng sẽ nói cái ví dụ con trâu đui
cho ông ấy nghe”.
Rồi Dị học Vô Nhuế
bảo với đồ chúng của mình:
“Này chư Hiền, giả
sử Sa-môn Cù-đàm đến nơi hội chúng này, nếu như có đến thật, thì các ông
chớ có đứng dậy chắp tay nghinh đón, cũng chớ có mời ngồi. Hãy để riêng
một chỗ cho ông ấy ngồi thôi. Khi ông ấy đến đây rồi thì hãy nói như vầy,
‘Này Cù-đàm! Có chỗ ngồi đây, muốn ngồi tùy ý’.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
đang thiền tọa, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, nghe xa hơn người, nghe rõ cuộc
thảo luận như vậy giữa Cư sĩ Thật Ý và Dị học Vô Nhuế, vào lúc xế, Ngài
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào rừng Ưu-đàm-bà-la, đến Dị học viên. Thấy
Đức Thế Tôn đang từ xa đi đến, Dị học Vô Nhuế liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
trịch áo bày vai phải, chắp tay hướng Phật mà tán thán rằng:
“Kính chào Cù-đàm,
đã lâu ngày không đến đây. Xin mời ngồi chỗ này”.
Khi ấy Đức Thế Tôn thầm nghĩ: “Người ngu si này tự phản lại điều mình đặt
ra”. Biết như vậy, Đức Thế Tôn liền ngồi trên giường đó. Dị học Vô Nhuế
sau khi chào hỏi Đức Thế Tôn, liền ngồi xuống một bên.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Vô Nhuế! Ông và
Cư sĩ Thật Ý vừa bàn luận việc gì thế? Vì lý do gì mà nhóm họp nơi đây?”
Dị học Vô Nhuế trả
lời:
“Thưa Cù-đàm, chúng
tôi nghĩ như vầy, ‘Sa-môn Cù-đàm có những pháp gì dạy bảo cho đệ tử, các
đệ tử sau khi vâng lãnh sự dạy bảo rồi liền được an ổn, trọn đời tịnh tu
phạm hạnh và đem dạy cho người khác nữa?’ Thưa Cù-đàm, tôi và Cư sĩ Thật Ý
vừa bàn luận việc như vậy. Vì lý do đó mà chúng tôi nhóm họp nơi đây”.
Cư sĩ Thật Ý nghe ông ta nói vậy liền nghĩ: ‘Lạ thay, Dị học Vô Nhuế lại
nói láo. Vì sao vậy? Vì ở trước Đức Thế Tôn mà dám lừa dối Ngài’.
Đức Thế Tôn biết
vậy, Ngài liền nói:
“Này Vô Nhuế, Pháp
của Ta rất sâu sắc, rất kỳ diệu, rất hy hữu, khó hiểu, khó biết, khó thấy,
khó chứng đắc, mà Ta dạy bảo cho đệ tử và đệ tử sau khi vâng lãnh sự dạy
bảo rồi liền được an ổn, trọn đời tịnh tu phạm hạnh và đem dạy lại cho
người khác nữa. Này Vô Nhuế, hãy hỏi Ta về hạnh bất liễu tắng ố
mà Sư tông của ông chấp nhận, Ta cũng sẽ giải đáp cho ông thỏa mãn”.
Lúc đó các chúng Dị
học ồn ào đó cùng nhau lớn tiếng nói rằng:
“Sa-môn Cù-đàm thật
là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Có như ý túc, có uy đức lớn, có phước hựu lớn,
có oai thần lớn. Vì sao vậy? Ngài bỏ qua tông chỉ của mình mà lại đề nghị
thảo luận về tông chỉ của người”.
Lúc bấy giờ Dị học
Vô Nhuế ra lệnh bảo hôïi chúng của mình im lặng rồi hỏi:
“Thưa Cù-đàm! Hạnh
bất liễu khả tắng, thế nào là được hoàn toàn? Thế nào là không được hoàn
toàn?
Bấy giờ Đức Thế Tôn
trả lời:
“Này Vô Nhuế! Hoặc có Sa-môn, Phạm chí lõa hình, không y phục, hoặc dùng
tay làm y phục, hoặc lấy lá làm y phục, hoặc lấy hạt châu làm y phục; hoặc
không múc nước bằng bình, hoặc không múc nước bằng gáo; không ăn đồ ăn xốc
xỉa bằng dao gậy, không ăn đồ ăn lừa dối, không tự mình đến, không sai
người đi, không làm khách được mời,
không làm khách được chào đón,
không làm khách được lưu,
không ăn từ giữa hai người đang ăn, không ăn tại nhà có thai,
không ăn từ nhà có nuôi chó, không ăn từ nhà có lằng xanh bay đến; không
ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống nước dấm,
hoặc không uống gì cả, học tập hạnh không uống; hoặc ăn một miếng, cho một
miếng là đủ,
hoặc ăn hai, ba, bốn, cho đến bảy miếng, và cho bảy miếng là đủ, hoặc ăn
bởi một lần nhận được,
và cho đến một lần nhận được là đủ, hoặc ăn bởi hai, ba bốn cho đến bảy
lần nhận được và cho bảy lần nhận được là đủ, hoặc ăn ngày một lần và cho
một lần là đủ, hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy ngày, nửa tháng, hay một
tháng, ăn một lần và cho một lần là đủ; hoặc ăn cỏ,
hoặc ăn lúa cỏ,
hoặc ăn nếp tuế, hoặc ăn cám, hoặc ăn gạo đầu-đầu-la,
hoặc ăn đồ ăn thô; hoặc đến chỗ vô sự,
y nơi vô sự; hoặc ăn rễ, hoặc ăn trái, hoặc ăn quả tự rụng; hoặc mặc áo
khâu đủ thứ vải,
hoặc mặc áo lông, hoặc mặc áo vải đầu-xá,
hoặc mặc áo vải đầu-xá bằng lông, hoặc mặc bằng da nguyên, hoặc mặc da có
xoi lỗ, hoặc mặc da toàn xoi lỗ; hoặc để tóc xõa, hoặc để tóc bện, hoặc để
tóc vừa xõa vừa bện, hoặc chỉ cạo tóc, hoặc chỉ cạo râu, hoặc cạo cả râu
tóc, hoặc nhổ tóc, hoặc nhổ râu, hoặc nhổ cả râu tóc, hoặc chỉ đứng thẳng
không hề ngồi, hoặc đi chồm hổm, hoặc nằm gai, lấy gai làm giường; hoặc
nằm cỏ,
lấy cỏ làm giường; hoặc thờ nước, ngày đêm lấy tay vọc; hoặc thờ lửa, ngày
đêm đốt lên; hoặc thờ mặt trời, mặt trăng, thờ đấng Tôn hựu Đại đức, chắp
tay hướng về kia. Những sự như vậy thọ khổ vô lượng, học hạnh nóng bức.
“Này Vô Nhuế, ý ông
nghĩ sao, hạnh bất liễu khả tắng như vậy là hoàn toàn hay không hoàn
toàn?”
Dị học Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm, như
vậy hạnh bất liễu khả tắng là hoàn toàn, không phải là không hoàn toàn”.
Đức Thế Tôn lại nói:
“Này Vô Nhuế, Ta sẽ
chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liễu khả tắng hoàn toàn đó bị vô lượng cấu
uế làm ô nhiễm”.
Dị học Vô Nhuế hỏi:
“Thưa Cù-đàm, câu nói, ‘Ta sẽ chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liễu khả tắng
hoàn toàn đó bị vô lượng cấu uế làm ô nhiễm’, nghĩa là thế nào?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ.
Nhân bởi hành khổ hạnh một cách tân khổ mà có ác dục, niệm tưởng dục. Này
Vô Nhuế, nếu ai chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, rồi nhân hành khổ
hạnh ấy mà có ác dục, niệm tưởng dục. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là
cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh một cách tân khổ
này mà chỉ ngước nhìn ánh mặt trời, hấp thụ khí trời. Này Vô Nhuế, nếu ai
hành khổ hạnh, rồi do chuyên hành khổ hạnh ấy nên chỉ ngước nhìn ánh mặt
trời, hấp thụ khí trời. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hành khổ hạnh mà tự
cống cao cho rằng ta đã tu khổ hạnh, nên tâm liền bị trói buộc. Này Vô
Nhuế, nếu có người chuyên hành khổ hạnh rồi do chuyên hành khổ hạnh mà tự
cống cao cho rằng đã tự tu khổ hạnh, nên tâm liền bị trói buộc. Vô Nhuế,
hành khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc có người hành khổ hạnh một cách tân khổ. Do nhân hành
khổ hạnh mà quý mình khinh người. Này Vô Nhuế, nếu có ai chuyên hành khổ
hạnh, rồi do chuyên hành khổ hạnh mà quý mình khinh người. Vô Nhuế, hành
khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh nên đến nhà
người mà tự khen rằng: ‘Tôi hành tân khổ; hành của tôi rất khó’. Này Vô
Nhuế, nếu có ai chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, rồi do duyên hành
khổ hạnh nên đến nhà người mà tự khen rằng: ‘Tôi hành tân khổ; hành của
tôi rất khó’. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hành khổ hạnh một cách
tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường,
lễ sự liền sanh lòng tật đố, nói rằng ‘Sao lại kính trọng, cúng dường, lễ
sự Sa-môn, Phạm chí ấy? Hãy nên kính trọng, cúng dường, lễ sự tôi đây. Vì
sao vậy? Vì tôi hành khổ hạnh.’
Này Vô Nhuế, hoặc có
người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hành khổ hạnh một cách tân
khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lễ sự
liền sanh lòng tật đố, nói rằng ‘Sao lại kính trọng, lễ sự, cúng dường
Sa-môn, Phạm chí ấy? Hãy nên kính trọng, cúng dường, lễ sự tôi đây. Vì sao
vậy? Vì tôi hành khổ hạnh’. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh một cách tân khổ
nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lễ sự
liền đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng: ‘Sao ông lại được
kính trọng, lễ sự, cúng dường? Ông là người nhiều ham muốn, nhiều mong
cầu, thường ăn năm thứ hạt, hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh từ thân cây, hạt
sanh từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt. Ví như một trận
mưa lớn làm tổn hại năm thứ hạt giống, nhiễu loạn súc sanh và nhân dân,
Sa-môn, Phạm chí kia mà hay đến nhà người, cũng giống như vậy’. Này Vô
Nhuế, hoặc có ai hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh một cách
tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường,
lễ sự liền đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng ‘Sao ông lại
được kính trọng, lễ sự, cúng dường? Ông là người nhiều ham muốn, nhiều
mong cầu, thường ăn năm thứ hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh từ thân cây, hạt
sanh từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt. Ví như một trận
mưa lớn làm tổn hại năm thứ hạt giống, nhiễu loạn súc sanh và nhân dân,
Sa-môn, Phạm chí mà hay đến nhà người, cũng giống như vậy’. Vô Nhuế, hành
khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh một cách tân khổ
nên có sầu, có si, khủng bố, khủng cụ, sống lén lút, nghi ngờ, sợ mất
tiếng, tham lam, phóng dật. Này Vô Nhuế, nếu có người hành khổ hạnh một
cách tân khổ, do hành khổ hạnh một cách tân khổ nên có sầu, có si, khủng
bố, khủng cụ, sống lén lút, nghi ngờ, sợ mất tiếng, tham lam, phóng dật.
Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
ai chuyên tu khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên tu khổ hạnh nên sanh
thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh,
không biết tiết hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt lại
không thông suốt. Này Vô Nhuế, nếu có người tu khổ hạnh, rồi do tu khổ
hạnh nên sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh, không
biết tiết hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt lại không
thông suốt. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như thế là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có ai hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh nên có sân triền,
phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua siểm, dối trá, vô tàm, vô quý. Này Vô Nhuế,
nếu ai hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh nên có sân triền,
phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua siểm, dối trá, vô tàm, vô quý. Vô Nhuế,
hành khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc có ai hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh
nên sanh ra nói dối, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói thêu dệt, đủ cả ác
giới. Này Vô Nhuế, nếu có ai hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ
hạnh nên sanh ra nói dối, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói thêu dệt, đủ cả ác
giới. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có ai hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh nên không có tín
tâm, giải đãi, không chánh niệm, chánh trí, có đủ ác tuệ. Này Vô Nhuế, nếu
có ai hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh nên không có tín
tâm, giải đãi, không chánh niệm, chánh trí, có đủ ác tuệ. Vô Nhuế, hành
khổ hạnh như vậy là cấu uế.
“Này Vô Nhuế, Ta đã chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liễu khả tắng hoàn toàn
đó bị vô lượng cấu uế làm ô nhiễm, có phải vậy chăng?”
Dị học Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm, đúng
vậy, Ngài đã chỉ cho tôi thấy cái hạnh bất liễu khả tắng hoàn toàn đó bị
vô lượng cấu uế làm ô nhiễm”.
“Này Vô Nhuế, Ta
cũng chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liễu khả tắng hoàn toàn đó không bị vô
lượng cấu uế làm ô nhiễm”.
Dị học Vô Nhuế lại
hỏi:
“Thưa Cù-đàm, Ngài
có thể chỉ cho tôi thấy cái hạnh bất liễu khả tắng hoàn toàn đó không bị
vô lượng cấu uế làm ô nhiễm như thế nào không?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà không
có ác dục, không niệm tưởng dục. Này Vô Nhuế, nếu có người hành khổ hạnh
một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà không có ác dục, không niệm
tưởng dục. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ
hạnh tân khổ mà không nhìn ánh mặt trời, không hấp thụ khí trời. Này Vô
Nhuế, nếu có người chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hành
khổ hạnh tân khổ nên không nhìn ánh mặt trời, không hấp thụ khí trời. Vô
Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh một cách tân khổ
mà không tự cống cao cho rằng đã tu khổ hạnh nên tâm không bị trói buộc.
Này Vô Nhuế, nếu có người chuyên hành khổ hạnh, rồi do chuyên hành khổ
hạnh mà không tự cống cao cho rằng đã tu khổ hạnh nên tâm không bị trói
buộc. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh một cách tân khổ
mà không quý mình khinh người. Này Vô Nhuế, nếu có người hành khổ hạnh rồi
do hành khổ hạnh mà không quý mình khinh người. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như
vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà không
đến nhà người mà tự khen rằng ‘Tôi hành tân khổ, hành của tôi rất khó
khăn’. Này Vô Nhuế, nếu có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành
khổ hạnh tân khổ mà không đến nhà người mà tự khen rằng ‘Tôi hành tân khổ;
hành của tôi rất khó khăn’. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu
uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà nếu
thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lễ sự thì không
sanh lòng tật đố, nói rằng ‘Sao lại kính trọng, cúng dường, lễ sự Sa-môn,
Phạm chí ấy? Hãy nên kính trọng, cúng dường, lễ sự ta đây. Vì sao vậy? Vì
ta là người tu khổ hạnh’. Này Vô Nhuế, nếu có ai hành khổ hạnh một cách
tân khổ, rồi do hành khổ hạnh tân khổ mà nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được
người kính trọng, cúng dường, lễ sự thì không sanh lòng tật đố, nói rằng
‘Sao lại kính trọng, cúng dường, lễ sự Sa-môn, Phạm chí ấy? Hãy nên kính
trọng, cúng dường, lễ sự ta đây. Vì sao vậy? Vì ta là người tu khổ hạnh.’
Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà nếu
thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lễ sự thì không
đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng: ‘Sao ông lại được kính
trọng, cúng dường, lễ sự? Ông là người nhiều ham muốn, nhiều mong cầu,
thường ăn năm thứ hạt, hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh từ thân cây, hạt sanh
từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt. Ví như một trận mưa
lớn làm tổn hại năm thứ hạt giống, nhiễu loạn súc sanh và nhân dân,
Sa-môn, Phạm chí mà hay đến nhà người cũng giống như vậy!’ Này Vô Nhuế,
nếu có ai chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, rồi do chuyên hành khổ
hạnh tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng
dường, lễ sự mà không đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng:
‘Sao ông lại được kính trọng, cúng dường, lễ sự? Ông là người nhiều ham
muốn, nhiều mong cầu, thường ăn năm thứ hạt, hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh
từ thân cây, hạt sanh từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt.
Ví như một trận mưa lớn làm tổn hại năm thứ hạt giống, nhiễu loạn súc sanh
và nhân dân, Sa-môn, Phạm chí mà hay đến nhà người cũng giống như vậy.’ Vô
Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà không
sầu, không si, không khủng bố, không khủng cụ, không sống lén lút, không
nghi ngờ, không mất tiếng, không tham lam, không phóng dật. Này Vô Nhuế,
nếu ai chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, rồi do hành khổ hạnh tân khổ
mà không sầu, không si, không khủng bố, không khủng cụ, không sống lén
lút, không nghi ngờ, sợ mất tiếng, không tham lam, không phóng dật. Vô
Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà không
sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh, không biết tiết
hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt thì thông suốt. Này Vô
Nhuế, nếu ai chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hành khổ
hạnh tân khổ mà không sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó
tánh, không biết tiết hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt
thì thông suốt. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do hành khổ hạnh tân khổ mà không
có sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua siểm, dối trá, vô tàm, vô
quý. Này Vô Nhuế! Nếu có ai chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, do
chuyên hành khổ hạnh tân khổ mà không có sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh
tị, dua nịnh, dối trá, vô tàm, vô quý. Này Vô Nhuế! Hành khổ hạnh như vậy
là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hành khổ hạnh tân khổ
mà không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thô ác, không nói thêu
dệt, không có ác giới. Này Vô Nhuế, nếu ai chuyên hành khổ hạnh một cách
tân khổ, do chuyên hành khổ hạnh tân khổ nên không nói dối, không nói hai
lưỡi, không nói thô ác, không nói thêu dệt, không có ác giới. Này Vô Nhuế,
hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, hoặc
có người hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hành khổ hạnh tân khổ
mà có tín tâm, không giải đãi, có chánh niệm, chánh trí, không có ác tuệ.
Này Vô Nhuế, nếu có ai chuyên hành khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên
hành khổ hạnh tân khổ mà có tín tâm, không giải đãi, có chánh niệm, chánh
trí, không có ác tuệ. Vô Nhuế, hành khổ hạnh như vậy là không cấu uế.
“Này Vô Nhuế, Ta đã chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liễu khả tắng hoàn toàn
không bị vô lượng cấu uế làm ô nhiễm; có phải vậy không?”
Dị học Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm, đúng
vậy, Ngài đã chỉ cho tôi thấy cái hạnh bất liễu khả tắng hoàn toàn không
bị cấu uế làm ô nhiễm”.
Dị học Vô Nhuế lại
hỏi:
“Thưa Cù-đàm, hạnh
bất liễu tắng ố này đã đạt đến bậc nhất, đã đạt đến chân thật
chưa?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Vô Nhuế, hạnh
bất liễu tắng ố này chưa đạt đến bậc nhất, chưa đạt đến chân thật, nhưng
có hai hạnh đạt đến vỏ và đạt đến đốt”.
Dị học Vô Nhuế lại
hỏi:
“Thưa Cù-đàm! Thế
nào là hạnh bất liễu khả tắng này chỉ đạt đến vỏ ngoài?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Vô Nhuế, ở đây
hoặc có Sa-môn, Phạm chí tu tập bốn hạnh,
không sát sanh, không bảo người sát sanh, không đồng tình với người sát
sanh. Không trộm cắp, không bảo người trộm cắp, không đồng tình với người
trộm cắp. Không phạm con gái của người, không bảo người khác phạm con gái
của người, không đồng tình với người phạm con gái của người. Không nói
dối, không bảo người khác nói dối, không đồng tình với người nói dối. Vị
đó tu tập bốn hạnh này, ưa thích mà không tiến tới, tâm đi đôi với từ,
biến mãn cả một phương, thành tựu và an trụ. Như vậy cho đến hai, ba, bốn
phương, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới, phổ biến tất cả, tâm đi
đôi với từ, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn,
bao la, vô lượng, khéo tu tập biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu và an
trụ. Cũng như vậy, đối với bi, hỷ, tâm đi đôi với xả, không kết, không
oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn bao la, vô lượng, tu tập biến
mãn khắp cả thế gian, thành tựu và an trụ.
“Này Vô Nhuế, ý ông
nghĩ sao, phải chăng hạnh bất liễu khả tắng như vậy đạt đến vỏ ngoài?”
Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm! Bất
liễu khả tắng như vậy đạt đến vỏ ngoài. Thưa Cù-đàm, còn thế nào là hạnh
bất liễu khả tắng này đạt đến đốt?”
Đức Thế Tôn dạy:
“Này Vô Nhuế, hoặc có Sa-môn, Phạm chí tu tập bốn hạnh. Không sát sanh,
không bảo người sát sanh, không đồng tình với người sát sanh. Không trộm
cắp, không bảo người trộm cắp, không đồng tình với người trộm cắp. Không
phạm con gái của người, không bảo người khác phạm con gái của người, không
đồng tình với người phạm con gái của người. Không nói dối, không bảo người
khác nói dối, không đồng tình với người nói dối. Vị đó tu tập bốn hạnh
này, ưa thích mà không tiến tới. Sự tu tập ấy có hành, có tướng mạo, vị ấy
nhớ lại vô lượng kiếp đã trải qua, hoặc một đời, hai đời, trăm ngàn đời,
thành kiếp, hoại kiếp, vô lượng thành hoại kiếp, tại chỗ đó ta là chúng
sanh tên đó, ta đã trải qua ở đó, đã từng sanh ở đó, có họ như vậy, tên
như vậy, sinh hoạt như vậy, uống ăn như vậy, chịu khổ vui như vậy, tuổi
thọ như vậy, sống lâu như vậy, dứt thọ mạng như vậy, rồi chết đây sanh
kia, chết kia sanh đây. Ta sanh tại chỗ này như vậy, có họ như vậy, có tên
như vậy, sinh hoạt như vậy, uống ăn như vậy, chịu khổ vui như vậy, tuổi
thọ như vậy, sống lâu như vậy, dứt thọ mạng như vậy.
“Này Vô Nhuế, ý ông
nghĩ sao, hạnh bất liễu khả tắng như vậy có đạt đến đốt cây hay không?”
“Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm, hạnh
bất liễu khả tắng như vậy là đã đạt đến đốt cây. Thưa Cù-đàm, thế nào là
hạnh bất liễu khả tắng đạt đến bậc nhất, đạt đến chân thật?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Vô Nhuế, hoặc có Sa-môn, Phạm chí tu tập bốn hạnh. Không sát sanh,
không bảo người sát sanh, không đồng tình với người sát sanh. Không trộm
cắp, không bảo người trộm cắp, không đồng tình với người trộm cắp. Không
phạm con gái của người, không bảo người khác phạm con gái của người, không
đồng tình với người phạm con gái của người. Không nói dối, không bảo người
khác nói dối, không đồng tình với người nói dối. Vị đó tu tập bốn hạnh
này, ưa thích mà không tiến tới. Vị đó bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa
hơn người, nhìn thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, diệu
hoặc bất diệu, qua lại chỗ lành hoặc chỗ không lành, tùy theo nghiệp mà
chúng sanh ấy đã tạo. Vị ấy thấy sự kiện ấy đúng như thật, nếu chúng sanh
nào thành tựu ác hạnh về thân, ác hạnh về khẩu, ác hạnh về ý, phỉ báng
Thánh nhân, tà kiến, thành tựu nghiệp tà kiến; do nhân duyên đó, khi thân
hoại mạng chung, chúng sanh ấy chắc chắn đi đến chỗ ác, sanh vào địa ngục.
Nếu chúng sanh nào thành tựu diệu hạnh về thân, diệu hạnh về khẩu, diệu
hạnh về ý, không phỉ báng Thánh nhân, chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh
kiến; do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sanh ấy chắc chắn
đi lên chỗ lành, sanh vào cõi trời.
“Này Vô Nhuế, ý ông
nghĩ sao, hạnh bất liễu khả tắng như vậy có đạt đến bậc nhất, đạt đến chân
thật hay không?”
Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm, hạnh
bất liễu khả tắng như vậy là đã đạt đến bậc nhất, đạt đến chân thật. Thưa
Cù-đàm, phải chăng vì để thủ chứng hạnh bất liễu khả tắng này mà các đệ tử
của Sa-môn Cù-đàm nương tựa nơi Sa-môn Cù-đàm để tu hành phạm hạnh?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Vô Nhuế, không
phải vì để thủ chứng hạnh bất liễu khả tắng này mà đệ tử của Ta nương tựa
nơi Ta để tu hành phạm hạnh.
“Này Vô Nhuế, lại
còn có pháp khác tối thượng, tối diệu, tối thắng, chính vì để chứng đắc
pháp ấy nên đệ tử của Ta nương tựa nơi Ta mà tu hành phạm hạnh”.
Lúc đó, những Dị học
trong hội chúng ồn ào đó liền lớn tiếng la ó:
“Đúng vậy! Đúng vậy! Vì để chứng đắc pháp ấy nên đệ tử của Sa-môn Cù-đàm
nương tựa nơi Sa-môn Cù-đàm để mà tu hành phạm hạnh”.
Bấy giờ, Dị học Vô
Nhuế ra lệnh bảo hội chúng của mình im lặng, rồi hỏi:
“Thưa Cù-đàm, Pháp
nào được gọi là còn có pháp khác tối
thượng tối diệu, tối thắng; chính vì để chứng đắc pháp ấy nên đệ tử của
Sa-môn Cù-đàm nương tựa nơi Sa-môn Cù-đàm mà tu hành phạm hạnh?”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
đáp:
“Này Vô Nhuế, nếu
Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu
xuất hiện ở thế gian. Vị đó xả bỏ năm triền cái làm tâm ô uế, tuệ yếu kém,
ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng các đệ Tứ thiền, thành tựu và
an trụ. Vị ấy với định tâm như vậy, thanh tịnh không ô uế, không phiền
não, nhu nhuyến, khéo an trụ, chứng đắc tâm bất động mà thú hướng sự diệt
tận các lậu, tự thân chứng ngộ trí thông, biết như thật rằng ‘Đây là Khổ,
đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt, biết như thật đây là Khổ diệt đạo’. Cũng
biết như thật đây là lậu, biết đây là lậu tận, đây là lậu diệt, biết như
thật đây là lậu diệt đạo. Vị đó biết như vậy, thấy như vậy rồi thì tâm
giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, vô minh lậu. Giải thoát rồi
liền biết mình đã giải thoát, biết đúng một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Này Vô Nhuế, như
vậy gọi là còn có pháp khác tối thượng, tối diệu, tối thắng. Chính vì để
chứng đắc pháp ấy nên đệ tử của Ta nương nơi Ta mà tu hành phạm hạnh”.
Bấy giờ Cư sĩ Thật Ý
nói rằng:
“Này Vô Nhuế, Đức
Thế Tôn đang ở đấy. Ông hãy chỉ bằng một vấn đề đủ để hủy diệt Ngài như
lăn cái bình không đi! Ông hãy nói cái ví dụ con trâu đui ăn cỏ nơi biên
địa như khi nãy đi!”
Đức Thế Tôn nghe
xong, hỏi Dị học Vô Nhuế:
“Quả thật ông có nói
như vậy không?”
Dị học Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm, quả
thật tôi có nói như vậy”.
Đức Thế Tôn hỏi
tiếp:
“Đức Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác ở quá khứ, nếu gặp khu rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc
cây hay trên sườn núi cao, vắng lặng không có tiếng động, xa vắng, không
có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Đức Phật
Thế Tôn ở nơi rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay trên sườn cao, vắng
lặng không có tiếng động, xa vắng, không có sự dữ, không có người đời,
liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Ngài ở nơi xa vắng, thường thích thiền
tọa, an ổn và khoái lạc. Các Ngài chưa hề một ngày một đêm tụ tập hội họp
cùng mọi người như ông và quyến thuộc của ông hôm nay. Này Vô Nhuế, ông có
bao giờ nghe các vị trưởng lão cựu học nói như vậy không?”
Dị học Vô Nhuế đáp:
“Đức Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác ở quá khứ, nếu gặp khu rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc
cây hay trên sườn núi cao, vắng lặng, không có tiếng động, xa vắng, không
có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Đức Phật
Thế Tôn ở nơi rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay trên sườn núi cao, vắng
lặng, không có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các
Ngài ở nơi xa vắng, thường thích thiền tọa, an ổn khoái lạc. Các Ngài chưa
hề một ngày một đêm tụ tập, hội họp cùng mọi người như tôi và quyến thuộc
của tôi hôm nay. Thưa đức Cù-đàm, tôi có nghe các vị trưởng lão cựu học
nói như vậy”.
“Này Vô Nhuế, ông há
không nghĩ rằng ‘Như các Đức Thế Tôn đó ở nơi rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc
cây hay trên sườn núi cao, vắng lặng, không có tiếng động, xa vắng, không
có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Ngài ở nơi
xa vắng thường thích thiền tọa, an ổn khoái lạc. Vị Sa-môn Cù-đàm này cũng
học đạo chánh giác như vậy’. Có phải vậy không?”
Dị học Vô Nhuế đáp:
“Thưa Cù-đàm, nếu
tôi biết như vậy, tôi đã chẳng nói rằng chỉ bằng một vấn đề cũng đủ hủy
diệt Ngài như lăn cái bình không, và cũng đã chẳng nói đến cái ví dụ con
trâu đui ăn cỏ nơi biên địa”.
Đức Thế Tôn nói:
“Này Vô Nhuế, ta có
pháp thiện tương ưng với thiện, giải thoát tương ưng với giải thoát, có
thể tự thân chứng ngộ. Do đây mà Như Lai tự xưng là Bậc Vô Úy. Các Tỳ-kheo
đệ tử của Ta, ai đến với tâm không dua nịnh, không lừa dối, chất trực
không hư vọng, Ta giáo huấn cho và theo giáo huấn ấy, chắc chắn sẽ đạt đến
cứu cánh trí.
“Này Vô Nhuế, nếu
ông nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đàm vì muốn làm Thầy cho nên thuyết pháp’. Ông
chớ nghĩ như vậy. Thầy ông Ta trả lại cho ông. Ta chỉ thuyết pháp cho nghe
thôi. Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đàm vì tham đệ tử cho nên
thuyết pháp’. Ông chớ nghĩ như vậy. Đệ tử của ông trả lại cho ông, Ta chỉ
thuyết pháp cho ông nghe thôi. Này Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Sa-môn
Cù-đàm vì tham sự cúng dường cho nên thuyết pháp’ Ông chớ nghĩ như vậy. Đồ
cúng dường trả lại cho ông, ta chỉ thuyết pháp cho ông nghe thôi. Này Vô
Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đàm vì tham được khen ngợi cho nên
thuyết pháp’. Ông chớ nghĩ như vậy. Điều khen ngợi trả lại cho ông, Ta chỉ
thuyết pháp cho ông nghe thôi. Này Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Nếu ta có
thiện pháp tương ưng thiện, giải thoát đưa đến giải thoát, vì Sa-môn
Cù-đàm này đoạt của ta, hủy diệt ta’. Ông chớ nghĩ như vậy. Pháp của ông
trả lại cho ông, Ta chỉ thuyết pháp cho ông nghe thôi”.
Lúc bấy giờ tất cả
hội chúng đều im lặng. Vì sao vậy? Vì họ bị Ma vương chế phục.
Khi ấy Đức Thế Tôn
bảo Cư sĩ Thật Ý:
“Ông hãy nhìn tất cả
hội chúng đang im lặng này. Vì sao vậy? Vì họ đang bị Ma vương chế phục.
Nó khiến cả hội chúng Dị học không có một Dị học nào có ý niệm ‘Ta hãy thử
theo Sa-môn Cù-đàm tu hành phạm hạnh’.”
Đức Thế Tôn biết
vậy, Ngài thuyết pháp cho Cư sĩ Thật Ý nghe, khuyến phát khát ngưỡng,
thành tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho ông
ấy nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ rồi, Ngài liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, nắm tay Cư sĩ Thật Ý, vận dụng thần túc, nương hư không mà
đi.
Phật thuyết như vậy.
Cư sĩ Thật Ý sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 9
97 |
98 |
99 |
100 |
101 |
102 |
103 |
104 |
105 |
106
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003